Trờng đại học vinh
khoa giáo dục chính trị
Phạm thành trung
Thực hiện "Quy chế dân chủ cơ sở" trong giai đoạn hiện nay ở
xã Hồng Long (huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).
Thực trạng và giải pháp
khoá Luận tốt nghiệp đại học
Vinh, tháng 05 - 2005
Lời cảm ơn
Để hoàn thành tốt khoá luận này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của
bản thân, tôi còn nhận đợc sự giúp đỡ chu đáo, nhiệt tình, của các
1
thầy cô giáo trong khoa, Hội đồng khoa học khoa Giáo dục Chính trị,
các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Chủ nghĩa xã hội, của gia đình và các
bạn đồng nghiệp.
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn thầy
giáo - Tiến sỹ Đoàn Minh Duệ đã trực tiếp hớng dẫn em trong cả quá
trình nghiên cứu khoá luận, đây là công trình đầu tay để chuẩn bị bớc
vào đời và là cả một niềm hy vọng lớn. Từ đáy lòng mình em xin chân
thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa cùng toàn thể các bạn sinh
viên khóa 42 - khoa Giáo dục Chính trị - trờng Đại học Vinh đã bên
em trong suốt bốn năm học qua.
Xin chân thành cảm ơn!
Chơng I: Tình hình thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở
xã Hồng long, huyện Nam Đàn trong những năm gần đây.
1. Nhận thức chung về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và Quy chế
dân chủ ở cơ sở.
2. Tình hình thực hiện Quy chế dân chủ ở xã Hồng Long,
huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn từ 1999 đến nay.
3. Nguyên nhân của thực trạng.
Chơng II: Những quan điểm cơ bản và những giải pháp
chủ yếu nhằm thực hiện có hiệu quả quy chế dân chủ
ở xã Hồng Long, huyện Nam Đàn trong thời gian tới.
1. Những quan điểm cơ bản.
2. Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả thực
hiện "Quy chế dân chủ ở cơ sở" xã Hồng Long, huyện Nam Đàn.
3. Những kiến nghị với Đảng và Nhà nớc nhằm thực hiện tốt
hơn nữa "Quy chế dân chủ ở cơ sở".
C. Phần kết luận.
D. Tài liệu tham khảo.
a - Phần Mở đầu
3
Trang
4
7
7
7
17
41
Một trong những mục tiêu của mở rộng dân chủ ở nông thôn là thực hiện
triệt để quy chế dân chủ ở xã. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện dân chủ, cũng
bộc lộ những yếu kém, khuyết điểm, nhất là ở cấp xã. Do đó, làm rõ thực trạng
việc thực hiện quy chế dân chủ ở cấp xã trên cơ sở đó, tìm ra một số giải pháp
phù hợp, nhằm phát huy hơn nữa dân chủ là vấn đề vừa có ý nghĩa lý luận vừa có
ý nghĩa thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Vấn đề dân chủ luôn đợc nhiều nhà khoa học, nhà quản lý...ở nhiều ngành,
nhiều cấp nghiên cứu dới nhiều góc độ khác nhau nh: "Thực hiện quy chế dân
chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay" (PGS. TS. Nguyễn Cúc); "Thực hiện Quy
chế dân chủ ở cấp xã - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" (PGS. TS. D ơng Xuân
Ngọc)...Dân chủ là một phạm trù rộng lớn, bao gồm nhiều khía cạnh, nhiều lĩnh
vực khác nhau, mặt khác việc thực hiện dân chủ ở mỗi xã lại đợc tiến hành phù
4
hợp với từng nơi. Vì vậy, đề tài này hy vọng sẽ góp một phần vào việc nghiên cứu
cụ thể tình hình ở một địa phơng đó là: Vấn đề thực hiện Dân chủ ở xã Hồng
Long, huyện Nam Đàn, Nghệ An.
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài.
- Làm rõ những thành tựu cũng nh những khuyết điểm trong quá trình thực
hiện và phát huy dân chủ ở xã Hồng Long, huyện Nam Đàn trong những năm
qua. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm phát huy u điểm, khắc phục yếu
kém, xây dựng và thực thi dân chủ ở xã Hồng Long đúng với tinh thần "Quy chế
dân chủ cơ sở" mà Đảng và Nhà nớc luôn quan tâm và coi trọng.
- Để đạt mục đích đó, đề tài đã đề ra một số nhiệm vụ chủ yếu:
+ Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn "Quy chế thực hiện dân chủ ở
cấp xã".
