1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THANH HẢI
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN
QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60.31.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: TS Đinh Trung Thành
Long An
An -
2015
2015
2
MỤC LỤC
Trang
Danh mục các chữ viết tắt
CHƯƠNG 2. Thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong trường THPT
39
trên địa bàn thành phố Tân An, tỉnh Long An
2.1. Khái quát về các trường THPT trên địa bàn thành phố Tân An,
39
tỉnh Long An
2.2. Thực trạng thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong trường THPT41
trên địa bàn Thành phố Tân An,
2.3. Những khó khăn, hạn chế trong quá trình thực hiện Quy chế dân chủ
52
cơ sở trong trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Tân An,
tỉnh Long An
CHƯƠNG 3. Quan điểm và một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu 61
quả Quy chế dân chủ cơ sở trong trường THPT trên địa bàn
thành phố Tân An, tỉnh Long An hiện nay
3.1 Quan điểm thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong trường THPT trên
61
địa bàn thành phố Tân An, tỉnh Long An
3.2. Một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ cơ
CNXH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNH, HĐH
Giáo dục và Đào tạo
GD&ĐT
Trung học phổ thông
THPT
Xã hội chủ nghĩa
XHCN
A. MỞ ĐẦU
4
1. Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang thực hiện công cuộc đổi mới, đòi hỏi phải phát huy được quyền
làm chủ của nhân dân, người dân tham gia quản lý nhà nước, khắc phục tình trạng suy thoái, quan
liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng.
Ngày 04-03-2010, Kết luận số 65-KL/TW của
bầu không khí dân chủ trong các trường học, góp phần vào việc dạy tốt, học tốt. Tuy nhiên cũng
giống như nhiều cơ quan, đơn vị thuộc nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác, vẫn còn có trường học
triển khai chậm hoặc triển khai hình thức. Có trường do thiếu dân chủ dẫn đến gây mất đoàn kết,
khiếu kiện. Điều đó ảnh hưởng không tốt tới chất lượng dạy và học, đến uy tín của ngành giáo dục
đối với xã hội, đối với nhân dân.
Thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ cơ sở, phát huy được quyền làm
chủ của cán bộ, giáo viên, nhân viên trong các trường THPT vẫn là một đòi hỏi, một yêu cầu
cấp bách của sự nghiệp đổi mới trong ngành GD&ĐT ở Long An nói chung, ở các trường THPT
trên địa bàn thành phố Tân An nói riêng. Vì vậy đề tài “Nâng cao hiệu quả thực hiện Quy chế
dân chủ cơ sở trong trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Tân An, tỉnh Long An”
nhằm góp phần nghiên cứu vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết đó.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Dân chủ, dân chủ cơ sở, Quy chế dân chủ cơ sở là vấn đề được nhiều nhà
khoa học, những người làm công tác lý luận quan tâm ở những góc độ, khía
cạnh khác nhau. Đã có nhiều văn bản, chỉ thị về vấn đề dân chủ, Q uy chế dân chủ
cơ sở và ý thức, trách nhiệm thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở được triển khai.
Ngày 18/02/1998, Bộ Chính trị ra “Chỉ thị 30CT/TW về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”,
Chỉ thị đã khẳng định: “Mở rộng dân chủ xã hội chủ
nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân là mục
tiêu, đồng thời là động lực bảo đảm cho thắng lợi của
cách mạng, của công cuộc đổi mới”. Thực hiện Chỉ thị
30-CT/TW và các quy định, hướng dẫn của Trung ương,
trong những năm qua, các địa phương trong cả nước đã
tích cực đưa Quy chế dân chủ cơ sở vào cuộc sống, góp
phần tạo nên những bước chuyển biến mạnh mẽ trên tất
cả các lĩnh vực.
dân chủ trong đời sống còn khó khăn và phức tạp hơn.
7
Những vấn đề về mục tiêu, động lực, nội dung, hình
thức và phương pháp; nguyên nhân, kinh nghiệm, nguyên
tắc, phương châm và bước đi của dân chủ hóa luôn là
những vấn đề khó khăn và mới mẻ đòi hỏi phải giải
quyết.
- “Dân chủ - một giá trị văn hoá”, Tác giả Hồ Sĩ Vịnh, Tạp chí Tuyên giáo,
Thứ Sáu 25/11/2011 khẳng định, ở nước ta không có chuyện nhân quyền, dân
chủ cao hơn chủ quyền quốc gia như một số kẻ xấu thường rao giảng. Truyền
thống cộng đồng nhà, làng, nước là một cấu trúc bền vững có quan hệ hữu cơ
với nhau. Nước mất thì nhà tan, dân khổ; nước thịnh thì nhà yên, dân cường.
