sáng kiến kinh nghiệm nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở trường trung học phổ thông xuân mỹ, huyện cẩm mỹ, tỉnh đồng nai giai đoạn 2016 2020 - Pdf 37

BM 01-Bia SKKN

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị Trường THPT Xuân Mỹ
Mã số: ................................
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ cơ sở
ở trường Trung học phổ thông Xuân Mỹ, huyện
Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2016 – 2020

Người thực hiện: Đỗ Huy Khánh
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục



- Phương pháp dạy học bộ môn: ............................. 
(Ghi rõ tên bộ môn)

- Lĩnh vực khác: ....................................................... 
(Ghi rõ tên lĩnh vực)

Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
 Mô hình
 Đĩa CD (DVD)
 Phim ảnh  Hiện vật khác
(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)

Năm học: 2015 - 2016


7. Chức vụ:

Hiệu trưởng

ĐTDĐ:

0975.167.225

8. Nhiệm vụ được giao: Quản lý giáo dục
9. Đơn vị công tác:

Trường THPT Xuân Mỹ

II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Thạc sỹ
- Năm nhận bằng: 2002, 2011, 2013, 2016.
- Chuyên ngành đào tạo: Thạc sỹ Quản lý giáo dục, Cử nhân Ngữ Văn, Cử
nhân Giáo dục chính trị, Cao cấp lý luận chính trị.
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy, quản lý
- Số năm có kinh nghiệm: 14 năm
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
1. Một số giải pháp quản lý để đổi mới, phát triển giáo dục – đào tạo tại trường
THPT Xuân Mỹ.
2. Nâng cao hiệu quả giảng dạy trong một tiết văn học sử”.
3. Thực trạng về công tác kiểm tra nội bộ tại trường THPT Xuân Mỹ, nguyên
nhân và các giải pháp khắc phục.
4. Hiệu trưởng quản lý trang thiết bị giáo dục tại trường THPT Xuân Mỹ,
huyện cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.

Cuộc đấu tranh cho dân chủ được mở đầu bằng các cuộc đấu tranh, vận động
tư tưởng – văn hóa sôi nổi, rộng lớn mà điển hình là phong trào Phục hưng ở Châu
Âu (từ thế kỉ XIV đến thế kỉ XVI). Phong trào này gắn với những tên tuổi vĩ đại,
“những con người khổng lồ” như Côpecnic, Sếchxpia, Lêôna Đơvanhxi… Nó đã
khẳng định vị trí của con người thực sự với tư cách là chủ thể sáng tạo của xã hội.
Đồng thời, thể hiện những yêu cầu đòi tự do trong tư tưởng và dân chủ trong văn
hóa, trong khoa học, chống lại sự ảnh hưởng chi phối của chủ nghĩa kinh viên, chủ
nghĩa thầy tu và thần học. Các nhà triết học khai sáng với những tên tuổi như:
Vonte (1694-1778), Rútxô (1712-1778), Điđơrô (1713-1784) đã đưa ra những tư
tưởng về xây dựng một nhà nước cộng hòa dân chủ.
6


Tiếp nối truyền thống đấu tranh đó, giai cấp tư sản – một giai cấp tiến bộ
đang lên lúc bấy giờ đã giương cao ngọn cờ “tự do, bình đẳng, bác ái”, tập hợp lực
lượng đông đảo để lật đổ chế độ phong kiến hà khắc, thiết lập quyền lực chính trị
của giai cấp tư sản. Cuộc cách mạng tư sản thắng lợi (tiêu biểu là cuộc Cách mạng
tư sản Pháp, năm 1789) đã thiết lập một chế độ dân chủ mới – dân chủ tư sản.
Dân chủ tư sản ra đời đánh dấu bước tiến mới trong lịch sử phát triển của
chế độ dân chủ. Giai cấp tư sản, trong buổi ban đầu của mình có vai trò to lớn
trong việc xóa bỏ tất cả những chuẩn mực hà khắc trói buộc con người trong xã hội
phong kiến, “đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn những lực
lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”.
Song về thực chất, nền dân chủ tư sản mang bản chất của giai cấp tư sản. Nó
bảo vệ địa vị chính trị và lợi ích kinh tế của giai cấp tư sản; đồng thời nó chống lại
những tư tưởng tự do, bình đẳng của giai cấp vô sản và toàn thể nhân dân lao động.
Dân chủ tư sản chỉ là dân chủ cho thiểu số, cho giai cấp tư sản mà thôi. Vì vậy, nó
không phải là nền dân chủ của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. V.I. Lênin đã
vạch trần sự giả dối của nền dân chủ tư sản: “chế độ dân chủ tư sản, tuy là một
bước tiến bộ trong lịch sử vĩ đại so với thời trung cổ, song trước sau nó vẫn là – và