+ Khảo sát thực trạng thực hiện và phát huy dân chủ ở xã Hồng Long trong
Dân chủ xã hội chủ nghĩa là đỉnh cao giá trị trong sự phát triển về quyền
con ngời, là sự kết tinh những giá trị dân chủ đã đạt đợc trong lịch sử, là thành
quả đấu tranh của quần chúng lao động. Dân chủ xã hội chủ nghĩa có những đặc
trng sau:
Một là, Dân chủ xã hội chủ nghĩa là một bớc phát triển mới trong lịch sử
tiến hoá của nhân loại, thể hiện trên thực tế mọi quyền lực thuộc về nhân dân lao
động, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, bình đẳng, văn minh.
Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đợc thiết lập từ khi cuộc cách mạng do giai
cấp vô sản lãnh đạo giành đợc thắng lợi và giai cấp vô sản trở thành chủ thể
quyền lực chính trị, thiết lập nên nhà nớc và chế độ dân chủ của mình. Đó là nền
dân chủ mang bản chất của giai cấp công nhân, dân chủ cho quảng đại quần
chúng. Dân chủ xã hội chủ nghĩa ra đời dựa trên nền tảng sở hữu xã hội chủ
nghĩa về t liệu sản xuất và sự bình đẳng của mọi thành viên xã hội trong việc sử
dụng chúng, trên cơ sở liên minh giữa các giai cấp, tầng lớp, dới sự lãnh đạo của
6
giai cấp công nhân. Nó đợc thực hiện bằng một cơ chế bảo đảm lôi cuốn toàn bộ
nhân dân vào công cuộc quản lý đất nớc, quản lý xã hội, xây dựng Nhà nớc của
dân, do dân và vì dân.
Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, con ngời và nhu cầu đa dạng của họ
bao giờ cũng là trung tâm chú ý của toàn bộ hệ thống chính trị. Dân chủ xã hội
chủ nghĩa đợc hình thành, nuôi dỡng và phát triển bằng toàn bộ giá trị tinh hoa
văn hoá của nhân loại; tiếp thu, kế thừa và phát triển những truyền thống tốt đẹp
của dân tộc. Chủ thể tạo dựng, nuôi dỡng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là toàn bộ
nhân dân, trớc hết là quần chúng lao động. Quyền công dân đợc bảo đảm bằng
kinh tế, chính trị, t tởng, tổ chức, pháp luật, trong đó bảo đảm bằng kinh tế là
quan trọng nhất. Dân chủ gắn với công bằng, bình đẳng xã hội, kỷ luật, kỷ cơng,
xoá bỏ áp bức bóc lột.
xã hội chủ nghĩa cha đợc xây dựng xong.
Về phía nhân dân, bớc ra từ xã hội thực dân, phong kiến nên nhân dân cha
đợc làm quen với Nhà nớc pháp quyền, xã hội công dân, ý thức về quyền làm chủ
cha cao, thờ ơ với nhiều vấn đề về quyền và nghĩa vụ của công dân, ít quan tâm
đến pháp luật vẫn coi "phép vua thua lệ làng". Lối sống tiểu nông còn chi phối
trong mọi nếp nghĩ và hoạt động hàng ngày, cha thích ứng với một xã hội hiện
đại, công nghiệp hoá, nhất là tâm lý bình quân, thụ động, ỷ lại, trông chờ, tách
rời quyền và nghĩa vụ,Lại có một thời gian dài chịu sự thống trị của ngoại bang,
trong nhân dân đã hình thành thói quen phản kháng luật pháp của nhà nớc thực
2
3
V.I Lênin: Toàn tập, NXB, Tiến bộ, Matxitcơva, 1978, t.45, Trang 443.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.5, Trang 263.
9
dân, vì thế xây dựng nhà nớc kiểu mới, thói quen ấy vẫn ăn sâu trong nhân dân,
làm cho luật pháp rất khó đi vào cuộc sống sau khi ban hành.
- Trong điều kiện một nền kinh tế kém phát triển, buộc phải sử dụng một
số nhân tố t bản chủ nghĩa để xây dựng cơ sở kinh tế của chế độ mới, Đảng ta
phái đối phó với nguy cơ chệch hớng: đa đất nớc đi vào quỹ đạo của chế độ t bản
chủ nghĩa. Nguy cơ "chệch hớng xã hội chủ nghĩa" vừa do nhân tố bên ngoài tác
động, nhất là sự tấn công của các thế lực thù địch; vừa do nhân tố bên trong tác
động vì năng lực và bản lĩnh trính trị còn non yếu của ngời "cầm lái". Thiếu bản
lĩnh và t duy chính trị còn non yếu thể hiện ở chỗ không đủ sức nắm bắt quy luật
khách quan, ở các thời điểm bứơc ngoặt không đủ sức lãnh đạo để chớp lấy vận
hội, vợt qua thách thức, làm cách mạng dẫm chân tại chỗ, thậm chí vấp phải sai
hiện tâm lý hởng thụ, "xả hơi" trong không ít cán bộ, công chức, là một nguyên
nhân thúc đẩy các tệ nạn trong bộ máy Nhà nớc có chiều hớng gia tăng. Từ đó
dẫn tới vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, làm triệt tiêu sự sáng tạo của quảng
đại quần chúng.