Truyền thống dựng nước và giữ nước của cha ông cho chúng ta bài học về
quyền dân chủ, quyền con người…
- “Dân chủ XHCN là mục tiêu và động lực của công
cuộc đổi mới đất nước”, GS, TS. Phạm Ngọc Quang, Tạp
chí Quốc phòng toàn dân, số 4 năm 2010. Bài viết nêu
rõ, dân chủ XHCN là bản chất của chế độ ta; vừa là
mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước,
thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và
nhân dân. Quan điểm đó là sự kế thừa, bổ sung, phát
triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ XHCN và là kết quả
phù hợp với lôgíc phát triển tư duy lý luận của Đảng
ta về dân chủ trong quá trình đổi mới đất nước.
- “Dân chủ XHCN – Bản chất của chế độ, mục tiêu và động lực phát triển
đất nước”, GS. TS Hoàng Chí Bảo, báo Nhân Dân số ra ngày 29 tháng 2 năm
suốt quá trình hoạt động lý luận và thực tiễn chỉ đạo cách mạng Việt Nam, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã xác lập và hiện thực hóa hệ thống quan điểm về dân chủ
trong tổ chức xây dựng xã hội mới trên tất cả các lĩnh vực. Tư tưởng của Người
về dân chủ trong chính trị đã trở thành một bộ phận văn hóa của dân tộc Việt
Nam.
- “Nhìn lại 10 năm thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị
9
trấn”, Huỳnh Đảm, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 9/7/2008, đã làm rõ
thực trạng 10 năm thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn, quyền làm
chủ của nhân dân ở các địa phương trong cả nước được phát huy mạnh mẽ.
Các công trình nghiên cứu trên đã đi sâu nghiên cứu về việc thực hiện Quy chế dân chủ
gắn với tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở nói chung, ở cấp xã nói riêng. chỉ ra phương hướng
và giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường. Tuy nhiên, cho đến nay
chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về thực hiện Quy chế dân chủ cơ
sở trong các trường THPT.
Đề tài nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm cả về lý luận và thực tiễn
vấn đề thực hiện Quy chế dân chủ ở trường THPT trên địa bàn thành phố Tân An,
tỉnh Long An trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ
Mục đích
Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở
các trường THPT trên địa bàn thành phố Tân An, tỉnh Long An, luận văn xác định một số giải
pháp nhằm thực hiện tốt hơn Quy chế dân chủ trong trường học đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đổi
mới của ngành GD&ĐT tỉnh Long An hiện nay.
tra xã hội học, so sánh v.v...
6. Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
- Góp phần luận chứng căn cứ khoa học của việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong các
trường THPT.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể cung cấp thêm những cơ sở khoa học nhằm thực
hiện tốt hơn Quy chế dân chủ cơ sở trong các trường THPT trên địa bàn thành phố Tân An, tỉnh
Long An nói riêng, ở các trường THPT và ngành giáo dục tỉnh Long An nói chung trong giai đoạn
hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về dân chủ trong trường học.
Chương 2: Thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong các trường THPT công
lập trên địa bàn thành phố Tân An, tỉnh Long An.
11
Chương 3: Quan điểm và một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả Quy
chế dân chủ cơ sở trong các trường THPT công lập trên địa bàn thành phố Tân
An, tỉnh Long An hiện nay.
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DÂN CHỦ TRONG TRƯỜNG HỌC
12
cho nhân dân với tư cách là số đông mà là cho giai cấp chủ nô. Tuyệt đại bộ phận con người đã bị
đẩy xuống hàng nô lệ, trở thành “con vật biết nói”. Đây chính là một trong những nguyên nhân
13
khiến cho cuộc đấu tranh giành quyền dân chủ trở thành một trong những nội dung của cuộc đấu
tranh giai cấp.
Nền dân chủ sơ khai của xã hội loài người không được tiếp tục phát triển
ở thời kỳ lịch sử tiếp theo mà lại bị thủ tiêu bởi chế độ chuyên chế phong kiến.