bên là dạ dày của người công nhân. Mác và Ăngghen còn chỉ rõ bản chất của giai
cấp tư sản và phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã “không để lại giữa người
và người một mối quan hệ nào khác, ngoài lợi ích trần trụi và lối “tiền trao cháo
múc” không tình nghĩa. Do đó, điều kiện tất yếu của giai cấp vô sản là phải thực
hiện một cuộc cách mạng, để giành lấy chính quyền trong giai đoạn thứ nhất của
cuộc cách mạng.
Dân chủ là sản phẩm của quyền tự quyết của nhân dân: Nó phản ánh sự tồn
tại của con người với ý chí, tài năng và lợi ích của họ. Theo Mác và Ăngghen thì
dân chủ phải hướng đến một cơ sở hiện thực, với những con người hiện thực chứ
không chỉ dừng lại ở những lời tuyên bố, dân chủ hình thức.
Sau này Lênin là người kế thừa xuất sắc những giá trị tư tưởng của Mác và
Ăngghen trong đó có tư tưởng về dân chủ. Theo Lênin, dân chủ có nghĩa là tự do
bình đẳng, là quyền quyết định của đa số. Ở đâu có áp bức, bất công thì ở đó không
thể có tự do, không thể có bình đẳng và càng không thể có dân chủ. Lênin cho
rằng, Cách mạng tư sản thành công là một bước tiến mới về dân chủ, nhưng với
bản chất kinh tế là chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất nên đã dẫn tới một xã hội
ngày càng mất dân chủ. Do đó, giai cấp vô sản cần phải làm một cuộc cách mạng
8


nhằm lật đổ giai cấp tư sản, thực hiện quyền lực của nhân dân, xây dựng một nền
dân chủ thực sự tốt đẹp cho toàn thể nhân dân lao động.
2.1.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về dân chủ
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ
Tư tưởng về dân chủ là một trong những nội dung quan trọng trong hệ thống
tư tưởng Hồ Chí Minh. Người nghiên cứu nhiều cuộc cách mạng trên thế giới, đặc
biệt từ nghiên cứu cách mạng tư sản Pháp và cách mạng tư sản Mỹ, Người đi đến
kết luận: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản,
cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước
lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”. Cho đến nay “Chỉ có cách mệnh

Dân chủ là mục tiêu, là động lực to lớn trong cuộc đấu tranh giành độc lập,
tự do cho dân tộc, cho nhân dân lao động.
Hồ Chí Minh luôn hướng tới việc xây dựng một chế độ dân chủ tiến bộ, xây
dựng nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân, để nhân dân được thể hiện quyền
dân chủ mọi lúc, mọi nơi, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Người luôn nhắc nhở
rằng, khi cách mạng thành công thì phải giao quyền lực cho “dân chúng số nhiều”
và không nên để trong tay “một bọn ít người”, có như thế mới tránh khỏi hi sinh
nhiều lần, dân chúng mới thực sự được hạnh phúc. Dân chủ gắn liền với thực hiện
bình đẳng, công bằng và tự do nên cũng đồng thời gắn liền với nhà nước. Do đó,
xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân cũng chính là xây dựng nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa.
Người cũng cho rằng thực hành dân chủ cũng là yếu tố quan trọng không thể
thiếu. Mục đích của việc thực hành dân chủ là làm cho dân chúng ai cũng được
hưởng quyền tự do, dân chủ. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Làm sao biết hưởng
quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ, dám nói dám làm”, là vấn đề cần thiết và
quan trọng. Do đó, cần phải giáo dục cho nhân dân hiểu quyền làm chủ của mình
mọi lúc, mọi nơi. Khi dân biết và dám phê bình người lãnh đạo, khi ấy dân đã biết
nắm quyền dân chủ của mình, đã biết thực hành dân chủ. Hồ Chí Minh khẳng định:
“Thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thế giải quyết mọi khó khăn”.
Đây là tư tưởng thể hiện tinh thần dân chủ của Hồ Chí Minh.
2.1.4.Quan điểm của Đảng về dân chủ
Phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân là một trong những nội dung
quan trọng và nhất quán trong đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Quyền làm chủ của nhân dân không phải chỉ nêu một cách chung chung, trừu
tượng mà được khẳng định trên thực tế, thể hiện trong Hiến pháp và Pháp luật,
10