Điều này đặt ra cho Đảng ta trong qúa trình đổi mới phải tìm con đờng, bớc đi thích hợp để mở rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đó là quá trình huy
động, lôi cuốn đông đảo quần chúng vào các phong trào cách mạng do Đảng
khởi xớng và lãnh đạo; là sự giáo dục ý thức pháp luật làm biến đổi cả tâm lý, tập
quán, xây dựng đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa trong cán bộ, đảng viên và
quần chúng; là tập hợp quần chúng đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực trong bộ
máy Nhà nớc, đồng thời phải cảnh giác với các biểu hiện lợi dụng dân chủ hoá để
kích động quần chúng bạo loạn, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, đa đất nớc đi vào
quỹ đạo dân chủ t sản dới hình thức này hay hình thức khác.
1.2. Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở - một bớc đột phá trong quá trình
xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nớc ta.
Chính vì nhận thức rõ dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát
triển nên trong những năm đổi mới, Đảng ta đã không ngừng nâng cao chất lợng
chế độ dân chủ đại diện và bớc đầu tìm tòi các hình thức dân chủ trực tiếp. Nhờ
đó, công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu thì nền dân chủ xã hội càng đợc mở
rộng, từ dân chủ về kinh tế, chính trị đến dân chủ trên lĩnh vực ý thức - t tởng.
Tuy vậy, trong thời gian qua vẫn còn không ít yếu kém trong phát huy dân chủ,
bệnh dân chủ hình thức còn tồn tại trong bộ máy Đảng và Nhà nớc. Thực thi dân
chủ yếu kém là nguyên nhân căn bản làm nảy sinh các tệ quan liêu, cửa quyền,
sách nhiễu nhân dân, tham nhũng trong các cơ quan Đảng và Nhà nớc, làm cho
không ít chủ trơng đúng đắn của Đảng và Nhà nớc bị biến dạng khi vận hành
trong thực tiễn ở nhiều cấp, nhiều ngành. Mất dân chủ còn làm giảm sút lòng tin
của nhân dân vào chế độ, tạo môi trờng thuận lợi cho các thế lực thù địch tấn
công chống phá Đảng và Nhà nớc bằng "diễn biến hoà bình". Thiếu dân chủ đã
làm cho bệnh quan liêu sách nhiễu nhân dân trong các cơ quan công quyền là
một trong những nguyên nhân làm nản lòng các nhà đầu t trong và ngoài nứơc,
tác động trực tiếp đến mục tiêu tăng trởng kinh tế bền vững.
học, bởi trên thực tế việc giải quyết thành công dân chủ ở cơ sở sẽ quyết định đến
nhiều mặt của quá trình mở rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thể hiện bản chất
của chế độ mới. Mở rộng dân chủ ở cơ sở vừa đem lại những quyền lợi dân chủ
thiết thân cho ngời dân, vừa liên quan, đụng chạm đến dân chủ hoá ở các cấp độ
khác. Bởi vì, suy cho cùng, mọi chủ trơng, chính sách, quyết định lãnh đạo quản lý dù xuất phát ở cấp độ nào thì cuối cùng cũng phải đợc tổ chức triển khai
thực hiện ở cơ sở. Sự thành công hay thất bại của các đờng lối, chính sách, quyết
định lãnh đạo - quản lý tuỳ thuộc rất nhiều vào sự lôi cuốn, huy động quần chúng
ở cơ sở tham gia. Một chủ trơng, quyết định khi ban hành mà quần chúng ở cơ sở
thờ ơ thì không thể đi vào cuộc sống. Ngợc lại, một quyết định đúng đắn đợc
nhân dân đồng tình hởng ứng thì chắc chắn sẽ thành công. Đến lợt mình chính
12
quần chúng nhân dân ở cơ sở là ngời sẽ kiểm chứng toàn bộ các quyết định lãnh
đạo - quản lý, phản hồi với các chủ thể ra quyết định để điều chỉnh cho phù hợp.
Với ý nghĩa ấy, đại hội VIII của Đảng nêu rõ: "Chính những ý kiến, nguyện vọng
và sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đờng lối đổi mới của Đảng.
