PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nông nghiệp là một mặt trận hàng đầu, là địa bàn chiến lược quan trọng
trong ổn định chính trị, xã hội và tăng trưởng kinh tế, là vấn đề được Đảng và
Nhà nước ta khẳng định trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Chúng ta không thể làm giàu từ nông nghiệp, nhưng không thể ổn định xã hội và
tăng trưởng kinh tế nếu đất nước thiếu lương thực, thực phẩm và nông nghiệp
nghèo nàn lạc hậu. Hầu hết các nước trên thế giới đều không bỏ qua nền nông
nghiệp mặc dù đã phát triển các ngành mũi nhọn khác. Vì thực tế nền nông
nghiệp có thế khai thác tối đa các yếu tố nguồn lực và thỏa mãn nhu cầu tại chỗ.
Riêng các nước trong khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam, là nước nông
nghiệp gần 80% dân số sống ở nông thôn - thì nông nghiệp chiếm vị trí quan
trọng, nó quyết định sự sống còn của đất nước không những trước mắt mà còn
lâu dài
Kể từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn
Việt Nam có nhiều chuyển biến mạnh mẽ. Sản xuất nông nghiệp – lâm nghiệp
tăng lên liên tục với tốc độ khá cao và đã đạt được những thành tựu hết sức quan
trọng, nền nông nghiệp từ sản xuất nhỏ, tự cung tự cấp theo phương thức truyền
thống đã chuyển sang nền sản xuất hàng hóa, sản xuất khối lượng nông sản lớn
và đảm bảo nhu cầu tiêu dùng trong nước và góp phần xuất khẩu. Chế độ độc
canh cây lúa dần được thay thế bằng một số cây trồng có giá trị kinh tế cao.
Điều đó đã và đàng góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, cải thiện điều
kiện sống cho người dân và xây dựng nông thôn mới văn minh, hiện đại.
Tuy nhiên do nền nông nghiệp nước ta mới bắt đầu phát triển nên còn
nhiều hạn chế trong sản xuất nông nghiệp, lao động nông thôn chủ yếu vẫn là
lao động thủ công, có sở vật chất kĩ thuật còn lạc hậu, trình độ lao động trong
nông nghiệp chưa cao. Do đó chưa tận dụng hết tiềm năng sẵn có của mình để
sản xuất đạt hiệu quả cao. Chất lượng sản phẩm nông nghiệp còn thấp chưa đáp
ứng cải thiện đời sống của người dân, chưa cung cấp đủ nguyên liệu cho ngành
Trang 1
công nghiệp sản xuất hàng hóa và xuất khẩu. Tình trạng thất nghiệp, nghèo đói,
du canh du cư, di dân tự do còn tồn tại và đặc biệt là môi trường càng ngày bị
của người dân đã có nhiều khởi sắc, thu nhập của người dân ngày càng tăng, cơ
sở vật chất được trang bị đầy đủ và tiến bộ hơn.
Tuy nhiên xã Ngọc sơn là một xã miền núi thuộc phía tây của tỉnh Nghệ
An do đó còn gặp nhiều trở ngại, khó khăn về giao thông liên lạc, cơ sở vật chất
hạ tầng. Thêm vào đó là thời tiết diễn biến phức tạp như thiên tai, hạn hán, lũ
lụt. Đặc biệt là gió lào, gió mùa đông bắc đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình
sản xuất nông nghiệp của người dân nơi đây. Ngoài ra thì do tập quán sinh hoạt
của người dân miền núi còn ảnh hưởng thời xa xưa, sản xuất còn nhỏ lẻ, đầu tư
sản xuất nông nghiệp còn thấp, sản xuất còn mang tính tự cung tự cấp, sản phẩm
làm ra chưa đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường.
Xuất phát từ tình hình thực tế nói trên và khảo sát thực tiến ở địa phương,
tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài “ Thực trạng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu
cây trồng hàng năm ở xã Ngọc Sơn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An”.