trong các văn kiện Đại hội Đảng. Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
(1946) đã ghi rõ: “Tất cả binh quyền trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam



mọi người phát triển toàn diện. Nâng cao năng lực và tạo cơ chế để nhân dân thực
hiện quyền làm chủ, nhất là dân chủ trực tiếp để phát huy mạnh mẽ mọi khả năng
sáng tạo và bảo đảm đồng thuận cao trong xã hội, tạo động lực phát triển đất nước.

2.1.5. Quy chế dân chủ ở cơ sở nói chung và ở các trường học nói riêng
Đất nước ta trong thời kỳ đổi mới đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ,
từ một nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung - bao cấp, chuyển sang nền kinh tế thị
trường. Bên cạnh những thành công về phát triển kinh tế, đổi mới xã hội, chúng ta
vẫn còn những tồn tại và hạn chế, yếu kém, tình trạng tham ô, tham nhũng xảy ra
ngày càng phức tạp, làm suy yếu nền kinh tế, làm nghèo đất nước. Đối với xã hội
thì việc thực hiện pháp luật còn chưa nghiêm, kỷ cương xã hội bị buông lỏng kéo
dài, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự xã hội. Ở một số nơi cán bộ ở cơ sở đã
lợi dụng chức quyền, nhũng nhiễu nhân dân, do đó đã gây mất lòng tin trong nhân
dân; phát sinh ra mâu thuẫn nội bộ, gây mất đoàn kết trong một số địa phương, gây
ra tình trạng khiếu kiện tập thể ngày càng gia tăng; Quyền làm chủ của nhân dân bị
vi phạm ở nhiều địa phương; nhiều lĩnh vực; tệ quan liêu, sách nhiễu, gây phiền hà
cho dân vẫn đang diễn ra phổ biến.... Đứng trước thực trạng mất dân chủ ở một số
nơi, Đảng ta đã nhận thức được vai trò của việc thực hiện dân chủ ở cơ sở trong sự
ổn định kinh tế, chính trị, xã hội đối với sự phát triển đất nước. Tại Hội nghị Ban
chấp hành Trung ương lần thứ 3 (khoáVIII) Đảng đã yêu cầu phát huy mạnh mẽ
quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội;
Đảng nhận định: phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” chưa
được thể chế hoá thành pháp luật, cho nên phương châm đó đã chậm đi vào cuộc
sống, quyền làm chủ của nhân dân chưa được thực hiện, thậm chí bị xâm phạm.
Để triển khai đồng bộ, toàn diện và cụ thể việc phát huy quyền làm chủ của
nhân dân, ngày 18/2/1998, Ban chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị 30-CT/TW
về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở được xác định bao gồm 3 loại
hình: xã, phường, thị trấn; cơ quan hành chính Nhà nước và đơn vị sự nghiệp công

Những việc cán bộ, công chức, viên chức tham gia ý kiến: Chủ trương, giải
pháp thực hiện nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước liên quan đến công
việc của cơ quan, đơn vị; kế hoạch công tác hàng năm, tổ chức phong trào thi đua,
báo cáo sơ kết, tổng kết của cơ quan, đơn vị; các biện pháp cải tiến tổ chức, hoạt
động và lề lối làm việc; phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng
phí, chống quan liêu, phiền hà, sách nhiễu nhân dân; kế hoạch tuyển dụng, đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; bầu cử, bổ nhiệm cán bộ, công chức, viên
chức; các chế độ, chính sách liên quan đến quyền và lợi ích của cán bộ, công chức,
viên chức; các nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị.
14