Cũng do nhân dân hởng ứng đờng lối đổi mới, dũng cảm phấn đấu, vợt qua biết
bao khó khăn, thử thách mà công cuộc đổi mới đạt đợt những thành tựu hôm
nay"4. Cơ sở là cấp trực tiếp điều hành việc triển khai thực hiện những chủ trơng,
chính sánh đã ban hành, theo dõi, giám sát, kiểm tra công dân tuân thủ pháp luật.
Chủ trơng, chính sách của Nhà nớc đều đợc thực hiện ở khâu này và cũng qua
chính quyền cơ sở mà Trung ơng có những điều chỉnh trong quản lý vĩ mô và
hoạch định chính sánh kinh tế - xã hội. Lòng tin của nhân dân và hệ thống chính
trị trớc hết biểu thị ở cấp cơ sở. Vì vậy, dân chủ ở cơ sở có ý nghĩa quyết định đến
mức độ, phạm vi và quy mô của quá trình mở rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Chính vì vậy, xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở là cách làm
tốt nhất để mở rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Muốn thế, vấn đề trọng yếu
hàng đầu là phải xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, trong sạch, đủ
quyền làm chủ của nhân dân. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng
định: "cấp xã là gần gũi nhân dân nhất, là nền tảng của hành chính. cấp xã làm
đợc việc thì mọi công việc đều xong xuôi"6.
Song cơ sở có nhiều loại hình, trong đó xã là loại hình cơ bản và quan
trọng. Trong đó, mỗi loại hình có những đặc điểm riêng cần phải nghiên cứu kỹ lỡng để ban hành và thực hiện qui chế cho phù hợp.
Đi sâu nghiên cứu vào cấp xã cho thấy nông thôn là địa bàn trọng tâm,
chiếm khoảng 80% dân số, 70% lao động xã hội, là nơi sản xuất lơng thực, thực
phẩm, nguyên liệu; là nơi đóng góp nhiều nhân tài và vật lực và chịu đựng nhiều
hy sinh, gian khổ trong cách mạng giải phóng dân tộc, trong công cuộc đổi mới
đất nớc, cũng chính từ cơ sở ở nông thôn đã có nhiều sáng kiến tìm tòi cung cách
làm ăn mới đợc Trung ơng tổng kết nhân trên diện rộng. Tuy vậy, xã hội nông
thôn cũng đang bộc lộ nhiều vấn đề đòi hỏi phải đợc nhìn nhận nghiêm túc, đó
là: tình trạng cục bộ bản vị, kèn cựa địa vị; buông lỏng quản lý đất đai, quản lý
tài chính; quan liêu hách dịch
Ngay sau khi có chỉ thị 30/CT-TW của Bộ Chính trị, ngày 11-5-1998,
Chính phủ có nghị định số 29/CT-CP về việc "Ban hành và thực hiện quy chế dân
chủ ở xã". Ngày 15-5-1998, Thủ tớng Chính phủ đã ban hành chỉ thị số 22/CTTTG về việc "Triển khai thực hiện quy chế dân chủ ở xã". Ngày 19-6-1998, Thủ
tớng Chính phủ ban hành chỉ thị số 24/CT-TTG về việc "Xây dựng và thực hiện
hơng ớc, quy ớc của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân c"
2. Tình hình thực hiện Quy chế dân chủ ở xã Hồng Long (huyện Nam
Đàn, tỉnh Nghệ An) trong giai đoạn từ 1999 đến nay.
2.1. Nhận thức của lãnh đạo và nhân dân xã Hồng Long về vấn đề dân
chủ.
Thực hiện dân chủ là vấn đề hết sức quan trọng trong công cuộc đổi mới
của nớc ta. Quán triệt sâu sắc việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, trong
những năm qua Đảng uỷ, Uỷ ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể xã
Hồng Long đã vận dụng sáng tạo với phơng châm "Dân biết dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra" chỉ đạo các xóm thực hiện tốt các nhiệm vụ của mình.
Từ lý luận đến thực tiễn cuộc sống, cấp uỷ các cấp và các tổ chức trong hệ
thống chính trị đã thấy rõ việc phát huy dân chủ là phục vụ lợi ích của Đảng và
lành, chất phác, đợc rèn luyện, thử thách qua nhiều cuộc đấu tranh gian khổ, nhất
là địa bàn của xã nằm bên cạnh sông Lam, đã có lần đê vỡ gây thiệt hại về ng ời
và của; nên đã tạo cho mình những phẩm chất quý báu nh biết tôn trọng lẽ phải,
biết đùm bọc lẫn nhau, không chấp nhận những bất công, ngang trái, ý thức dân
chủ đã có sẵn trong tiềm thức, nên khi cách mạng có chủ trơng, phát động thì ý
thức ấy đợc khơi dậy, nâng lên. Nhờ vậy mà trong hai cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, ngời dân Hồng Long đã đóng góp sức ngời sức
của một cách tự nguyện "thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một ngời".