Nhà nước phong kiến, độc đoán chuyên quyền câu kết với các thế lực của thần
quyền đã gạt nhân dân lao động ra khỏi cơ chế quyền lực. Cuộc đấu tranh giành
quyền lực - giành quyền làm chủ lại tiếp tục diễn ra gay gắt. Kết quả là chế độ
chuyên chế phong kiến lại bị một trật tự dân chủ mới mạnh mẽ hơn phủ định đó là chế độ dân chủ tư sản. Nền dân chủ tư sản mạnh mẽ vì nó dựa trên một nền
kinh tế - xã hội phát triển hơn so với các chế độ trước đó.
So với chế độ dân chủ sơ khai thời kỳ cổ đại, nền dân chủ tư sản đạt tới
trình độ phát triển cao hơn. Theo đó, các quan niệm về dân chủ được bắt đầu từ
khái niệm nhân dân là người chủ của quyền lực, có quyền và nghĩa vụ công dân
được pháp luật quy định và bảo vệ. Dưới chế độ dân chủ tư sản , địa vị xã hội của
công dân được pháp luật thành văn và không thành văn quy định. Nhưng nền dân chủ tư sản trong
thực chất còn rất nhiều hạn chế và không thoát khỏi sự mị dân nhằm bảo vệ quyền lợi cho giai cấp
tư sản cầm quyền. “Trong Nhà nước tư sản dân chủ nhất, quần chúng bị áp bức đều luôn vấp phải
các mâu thuẫn hiển nhiên giữa quyền bình đẳng hình thức do “chế độ dân chủ” của bọn tư bản
ban bố với hàng nghìn hạn chế và mánh khóe dối trá thực sự, đang biến những người vô sản thành
nô lệ làm thuê” [ 9, tr. 36]. Sự hạn chế và tính chất mị dân của dân chủ tư sản thể hiện như thế
nào? Dưới chế độ dân chủ tư sản cùng với sự tha hóa của con người là sự tha hóa về quyền lực,
đặc biệt là quyền lực chính trị. Đúng như nhận xét của C.Mác về chế độ dân chủ tư sản rằng bầu
cử trong chủ nghĩa tư bản là sự “tự do” của nhân dân lựa chọn những người thống trị mình. Trong
tác phẩm Nhà nước và cách mạng, Lênin có nhận xét tinh tế về bản chất chế độ dân chủ tư sản:
“Chế độ đại nghị tư sản là chế độ kết hợp chế độ dân chủ (không phải cho nhân dân) với chế độ
nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, thành nguyên tắc mục
tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội, các giá trị và chuẩn mực dân chủ chi phối
hoạt động của mọi lĩnh vực xã hội. Sự thống nhất giữa dân chủ về chính trị pháp lý và dân chủ với tư cách là khát vọng, là quyền tự nhiên của con người,
trong đó có quyền sử dụng tất cả sức mạnh để thực hiện vai trò của người chủ và
quyền làm chủ đã lần lượt được nhiều giai cấp thống trị trong lịch sử nhận thức
và thể chế hóa thành nguyên tắc tổ chức và vận hành của Nhà nước cùng các
thiết chế chính trị khác nhau. Tuy nhiên, trong các chế độ dân chủ đã từng tồn
tại cho đến nay thì chỉ có chế độ dân chủ XHCN mới thực sự là chế độ dân chủ
của đa số nhân dân trong xã hội, là chế độ dân chủ của dân, do dân và vì dân.
1.1.2. Dân chủ cơ sở
15
Chủ nghĩa xã hội xác định mục tiêu xây dựng một nền dân chủ XHCN
“cao gấp triệu lần dân chủ tư sản” (V.I. Lênin). Đó là một nền dân chủ toàn diện
và triệt để trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội; tạo điều
kiện cho mọi thành viên trong xã hội làm chủ bản thân, làm chủ xã hội và làm
chủ tự nhiên. Đó là nhiệm vụ mà CNXH phải phấn đấu lâu dài mới thực hiện
được. Trong chế độ dân chủ XHCN, nhân dân thực hiện quyền làm chủ của
mình vừa bằng hình thức gián tiếp thông qua bầu cử các cơ quan, tổ chức đại
diện thực hiện quyền tổ chức và quản lý xã hội; vừa bằng hình thức trực tiếp,
bảo đảm cho nhân dân có quyền tham gia quản lý xã hội một cách thiết thực và
hiệu quả, trước hết là ở cơ sở theo phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân
kiểm tra. Sức sống của nền dân chủ XHCN do Đảng cộng sản lãnh đạo dựa trên
cơ sở thực hiện tốt và kết hợp chặt chẽ hai hình thức dân chủ nói trên, từ đó
động viên sức mạnh của toàn dân tham gia vào công cuộc phát triển kinh tế - xã
hội và bảo vệ tổ quốc. Theo Lênin: “Không phải chỉ tuyên truyền về dân chủ,
tuyên bố sắc lệnh về dân chủ là đủ, không phải chỉ giao trách nhiệm thực hiện
chế độ dân chủ cho “những người đại diện” nhân dân trong những cơ quan đại
người” [20, tr. 216]. Vì vậy, Người yêu cầu: “Bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến
và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương” [17,
tr. 698-699].