Những việc cán bộ, công chức, viên chức giám sát, kiểm tra: Thực hiện chủ
trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, kế hoạch công tác hàng
năm của cơ quan, đơn vị; sử dụng kinh phí hoạt động, chấp hành chính sách, chế
độ quản lý và sử dụng tài sản, thực hiện các nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị,
các chế độ, chính sách của Nhà nước về quyền và lợi ích của cán bộ, công chức,
viên chức; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong nội bộ cơ quan, đơn vị.
Ngoài ra còn có các quy định về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan,
đơn vị, trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong quan hệ và giải quyết
công việc với công dân, cơ quan, tổ chức có liên quan
2.2. Cơ sở chính trị, pháp lý
2.2.1. Cơ sở chính trị
- Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam
năm 2011.
- Chỉ thị số 30- CT/TW ngày 18/02/1998 "Về xây dựng và thực hiện quy chế
dân chủ ở cơ sở" của Bộ Chính trị.
- Chỉ thị số 10-CT/TW, ngày 30 tháng 3 năm 2007 của Ban Bí Thư Trung ương
về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ.
- Thông báo số 159 – TB/TW, ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Ban Bí thư về

376

297

345

KH năm học 2015 2016

1016

382

354

280

2.4.2. Thực trạng triển khai, thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở trường
Trung học phổ thông Xuân Mỹ
2.2.1. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Chi bộ, Hiệu trưởng nhà trường
Sau khi có Chỉ thị số 30-CT/TW, Chi ủy, Hiệu trưởng nhà trường đã tổ chức
triển khai thực hiện đến toàn thể cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và đến
16


toàn thể phụ huynh học sinh cũng như các em học sinh trong trường các văn bản có
liên quan, gồm: Nghị định số 71/1998/NĐ-CP của chính phủ ban hành Quy chế
thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan nay là Nghị định số 04/2015/NĐCP ngày 09/01/2015 của Chính phủ về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ
quan hành chính Nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập. Quyết định số
04/2000/QĐ-BGDĐT ngày 01/3/2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về
việc ban hành “Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường".

tố cáo.
- Công khai các khoản đóng góp của học sinh, việc sử dụng kinh phí và chấp
hành chế độ thu chi quyết toán theo quy định hiện hành.
- Giải quyết các chế độ quyền lợi, đời sống vật chất, tinh thần cho nhà giáo,
cán bộ, công chức, cho học sinh.
- Việc thực hiện nâng bậc lương, thuyên chuyển, điều động, đề bạt khen
thưởng, kỷ luật. Những vấn đề tuyển sinh, và thực hiện quy chế từng năm học. Báo
cáo sơ kết, tổng kết đánh giá công chức hàng năm.
- Những việc học sinh được biết: Chủ trương chế độ chính sách của nhà
nước, của ngành và những quy định của trường đối với học sinh (nhất là tiêu chuẩn
đánh giá xếp loại, hình thức khen thưởng và kỷ luật). Kế hoạch tuyển sinh, kế
hoạch đào tạo của Trường hàng năm. Những thông tin có liên quan tới việc học
tập, rèn luyện sinh hoạt và các khoản đóng góp theo quy định.
- Những việc học sinh tham gia ý kiến: Nội quy, quy định của nhà trường có
liên quan đến học sinh. Tổ chức phong trào thi đua và các hoạt động khác trong
nhà trường có liên quan đến học sinh. Việc tổ chức giảng dạy, học tập trong nhà
trường có liên quan đến quyền lợi học tập của học sinh.
2.4.3. Kết quả xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ
Về trách nhiệm của người đứng đầu
Hiệu trưởng nhà trường đã thực hiện dân chủ trong quản lý, điều hành hoạt
động của trường. Trong các hoạt động của nhà trường luôn đưa ra lấy ý kiến tập
thể. Điển hình như việc lựa chọn điển hình tiên tiến của đơn vị giai đoạn 2010 –
2015, Hiệu trưởng đã tổ chức họp hội đồng, nêu thành tích của những cá nhân ưu
tú, sau đó tiến hành bỏ phiếu kín để chọn ra cá nhân xứng đáng là điển hình tiên
tiến của đơn vị được nhận giấy khen của Sở giáo dục vào tháng 5 năm 2015. Trong
quản lý, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ,
công chức, viên chức cũng thể hiện rõ sự dân chủ. Ví dụ như giáo viên đi học nâng
18



khai để giáo viên, công nhân viên nhà trường biết. Hiệu trưởng cũng đã tổ chức lấy
19


ý kiến đối với những việc mà công chức, viên chức tham gia đóng góp ý kiến. Ví
dụ như việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ được đưa ra thảo luận tại Hội nghị
công chức, viên chức đầu năm học.
Tổ chức Hội nghị cán bộ, công chức, viên chức: đối với cơ sở giáo dục, Hội
nghị cán bộ, công chức, viên chức thường được tổ chức vào thời điểm giữa tháng
10. Hàng năm, trường THPT Xuân Mỹ đều tổ chức hội nghị cán bộ công chức,
viên chức theo đúng quy định mà Nghị định đã hướng dẫn. Năm 2015, trường đã
xây dựng kế hoạch tổ chức hội nghị vào ngày 12 tháng 10 năm 2015.