Bên cạnh đó, ngời dân Hồng Long vốn rất tin vào sự lãnh đạo của Đảng và
Nhà nớc, nhng lại chịu ảnh hởng nặng nề của t tởng, lối sống tiểu nông, ảnh hởng
sâu sắc của cơ chế bao cấp, nên khi đất nớc bớc vào thời kỳ đổi mới, mở cửa theo
cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, thì xã Hồng Long chuyển biến chậm
15
so với các xã khác trong huyện. Năm 2003 đạt diện tích thu nhập 30.000.000đ/ha/năm, đứng thứ 20 trên tổng số 23 xã và một thị trấn. Điều đó thể hiện phần
nào sự kém năng động, cha dám tiến vào cái mới, cha sử dụng quyền làm chủ
một cách đúng đắn.
Sự nhận thức về quyền làm chủ trong nhân dân còn nhiều điều phải bàn
bạc, trao đổi, nổi bật là thói quen dân chủ, các tiêu chí về dân chủ của ngời dân
cha đợc ý thức đầy đủ, nhiều ngời luôn kêu về mất dân chủ, nhng nếu có ai hỏi:
Dân chủ là gì? Bản chất của nó ra sao? thì sự hiểu biết của họ rất hạn chế. Chính
vì nhận thức không đầy đủ về dân chủ nên có nơi, có lúc ngời dân không phát
huy đợc quyền làm chủ của mình; cũng có nơi, có lúc hiểu sai về dân chủ do đó
đã dẫn đến những hành động vô chính phủ, vi phạm kỷ cơng pháp luật. Trong khi
đa số ngời dân quan tâm đến vấn đề dân chủ thì một số ngời vẫn chỉ quan tâm
đến quyền lợi sát sờn về kinh tế, nhiều khi còn là những vấn đề vụn vặt mà cha
có sự kết hợp hài hoà giữa các quyền lợi chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội.
Có thể nói, ngời dân ở xã Hồng Long nhìn chung có ý thức dân chủ, ở nơi
dân c tại xã.
Về tỷ lệ ngời tham gia công tác lãnh đạo - quản lý: Trong thành phần này
có khoảng 13,2% - 48% số ngời đã từng đảm nhiệm các chức vụ khác nhau trớc
khi về sinh sống tại xã. Cơ cấu này giúp cho ý kiến đánh giá của họ đại diện cho
nhiều lĩnh vực làm việc khác nhau: cán bộ đơng chức, cán bộ về hu, và nhân dân
đang sống trên địa bàn xã.
Về trình độ: Trong tổng số ngời đợc hỏi thì có tới 53,2% đạt trình độ văn
hoá phổ thông, sau đó là trình độ đại học - cao đẳng; gần 20% số ngời đợc hỏi đã
qua các lớp đào tạo về lý luận chính trị.
Về mức sống: Mức sống của những ngời đợc hỏi ở mức trung bình là đa số,
với 259 ngời, chiếm 71,0%; giàu và khá chiếm 21,6%; nghèo chiếm 7,4 %.
Nhận xét chung về cơ cấu ngời trả lời: Đại diện đợc cho các tầng lớp
dân c trên địa bàn xã, thể hiện đợc thực trạng việc thực hiện quy chế dân
chủ trong thời gian qua của xã Hồng Long, tuy nhiên số ngời nghèo và phụ
nữ đợc hỏi chiếm tỷ lệ hơi thấp.
Dới đây là kết quả trả lời những nội dung chính của phiếu trng cầu.
2.2.1.1. ý kiến của đối tợng đợc khảo sát về sự quan tâm tới quy chế dân
chủ ở cơ sở.
Quá trình ban hành và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đã đợc sự đồng
tình, hởng ứng của đông đảo ngời dân trong xã, điều này đợc thể hiện ở kết quả
khảo sát, với 65,5% ngời dân ở xã đợc hỏi trả lời rằng họ "quan tâm nhiều" tới
Quy chế, chỉ có 11,8% số ngời trả lời là "không quan tâm".