Mục đích nghiên cứu đề tài:
- Đề tài đi sâu vào nghiên cứu tìm hiều, đánh giá thực trạng cơ cấu cây
trồng trên địa bàn xã. Từ đó đưa ra một số giải pháp để chuyển dịch cơ cấu cây
trồng trên địa bàn một cách hiệu quả hơn.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu mang tính khả thi nhằm đẩy mạnh
chuyển dịch cơ cấu cây trồng kinh tế của toàn xã
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng chuyển dịch
cơ cấu cây trồng trên địa bàn xã Ngọc sơn trong năm 2008, phân tích những khó
khăn, thuận lợi trong quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, đánh giá kết quả
và hiệu quả của những loại cây trồng chính.
Trang 3
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên địa bàn xã
Ngọc sơn
+ Về thời gian: số liệu thực tế của 40 hộ nông dân trong xã Ngọc Sơn trong
giai đoạn 2006-2008
Như vậy, cơ cấu cây trồng là tổ hợp của nhiều loại cây trồng trong một địa
bàn sản xuất, khu vực sản xuất, được bố trí với một tỷ lệ nhất định trong
không gian và thời gian cụ thể hay nói cách khác, cơ cấu cây trồng là biểu
hiện mối quan hệ tỷ lệ về diện tích đất trồng trọt giữa các loại cây trồng khác
nhau. Một cơ cấu cây trồng được xem là hợp lý khi tổ hợp của nhiều loại cây
trồng được bố trí với một tỷ lệ nhất định trong không gian và thời gian phù
hợp với điều kiện cụ thể của vùng, nhằm khai thác tối đa lợi thế so sánh
nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
Trang 5
Xét về mặt triết học, cơ cấu cây trồng là phản ánh cấu trúc tương
quan qua lại giữa các yếu tố cấu thành đối tượng trong đó trong một thời gian
nhất định. Hay nói cách khác mỗi yếu tố là tổ hợp của một thể thống nhất có
một số chức năng riêng biệt, được cấu tạo có quy luật và hệ thống theo một
trật tự tỷ lệ thích ứng. Nội dung của nó là biểu hiện vị trí và vai trò của từng
bộ phận hợp thành, chúng có mối quan hệ tương quan nhất định.
Muốn hình thành một cơ cấu cây trồng hợp lý cho một vùng, trước hết
phải xem xét điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội từng vùng. Do đó cơ cấu một
cây trồng hợp lý, không những không phát triển sản xuất một cách có lợi nhất
mà còn bảo vệ đất đai, môi trường. Yêu cầu lớn nhất của cơ cấu cây trồng là
trong hệ thống canh tác là lợi dụng các điều kiện thời tiết khí hậu, đất đai
nhằm tránh được các tác hại do thiên tai gây ra hạn chế những ảnh hưởng của
lũ lụt, hạn hán không ngừng thâm canh cải tạo đất
Bên cạnh đó, lợi dụng những đặc tính sinh học tốt của cây trồng như khả
năng chống chịu điều kiện ngoại cảnh, sâu bệnh, tính thích ứng rộng rãi có
tiềm năng cho năng suất cao và chất lượng sản xuất tốt
Về mặt kinh tế, cơ cấu cây trồng phải đạt yêu cầu:
- Đáp ứng được việc tổ chức các vùng sản xuất chuyên canh có tỷ suất hàng
hóa cao
- Đảm bảo cho việc tổ chức các yếu tố đầu vào hợp lý, phát triển sản xuất
đa dạng và kết hợp chặt chẽ giữa trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và nuôi
XHCN mục tiêu lớn nhất của sản xuất hàng hóa là ngày càng tạo ra nhiều
của cải, vật chất, thỏa mãn ngày càng cao nhu cầu của xã hội. Bên cạnh đó
vẫn không quên tính đến hiệu quả kinh tế và tiết kiệm chi phí, đây là
thước đo đánh giá trình độ quản lý của cơ quan, tổ chức. Đảng và nhà
nước ta cũng đã xác định rằng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng
Trang 7
XHCN. Trong đó huy động mọi nguồn lực cùng tham gia phát triển kinh
tế. Nhà nước đóng vai trò điều tiết nền kinh tế, tránh tình trạng phát triển
ồ ạt không định hướng, chạy theo lợi nhuận gây lảng phí ngân sách nhà
nước và tiền của nhân dân. Vì vậy cần tuân thủ nguyên tắc này khi chuyển
đổi cơ cấu
+ Thứ 2. Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng cũng cần đảm bảo tính kỹ thuật.