Về trách nhiệm của giáo viên, công nhân viên nhà trường
Hầu hết giáo viên, công nhân viên nhà trường chấp hành nội quy, quy chế
làm việc của cơ quan. Về vấn đề thực hành tiết kiệm, chống lãng phí vẫn chưa
được thực hiện tốt. Ví dụ như việc tiết kiệm điện, giáo viên và học sinh vẫn chưa
có ý thức tự giác tắt hết các thiết bị điện khi ra khỏi phòng. Nhà trường chưa giáo
dục tốt cho học sinh về ý thức bảo vệ tài sản công.
Về vấn đề thực hiện các quy định về nghĩa vụ, đạo đức, văn hoá giao tiếp,
quy tắc ứng xử, nguyên tắc trong hoạt động nghề nghiệp đa số thực hiện tốt, tuy
nhiên vẫn còn một vài giáo viên cư xử chưa đúng mực, xưng hô không đúng với
học sinh, trang phục khi đến cơ quan không phù hợp.
Việc thực hiện phê bình và tự phê bình chưa nghiêm túc và có hiệu quả. Vào
cuối năm học, nhà trường có tổ chức cuộc họp đánh giá cuối năm, trong đó từng
thành viên sẽ tự nêu những ưu, khuyết điểm của mình và được các thành viên khác
đóng góp vào bản nhận xét. Tuy nhiên việc làm này chỉ mang tính hình thức. Mọi
người e ngại mất lòng, cả nể nhau nên không phê bình thẳng thắn, đồng thời người
tự phê bình cũng chưa nêu rõ được những ưu điểm cũng như khuyết điểm của
mình. Các bản nhận xét đều chỉ mang tính chung chung có nội dung gần giống

Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo được niêm yết tại
bản tin của nhà trường. Các nội quy, quy chế của nhà trường đều được đem ra lấy
ý kiến tập thể và niêm yết tại trường, đồng thời đưa lên trang thông tin điện tử của
trường cũng như gửi văn bản cho từng thành viên.
Trong quá trình thực hiện qui chế dân chủ tại đơn vị, Hiệu trưởng nhà
trường luôn tiếp thu ý kiến đóng góp của tập thể cán bộ, công chức, viên chức
21


trong những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của người đứng đầu cơ quan để
từ đó có những điều chỉnh cho phù hợp.
Về những việc viên chức tham gia ý kiến
Hầu hết giáo viên, công nhân viên của trường thờ ơ, không tham gia đóng
góp ý kiến với những nội dung được yêu cầu. Hiệu trưởng cũng chỉ đưa ra lấy ý
kiến một số nội dung một cách hình thức, làm chiếu lệ. Một số nội dung không hề
đưa ra lấy ý kiến như báo cáo sơ kết, tổng kết, kế hoạch tuyển dụng… Hầu như
nhà trường chỉ tổ chức lấy ý kiến thông qua hội nghị cán bộ, công chức, viên chức
nhưng giáo viên rất ít đóng góp ý kiến, hầu hết là đồng ý với những nội dung cấp
trên nêu ra.
Về những việc cán bộ, công chức, viên chức giám sát, kiểm tra
Vấn đề này được thực hiện khá tốt. Thanh tra nhân dân của nhà trường làm
việc tích cực, phối hợp cùng với Công đoàn để kiểm tra việc thực hiện quy chế
chuyên môn, nội quy cơ quan. Có báo cáo tổng kết hàng tháng để chấm thi đua.
Định kỳ kiểm tra việc sử dụng kinh phí hoạt động, chấp hành chính sách, chế độ
quản lý và sử dụng tài sản của cơ quan…báo cáo kết quả sau đợt kiểm tra trong
cuộc họp hội đồng, niêm yết tại bảng tin và tổng kết các nội dung kiểm tra trong
hội nghị cán bộ, công chức, viên chức.
Về dân chủ trong quan hệ và giải quyết công việc với công dân, cơ quan,
đơn vị, tổ chức có liên quan
Hiệu trưởng đã chỉ đạo niêm yết tại đơn vị quy chế tiếp công dân và các thủ