Nhng họ quan tâm đến Quy chế vì lý do gì? Rõ ràng là, họ quan tâm tới
quy chế không chỉ vì quyền lợi thiết thân của từng cá nhân và gia đình (vì chỉ có
132 ngời, chiếm 36,2% (hơn 1/3) số ngời đợc điều tra cho là nh vậy) mà mục
17
đích lớn hơn là nhằm hoàn thiện Quy chế (với 147 ngời trả lời, chiếm 40,3%).
pháp luật; giải quyết thủ tục hành chính. Kết quả là, loại hoạt động đợc ngời trả
lời đánh giá ở mức "thực hiện tốt nhất" là giải quyết vấn đề ruộng đất, với 78,1%,
sau đó đến giải quyết khiếu kiện, với 73,2%; tình hình bầu cử, ứng cử là 69,0%.
Đánh giá "kết quả ở mức hạn chế nhất" là giải quyết thủ tục hành chính, với
18
47,1% và "chống quan liêu tham nhũng" là 50,57%. Trong đánh giá chung về
"Tác dụng của Quy chế với việc nâng cao hiệu lực quản lý của chính quyền", số
ngời có đánh giá "tốt hơn" là 44,1%; còn 44,7% số ngời đánh giá "có mặt tốt
hơn, có mặt cha tốt". Đây là đánh giá thoả đáng và cho thấy rằng thành quả của
việc thực hiện Quy chế vẫn là mặt cơ bản. Hiệu quả phòng và chống tham nhũng
có nhiều ngời trả lời "cha cao" cũng phản ánh tình trạng của ban lãnh đạo xã
Hồng Long trong thời gian qua cha hoặc không tạo đợc niềm tin trong mỗi ngời
dân. Cũng nhận thấy rằng tình trạng này là tình trạng chung của đất nớc trong
những năm qua và diễn biến phức tạp mà Đảng và Nhà nớc cha có giải pháp ngăn
chặn hữu hiệu. Mặt khác, Quy chế dân chủ cũng mới ban hành mới đợc một thời
gian ngắn và có nội dung phong phú, đối tợng áp dụng rộng, nên việc triển khai
và tổ chức thực hiện cha thể đem lại kết quả cao trên tất cả các lĩnh vực.
Trong số các nguyên nhân làm hạn chế tác dụng của Quy chế đối với xây
dựng chính quyền và cải cách thủ tục hành chính có hai vấn đề đợc ngời trả lời
cao là: Thứ nhất: "ý thức nhân dân cha cao", với 107 ngời trả lời, chiếm 29,3%;
Thứ hai: "Thiếu cơ chế thực hiện", với 106 ngời trả lời, chiếm 29,0%. Nguyên
nhân cần chú ý trớc hết có lẽ là cơ chế thực hiện, nhng về ý thức thực hiện quy
chế cũng nên lu ý. Chúng tôi cho rằng, đối với ngời dân cha hẳn là ý thức của họ
cha cao, mà họ hiểu về Quy chế cha đầy đủ và do phạm vi hoạt động của họ chỉ ở
một vài lĩnh vực nhất định, trên một địa bàn không lớn lắm nên việc tham gia
thực hiện các lĩnh vực có liên quan đến quản lý nhà nớc và xây dựng chính quyền
nh nêu trên là không nhiều. Vì vậy, ngoài những nghiên cứu, bổ sung về cơ chế
Nh vậy, việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng là việc phải làm thờng xuyên, liên
tục, nhằm làm cho Đảng luôn luôn trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò
đội tiền phong của giai cấp công nhân. Để đạt đợc điều đó cần có nhiều biện
pháp, trong đó có biện pháp, phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng,
chỉnh đốn Đảng. Đúng nh ý kiến trả lời, số đông ngời dân mong muốn tham gia
xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhằm làm cho Đảng cầm quyền thực sự trong sạch,
vững mạnh, đủ sức lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, chứ không phải giới hạn ở mục
đích tham nhũng. Vì vậy, những yếu kém này nếu có trong tổ chức Đảng và đảng
viên thì chính tổ chức Đảng và đảng viên phải tự sửa mình là chính. Đó là một
yêu cầu cao đối với mỗi tổ chức Đảng và từng đảng viên.
Để làm tốt việc huy động nhân dân tham gia, xây dựng, chỉnh đốn Đảng,
trong thời gian tới theo ý kiến trng cầu thì chúng ta cần làm tốt hơn nữa việc
tuyên truyền trong nhân dân về Quy chế. Có 45,2% ý kiến cho là nhân dân cha
hiểu Quy chế để tham gia công việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng; và mỗi tổ chức
Đảng cần chú ý, lắng nghe hơn nữa ý kiến của ngời dân đóng góp cho Đảng.
Điều không kém quan trọng là hình thành một cơ chế phát huy vai trò làm chủ
của nhân dân, với 18,9% ý kiến trả lời.