Khi dân được biết, được hiểu, được bàn bạc xây dựng kế hoạch của địa
phương, cơ sở mình, họ sẽ dùng chính sức lao động của họ và những việc làm
cụ thể một cách tự giác. Khi thi hành một công việc xong, theo Hồ Chí Minh,
việc kiểm tra rút kinh nghiệm là vô cùng quan trọng và cần thiết giúp chúng ta
thực hiện tốt những công việc khác. Dân kiểm tra cán bộ, cán bộ kiểm tra dân,
dân và cán bộ cùng kiểm tra mọi hoạt độ ng. “Lề lối làm việc phải dân chủ. Cấp trên phải
thường xuyên kiểm tra cấp dưới. Cấp dưới phải phê bình cấp trên” [19, tr. 9]; “nhất là phê bình từ
dưới lên” [20, tr. 157]. Dân kiểm tra là một nội dung quyền dân chủ của nhân dân về xây dựng
Đảng, xây dựng Nhà nước và các đoàn thể nhân dân thật sự vững mạnh, trong sạch; bảo vệ lợi ích
chính đáng, hợp pháp của nhân dân. Việc đấu tranh chống tham ô, lãng phí, quan liêu, cậy thế trái
phép v.v... chỉ có thể thực hiện có hiệu quả nếu thật sự dựa vào sự kiểm tra, giám sát của quần
chúng nhân dân.
Nền dân chủ XHCN ở nước ta được khẳng định trong đường lối của
Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước. Hệ thống chính quyền ở nước ta gồm 4 cấp: trung
ương, tỉnh (thành phố trực thuộc), huyện (thị, quận) và xã (phường) đều vận hành theo nguyên tắc
17
tập trung dân chủ, nguyên tắc cơ bản của nền dân chủ XHCN. Hiệu quả của dân chủ thể hiện trực
tiếp đến nhân dân là ở cấp cơ sở, là cấp chính quyền cuối cùng trong hệ thống chính quyền nhà
nước, các pháp nhân công quyền, các pháp nhân kinh tế, bệnh viện, trường học, viện nghiên cứu
… Đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước có đi vào cuộc sống hay không tùy thuộc chủ
yếu vào sự quán triệt và thực hiện như thế nào ở cấp cơ sở. Cơ sở xã, phường, cơ quan, doanh
nghiệp v.v.. là nơi trực tiếp thực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước; là địa bàn
nhân dân sinh sống, lao động, sản xuất, học tập và công tác; là nơi diễn ra các mối quan hệ nhiều
quan, đơn vị, trong đó có trường học, trường THPT.
Nội dung Quy chế dân chủ cơ sở của Đảng, Chính phủ:
Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ:
Nội dung Quy chế dân chủ ở cơ sở cần chú
trọng làm rõ những vấn đề sau:
+ Quy định quyền của mọi người dân ở cơ sở được thông tin về pháp
luật, các chủ trương, chính sách của Nhà nước, nhất là những vấn đề liên quan
trực tiếp đến đời sống và lợi ích hàng ngày của nhân dân tại cơ sở; có chế độ và
hình thức báo cáo công khai trước dân công việc của chính quyền, cơ quan, đơn
vị về sản xuất và phân phối, về việc sử dụng công quỹ, tài sản công, về thu, chi
tài chính, các khoản đóng góp của dân, quyết toán các công trình xây dựng cơ
bản, chế độ thu và sử dụng học phí, viện phí...
+ Có quy chế và các hình thức để nhân dân, cán bộ, công chức ở cơ sở
được bàn bạc và tham gia ý kiến vào các chủ trương, chính sách, nhiệm vụ công
tác chuyên môn, công tác cán bộ... của chính quyền, cơ quan, đơn vị; kết quả ý
kiến đóng góp phải được xem xét, cân nhắc khi chính quyền hoặc thủ trưởng ra
quyết định.