Về quan hệ giữa người đứng đầu cơ quan với cơ quan, đơn vị cấp dưới
Hiệu trưởng luôn thông báo bằng văn bản đến các bộ phận các chủ trương,
chính sách, pháp luật liên quan đến hoạt động của đơn vị. Thường xuyên kiểm tra
hoạt động của các bộ phận trong nhà trường.
Luôn giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc và các đề xuất của các
bộ phận.
2.4.4. Nhận xét, đánh giá
Ưu điểm
Trường Trung học phổ thông Xuân Mỹ đã quan tâm kết hợp triển khai thực
hiện quy chế dân chủ ở cơ sở gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị, các phong trào
thi đua; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải tiến nội dung, phương pháp làm việc,
giáo dục nâng cao tinh thần trách nhiệm và thái độ phục vụ nhân dân của cán bộ,
công chức; xây dựng và ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong nội bộ cơ quan,
23


đồng thời tổ chức quán triệt, phổ biến đầy đủ nội dung quy chế đến tất cả cán bộ,
công chức, viên chức để triển khai thực hiện.
Những nội dung cán bộ, công chức, viên chức được biết, được bàn và tham
gia ý kiến trước khi cấp có thẩm quyền quyết định được triển khai thực hiện
nghiêm túc, công khai, dân chủ; quyền làm chủ của cán bộ, công chức, viên chức
được phát huy tích cực; đồng thời thông qua đó, cán bộ, công chức, viên chức đã
thể hiện đầy đủ trách nhiệm của mình trong việc tham gia xây dựng và thực hiện
các nội quy, quy chế của cơ quan cũng như nghĩa vụ đối với Nhà nước, tích cực
phòng chống tham nhũng, tiêu cực, chống lãng phí.
Hiệu trưởng nhà trường đã thực hiện đúng trách nhiệm của người đứng đầu
trong việc triển khai thực hiện quy chế dân chủ ở cơ quan. Các chế độ, chính sách
đối với cán bộ, công chức được thực hiện khá tốt, khách quan, công bằng; tôn
trọng, lắng nghe ý kiến của cán bộ, công chức và không có hành vi trù dập đối với
cán bộ, công chức đã góp ý, phê bình; giải quyết kịp thời các khiếu nại và thực

cũng như từ phía lãnh đạo mặc dù có nhiều chuyển biến nhưng chưa thật sâu sắc,
đầy đủ, đồng bộ. Do đó, giữa Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở và yêu cầu thực tế
của quá trình dân chủ hóa vẫn còn khoảng cách lớn.
Việc thực hiện quy chế dân chủ ở trường Trung học phổ thông Xuân Mỹ vẫn
còn biểu hiện thiếu dân chủ, hoặc còn có tình trạng thiếu trách nhiệm trong giải
quyết công việc.
Hiện nay, ở trường có hòm thư góp ý nhưng rất hình thức, chỉ là làm cho
có, chẳng có ý nghĩa, tác dụng gì nhiều. Tâm lý người góp ý e ngại sẽ chẳng ai giải
quyết. Hình thức góp ý trực tiếp với người có thẩm quyền giải quyết cũng không
có tác dụng nhiều lắm, xuất phát từ tâm lý lo ngại hoặc sợ bị trù dập.
Việc giải đáp các ý kiến và giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo theo luật
định cũng chưa được quan tâm đúng mức. Định kỳ mỗi năm ít nhất một lần nhà
trường gặp gỡ đại diện của người học để nghe và trao đổi giải quyết những vấn đề
về giảng dạy, học tập, rèn luyện, chế độ, chính sách, về đời sống vật chất, tinh thần
và những vấn đề khác trong nhà trường. Tất cả những nội dung này được quy định
cụ thể, rõ ràng trong Quyết định số 04/2000/QĐ-BGD & ĐT nhưng việc tổ chức
thực hiện còn khá hình thức.
Trong phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” thì kiểm tra
là khâu yếu nhất. Thực tế kiểm tra, giám sát của người học, của cán bộ, giáo viên
chỉ phát huy tác dụng trong phạm vi những chương trình, chế độ, chính sách liên
quan trực tiếp, thiết thực đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ. Hoạt động của ban thanh
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status