2.2.1.5. Vai trò của tổ chức Đảng trong lãnh đạo thực hiện quy chế dân
chủ cơ sở.
20
Qua trng cầu, ý kiến về "Vai trò quyết định của tổ chức Đảng trong việc
lãnh đạo thực hiện Quy chế" có 209 ngời đồng ý, chiếm 57,3%: còn 102 ngời,
chiếm 27% cho rằng "vai trò của tổ chức Đảng trong việc lãnh đạo thực hiện Quy
chế là bình thờng". Khi hỏi cụ thể hơn là "Vai trò của chi bộ", ý kiến cho rằng
"có vai trò quyết định" là cao hơn, với 249 ngời trả lời, chiếm 68,2% tức là
khoảng 2/3 ý kiến trả lời. Nh vậy, trong công việc lãnh đạo thực hiện Quy chế
dân chủ ở cơ sở, ý kiến đánh giá về vai trò của tổ chức Đảng là cha cao. Vì thế,
điều tra có đề cập đến một số nội dung thể hiện vai trò của Mặt trận Tổ quốc và
các đoàn thể trong thực hiện Quy chế nh: Phối hợp với tổ chức Đảng và chính
quyền trong hoạt động: vận động nhân dân thực hiện; hớng dẫn nhân dân xây
dựng hơng ớc, quy ớc; tổ chức nhân dân xây dựng cuộc sống mới trên địa bàn
dân c,... thì hoạt động phối hợp để vận động nhân dân thực hiện Quy chế đợc
đánh giá cao nhất, với 172 ý kiến trả lời, chiếm 46,1%. Các hoạt động còn lại, ý
kiến đánh giá "hoạt động tốt" chỉ chiếm khoảng trên dới 40%. Đặc biệt, hoạt
động tổ chức nhân dân xây dựng cuộc sống mới tại khu dân c đã đợc triển khai từ
lâu nhng ý kiến "đánh giá tốt" cũng chỉ chiếm 40,5%. Qua đó thấy rằng, việc vận
động triển khai thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở đã đợc các đoàn thể quần chúng
quan tâm. Nhng do tính chất mới mẻ và rộng rãi của nó nên ý kiến đánh giá "tốt"
cha đợc cao lắm.
Nguyên nhân làm hạn chế vao trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức
đoàn thể trong hớng dẫn nhân dân thực hiện Quy chế đợc trả lời cao nhất ở nội
dung "phơng thức hoạt động cha phù hợp", với 139 ý kiến trả lời, chiếm 38,1; sau
đó đến ý kiến 'cán bộ thiếu tích cực", với 101 ngời trả lời, chiếm 27,7%.
2.3. Về điều kiện, môi trờng kinh tế - xã hội thực hiện Quy chế dân chủ
ở cơ sở xã Hồng Long trong thời gian qua.
Tại địa bàn cơ sở xã, điều kiện môi trờng Quy chế rất quan trọng. ảnh hởng của các yếu tố thuộc môi trờng đợc nêu qua các ý kiến ở đây là: phong tục
tập quán; cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp; trình độ phát triển kinh tế; trình độ
dân trí; trình độ, năng lực phẩm chất của đội ngũ cán bộ; phơng tiện truyền
thông.
Chỉ thị số 30/CT-TW ngày 18 - 02 - 1998 của Bộ chính trị nêu rõ quan
điểm thực hiện dân chủ phải gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội. Nền kinh tế
vững chắc là điều kiện thực hiện dân chủ có chất lợng và hiệu quả. Nhân dân
không thể thực sự có dân chủ khi còn đói nghèo, thiếu thốn, ốm đau không có
điều kiện chạy chữa, không đợc học hành. Làm chủ, trớc hết là làm chủ đời sống
của chính mình và sự phồn vinh của cộng đồng. Điều đó chỉ có đợc khi biết chăm
lo đến nền kinh tế phát triển vững chắc - yếu tố bảo đảm đích thực và bền vững
cho dân chủ.
lai, ngô lai, lạc lai, lúa thuần Trung Quốc vào sản xuất ở cả 3 vụ trong năm.
Thực hiện Chỉ thị 02 của Tỉnh uỷ, đề án chuyển đổi ruộng đất từ ô thửa
nhỏ thành ô thửa lớn, 13/13 xóm trên toàn xã đã tổ chức chuyển đổi ruộng đất.
Là xã làm điểm của huyện, tuy còn cha có kinh nghiệm nên kết quả cha cao,
song đã tổ chức khá thành công, từ chỗ mỗi hộ có 8 - 10 thửa ruộng, hiện nay đã
rút xuống còn 4 - 5 thửa, tạo điều kiện cho nhân dân áp dụng các tiến bộ khoa
học kỹ thuật vào sản xuất thâm canh và chuyển đổi cơ cấu sản xuất.