Nghĩa là chuyển dịch phải phù hợp với điều kiện tư nhiên, kinh tế, kỹ thuật
của địa phương. Tránh tình trạng điều kiện vật chất của vùng còn nhiều hạn
chế, lạc hậu mà bố trí những loại cây trồng có yêu cầu kỹ thuật cao thì việc
chuyển đổi cơ cấu cây trồng không những không mang lại hiệu quả cao mà
còn phá vỡ hệ thống canh tác của vùng. Mặt khác, đặc điểm của sản xuất
nông nghiệp phù thuộc vào điều kiện tự nhiên và có tính thời vụ cao. Vì thế
công tác kỹ thuật đòi hỏi cao, chính xác nếu không sẽ cho năng suất thấp
+ Thứ 3. Yếu tố xã hội – nhân văn của quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng
không mâu thuẫn với tập quán canh tác của vùng, thị hiếu tiêu thụ. Thêm vào
đó, xác định cây trồng chính là điều kiện cần thiết của các cơ quan sản xuất
hoặc các hộ gia đình trồng nhiều loại cây trồng. Tuy nhiên, khi nói về yếu tố
xã hội và nhân văn không có nghĩa là chạy theo lợi nhuận trước mắt mà phải
biết tiếp thu, kế thừa những nét tích cực của người dân trong từng địa
phương. Đây là một trong những yếu tố quan trọng trong truyền bá và áp
dụng kỹ thuật mới của người dân. Đồng thời những cây trồng mới, kỹ thuật
mới phải chứng minh được hiệu quả của nó và phải được người dân chấp
nhận. Vì công tác khuyến nông, làm thử trên quy mô nhỏ và phải được chú
- vị trí địa lý: đây là yếu tố quan trọng đối với bất kỳ một cơ quan sản xuất
kinh doanh nào khi muốn định hướng sản xuất, chọn cây trồng như thế nào để
đạt hiệu quả như mong muốn thì trước hết phải căn cứ vào vị trí nơi sản xuất.
Đối với những vùng gần với trung tâm thành phố, thuận lợi để phát triển các loại
Trang 9
cây trồng rau, cây ăn quả, hoa, cây cảnh nhằm đáp ứng được nhu cầu tươi sống
và giải trí. Những loại cây này có đặc điểm là khó bảo quản và dễ hư hỏng khi
vận chuyển đường xa. Trong khi đó, các vùng xa trung tâm, vùng núi nên bố trí
các loại cây trồng lâu năm, cây nguyên liệu cho công nghiệp và các loại cây
trồng có đặc tính dễ bảo quản hơn như ngô, lạc có thể nói việc nghiên cứu, xác
định và kiểm tra chuyển đổi cơ cấu cây trồng có xu hướng thuận lợi hơn cho các
vùng trung tâm khoa học kỹ thuật, viên nghiên cứu, nhà máy chế biến
- Đất đai. Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt trong sản xuất nông
nghiệp là thành phần quan trọng trong hệ sinh thái, là nguồn cung cấp chất dinh
dưỡng, nước cho hệ thống cây trồng. Tùy thuộc vào địa hình, vị trí địa lý, độ
dốc, nước ngầm, thành phần hóa học của đất để bố trí cây trồng cho thích hợp.
Hàm lượng chất dinh dưỡng đất quyết định đến năng suất cây trồng. Tuy vậy cơ
cấu cây trồng đòi hỏi ở chất đất giàu chất dinh dưỡng nhưng cũng có nhiều loại
cây chịu được những loại đất có tính chất xấu. Hàm lượng chất dinh dưỡng
trong đất có thể khắc phục bằng cách bón phân. Phần lớn các loại cây trồng có
phản ứng mạnh mẽ tới loại đất có độ màu mỡ cao đem lại giá trị kinh tế cao.
- Thời tiết khí hậu. Nông nghiệp được tiến hành ngoài trời nên giữa cây
trồng và ngoại cảnh có mối quan hệ mật thiết với nhau. Đặc điểm này là nguồn
gốc sinh ra tính thời vụ của cây trồng. Khí hậu ảnh hưởng lớn đến cơ cấu cây
trồng nhưng nếu chúng ta nắm vững được những yếu tố này thì việc bố trí cây
trồng hợp lý, giảm được tính thời vụ và hạn chế được những thiệt hại do thời tiết
gây ra thì việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đa dạng hóa các loại cây sẽ phần
nào khắc phục được những nhược điểm này.