+ Có quy định về việc để nhân dân bàn và quyết định dân chủ đối với
những loại việc liên quan trực tiếp đến đời sống của nhân dân trên địa bàn (như
chủ trương huy động sức dân để xây dựng kết cấu hạ tầng và các công trình
phúc lợi, các khoản đóng góp và lập các loại quỹ trong khuôn khổ pháp luật...);
chính quyền, thủ trưởng cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện theo ý kiến của đa số
nhân dân, có sự giám sát, kiểm tra của nhân dân.
+ Hoàn thiện cơ chế để nhân dân, công nhân, cán bộ, công chức ở cơ sở
trực tiếp và thông qua Mặt trận, các đoàn thể, Ban thanh tra nhân dân kiểm tra,
giám sát hoạt động của chính quyền, thủ trưởng cơ quan, đơn vị; kết quả thanh
tra, kiểm tra, giám sát của nhân dân phải được tiếp thu nghiêm túc.
chức có liên quan; quan hệ giữa người đứng đầu cơ quan, đơn vị với cơ quan cấp trên và với cơ
quan cấp dưới.
1.1.3. Dân chủ trường học
Tiếp thu và vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh
ý thức rằng, “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” và “Dốt nát cũng là kẻ địch”. Ngay sau khi
20
nước nhà giành được độc lập, Người đã lo ngay đến việc “giáo dục lại nhân dân”, nhiệm vụ diệt
giặc đói và giặc dốt gắn liền với nhau. Vì vậy, “vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích
trăm năm thì phải trồng người” [21, tr. 222]. Người xác định trường học là nơi đào tạo những
người chủ tương lai của đất nước, những công dân có ích cho nước Việt Nam. Do đó, trường học
của chúng ta khác hẳn với trường học của thực dân và phong kiến. Người nói: “Trường học của
chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân, nhằm mục đích đào tạo những công dân và
cán bộ tốt, những người chủ tương lai tốt của nước nhà. Về mọi mặt, trường học của chúng ta phải
hơn hẳn trường học của thực dân và phong kiến” [20, tr. 80].
Chính vì trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân
dân nên cần phải thực hiện dân chủ, bình đẳng trong giáo dục. Chủ tịch Hồ Chí
Minh dạy: “Trong trường học cần phải có dân chủ. Đối với mọi vấn đề, thầy và trò cùng nhau
thảo luận, ai có ý kiến gì đều thật thà phát biểu. Điều gì chưa thông suốt, thì hỏi, thì bàn cho thông
suốt. Dân chủ nhưng trò phải kính thầy, thầy phải quý trò, chứ không phải là “cá đối bằng đầu”.
Đồng thời, thầy và trò cần giúp đỡ những anh em phục vụ cho nhà trường. Các anh chị em nhân
viên thì nên thi đua để cho cơm lành canh ngọt, để học sinh ăn no, học tốt” ” [19, tr. 456]. Quan
điểm về dân chủ trong trường học của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện đầy đủ qua các mối
quan hệ trong nhà trường, mối quan hệ giữa nhà trường với nhân dân ,“Giáo dục là sự nghiệp của
quần chúng. Cần phải phát huy đầy đủ dân chủ XHCN, xây dựng quan hệ thật tốt, đoàn kết thật
chặt chẽ giữa thầy và thầy, giữa thầy và trò, giữa học trò với nhau, giữa cán bộ các cấp, giữa nhà
trường và nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó” [22, tr. 403]. Bác khẳng định, để thực
trường. Dân chủ gắn với kỷ cương, việc thực hiện dân chủ nhưng vẫn đảm bảo các nguyên tắc, sự
lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước đối với sự nghiệp phát triển giáo dục. Trong trường
học, việc thực hiện dân chủ của CB-GV-NV, của người học trên cơ sở sự lãnh đạo của chi bộ, sự
quản lý của BGH. Các đoàn thể, tổ chức trong nhà trường có vai trò to lớn trong việc tham gia,
việc thực hiện dân chủ ở trường học.
Cũng như các Quy chế dân chủ ở các cơ sở khác, Quy chế thực hiện dân chủ trong
hoạt động của nhà trường là loại văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ban hành, có
hiệu lực bắt buộc ở cơ sở các nhà trường, là công cụ chỉ dẫn, đồng thời là cơ sở pháp lý để giám
sát, kiểm tra đối với những người thuộc quyền. Thực hiện dân chủ chính là sự tập hợp trí tuệ của
đội ngũ cán bộ, giáo viên, người học để thống nhất trong hoạt động, nâng cao chất lượng giáo
dục.