23
Các hoạt động dịch vụ phục vụ sản xuất: Nhìn chung đặc biệt là khâu đạt
khá, nh bảo đảm nớc phục vụ sản xuất cho cả 3 vụ, bảo vệ an toàn và cung ứng
đầy đủ, kịp thời các loại giống mới, vật t, khuyến nông, hỗ trợ giá giống mới
v.v...nhân dân tập trung sản xuất, đầu t cao nên trong những năm qua đã đạt
những thành tích tốt.
Về lâm nghiệp, kinh tế vờn: Tổ chức chỉ đạo duy trì trồng cây tập trung ở
vùng bãi, trồng cây phân tán hàng năm. Thực hiện đề án cải tạo vờn tạp, trồng
cây ăn quả hàng năm, đã cung ứng giống cây từ 2000 đến 4000 cây các loại cho
nhân dân. Giải quyết cho các hộ, xóm thực hiện chơng trình cải tạo vờn tạp, cho
nhân dân vay xi măng xây bờ rào. Từ đó đến nay, ớc gần 70% hộ gia đình đã cơ
bản xoá vờn tạp, trồng cây ăn quả.
Công tác quản lý Hợp tác xã và chuyển đổi Hợp tác xã theo luật Hợp tác
xã: Hợp tác xã nông nghiệp dịch vụ tiếp tục đợc củng cố, tổ chức đầy đủ các dịch
vụ phục vụ sản xuất, quản lý bảo toàn đợc nguồn vốn, công tác thanh quyết toán
hàng vụ, hàng năm bảo đảm công khai kịp thời, tổ chức đợc đội ngũ cán bộ
khuyến nông xã, 14 ngời, mỗi xóm một cán bộ, các nội dung khuyến nông đợc
triển khai phổ biến đến tận hộ và xóm. Tổ chức Đại hội đại biểu xã viên bảo đảm
đúng thời gian, cơ cấu và định hớng. Các chính sách hỗ trợ của cấp trên và địa
phơng đợc thực hiện nghiêm túc công khai, đảm bảo công bằng có tác dụng kích
nông dân cha mạnh dạn đầu t cho sản xuất, còn nặng về mua sắm vật t tiêu dùng.
Việc làm cho ngời lao động ở xã đang là vấn đề bức xúc, Nhng kể cả Nhà nớc và
nhân dân cha giải quyết đợc một cách cơ bản. Một bộ phận nông dân thiếu ý thức
vơn lên trong lao động sản xuất, cha xác định đúng đắn, đầy đủ quyền lợi và
nghĩa vụ của công dân, đã tham gia buôn lậu, trốn và dây da trong việc nộp thuế,
nông nghiệp, thuỷ lợi phí...
Việc thực hiện dân chủ và mở rộng dân chủ còn bộc lộ những tiêu cực và
hạn chế. Tình trạng huy động sức dân một cách tuỳ tiện, yêu cầu dân đóng góp
một cách quá mức là biểu hiện tơng đối nhiều.
Có thể nói, mỗi quá trình kinh tế xã hội, chính trị mới hình thành đều trải
qua những khó khăn trong sự vận động của nó. Quy chế dân chủ cũng vậy, có
những khó khăn thuộc về bản thân nó, có những khó khăn thuộc về môi trờng
thực hiện. Một số nội dung thực hiện dân chủ thay đổi dễ đợc chấp nhận, bởi điều
kiện môi trờng đã thay đổi. Nhng phơng thức tổ chức thực hiện không dễ gì thay
đổi ngay đợc vì nó đụng chạm đến các công đoạn, các khâu liên quan đến nhiều
chủ thể thực hiện và dờng nh đã hình thành nên một số "kỹ năng" trong cơ chế
cũ.
2.4. Thực hiện Quy chế dân chủ trên lĩnh vực chính trị ở xã trong thời
gian qua.
Trong quá trình đổi mới, đồng thời với việc thực hiện dân chủ về kinh tế,
xã hội là việc thực hiện dân chủ về chính trị. Để thực hiện mục tiêu dân giàu, nớc
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, Đảng ta rất quan tâm đến việc động
viên nhân dân tham gia vào quá trình đổi mới, tạo mọi điều kiện để nhân dân trực
tiếp tham gia quản lý xã hội, thực hiện quyền làm chủ của mình. Dân chủ về
chính trị trớc hết là quyền đợc thông tin. Chính quyền ở xã Hồng Long đã tổ chức
25