Thực hiện dân chủ trong nhà trường nhằm thực hiện tốt nhất, có hiệu quả
nhất những điều Luật Giáo dục quy định theo phương châm “dân biết, dân bàn,
dân làm, dân kiểm tra" trong các hoạt động của nhà trường thông qua các hình
thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện; đảm bảo cho công dân, cơ quan, tổ chức
được quyền giám sát, kiểm tra, đóng góp ý kiến tham gia xây dựng sự nghiệp giáo dục, làm cho
sự nghiệp giáo dục thực sự là của dân, do dân và vì dân.
22
Thực hiện dân chủ trong nhà trường còn nhằm phát huy quyền làm chủ
và huy động tiềm năng trí tuệ của hiệu trưởng, nhà giáo, người học, đội ngũ cán
bộ, công chức trong nhà trường nhà trường theo luật định, góp phần xây dựng nề
nếp, trật tự, kỷ cương trong mọi hoạt động của nhà trường, ngăn chặn các hiện
tượng tiêu cực và tệ nạn xã hội, thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục phù hợp
với đường lối, chủ trương của Đảng và luật pháp của Nhà nước.
Thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trường học luôn có nhiều thuận lợi. Đội
huy động trí tuệ của hiệu trưởng, nhà giáo, học sinh trong việc thực hiện Điều lệ
nhà trường, xây dựng kỷ cương, nền nếp trong mọi hoạt động của nhà trường;
phòng, chống, ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực và tệ nạn xã hội; thực hiện
nhiệm vụ phát triển giáo dục phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng và
pháp luật của Nhà nước.
+ Phát huy tinh thần phê bình, tự phê bình thẳng thắn, chân tình, xây dựng
hướng tới một tập thể sư phạm trong sạch vững mạnh.
- Nguyên tắc thực hiện dân chủ trong nhà trường:
+ Phát huy dân chủ phải đảm bảo có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam, theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện đúng trách nhiệm của hiệu
trưởng và phát huy vai trò của các tổ chức, đoàn thể: Công đoàn, Đoàn thanh
niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên Hiệp thanh niên Việt Nam, Ban đại diện
cha mẹ học sinh trong nhà trường.
+ Thực hiện dân chủ trong nhà trường phải phù hợp với Hiến pháp và pháp
luật; quyền phải đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm; dân chủ phải tôn trọng kỷ
luật, kỷ cương, nền nếp trong nhà trường, không đựơc có những hành vi lợi
dụng dân chủ, xâm phạm quyền tự do dân chủ làm ảnh hưởng đến uy tín và hoạt
động của nhà trường.
- Quy chế dân chủ được thực hiện trong các hoạt động của một nhà trường
cụ thể.
Thực hiện dân chủ trong nội bộ nhà trường gồm:
- Trách nhiệm của hiệu trưởng:
24
+ Quản lý, điều hành mọi hoạt động của nhà trường, chịu trách nhiệm trước
pháp luật và cấp trên về toàn bộ hoạt động của nhà trường.
+ Tổ chức thực hiện những quy định về trách nhiệm của cán bộ, nhà giáo,
nhân viên, học sinh trong quy chế.
dân
+ Kết hợp với chi ủy thực hiện nghị quyết của chi bộ và kết hợp chặt chẽ
với các tổ chức, đoàn thể của nhà trường trong việc thực hiện nhiệm vụ chuyên
môn; đồng thời tạo điều kiện cho giáo viên, học sinh tham gia đối thoại với nhà
trường định kì 6 tháng/lần.
- Những việc hiệu trưởng phải lấy ý kiến tham gia đóng góp xây dựng của
các cá nhân, các tổ chức, đoàn thể trong nhà trường trước khi quyết định:
+ Kế hoạch phát triển của nhà trường, kế hoạch năm học, tuyển sinh, dạy
học, nghiên cứu khoa học.
+ Kế hoạch đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển, tăng cường, tuyển dụng; đào
tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, giáo viên, nhân viên.
+ Biện pháp tổ chức phong trào thi đua, khen thưởng hằng năm, lề lối làm
việc, nội quy nhà trường.
+ Kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất của nhà trường, các hoạt động dịch vụ
của nhà trường (nếu có).
+ Báo cáo sơ kết, tổng kết năm học hàng năm.
- Trách nhiệm của giáo viên, nhân viên:
+ Thực hiện đầy đủ trách nhiệm và quyền hạn của nhà giáo theo quy định
của Luật Giáo dục và Điều lệ nhà trường.
+ Tham dự hội họp đầy đủ, tích cực đóng góp ý kiến xây dựng nhà trường
+ Kiên quyết đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực trong thi cử, bè