1.1.2.2. Nhóm nhân tố kinh tế - kỹ thuật
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng không những phụ thuộc vào yếu tố tự nhiên
trồng diễn ra thuận lợi và nhanh chóng. Mặt khác, cơ sở hạ tầng kém phát
Trang 11
triển sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cây
trồng thiếu nước hoặc không chủ động tưới tiêu sẽ cho năng suất thấp, cản
trở cho việc bố trí cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa.
+ Thị trường. Kinh tế thị trường có tác dụng to lớn đối với sự phát triển khoa
học, công nghệ, đối với sự thay đổi của cơ cấu ngành, vùng kinh tế, đối với
sự tăng năng suất lao động và phát triển lực lượng sản xuất xã hội. Trong
nền kinh tế hàng hóa thị trường là khâu trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng,
là điểm tập kết của quan hệ hàng hóa để đảm bảo sự lao động không ngừng
của quá trình tái sản xuất xã hội. Do đó thị trường luôn là yếu tố quyết định
sự phát triển đặc biệt nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hình thành cơ cấu kinh
tế.
Trong sản xuất nông nghiệp việc nghiên cứu thị trường, xác định số
lượng, chất lượng, chủng loại sản phẩm mà thị trường đang yêu cầu. Từ đó
bố trí cơ cấu sản xuất, cớ cấu cây trồng cho mình để cung ứng sản phẩm ra
thị trường kịp thời. Nếu sản xuất mà không nắm bắt được thông tin thị trường
kịp thời thì sản phẩm sẽ bị ứ đọng, không tiêu thụ được. Trong khi đó sản
phẩm nông nghiệp là sản phẩm tươi sống cần được tiêu thụ sản phẩm trong
thời gian ngắn.
+ Khoa học công nghệ: trong thời đại ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển
như vũ báo. Tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ diễn ra trên thế giới và
trong nước có mối quan hệ mạnh mẽ đến sự phát triển của cơ cấu kinh tế. Vì
thế trong sản xuất nông nghiệp cần tổ chức công tác tập huấn kỹ thuật một
cách đồng bộ từ đơn vị đến cơ sở, kết hợp với việc xây dựng dịch vụ nông
nghiệp rộng rãi để nhanh chóng đưa tiến bộ mới vào sản xuất.
1.1.2.3. Nhóm nhân tố vĩ mô
Đây là phương hướng chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, là
chiến lược phát triển kinh tế xã hội ngắn hạn và dài hạn của từng vùng.
Những năm qua nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm khuyến khích
a. chỉ tiêu về kết quả sản xuất.
Khi nghiên cứu cơ cấu cây trồng và tìm ra giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển
đổi cơ cấu cây trồng hợp lý, có hiệu quả. Chúng tôi đã sử dụng tổng hợp hệ
thống nhiều chỉ tiêu, nghiên cứu mối quan hệ giữa các chỉ tiêu, phân tích
tổng hợp và so sánh kết quả thu được, bao gồm các chỉ tiêu sau:
+ Tổng giá trị sản xuất ( GO/ ha): là toàn bộ của cải vật chất và dịch vụ
nông nghiệp được sản xuất ra ở thời gian nhất định thường là một năm trên
đơn vị diện tích
n
GO =∑Q
i
. P
i
i=1
Q
i
: là sản phẩm hàng hóa
P
i
: là giá bán đơn vị sản phẩm
+ Chi phí trung gian (IC/ ha): là bao gồm những chi phí vật chất và dịch
vụ mua ngoài được sử dụng trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm nông
nghiệp trong một thời gian nhất định và trên một đơn vị diện tích nhất định.
n
IC = ∑ C
j
J = 1
C
j
Ngày nay xu thế quốc tế hóa ngày càng gia tăng trên tất cả các lĩnh vực
của đời sống kinh tế xã hội. Vấn đề giao lưu kinh tế giữa các nước ngày càng
được củng cố và mở rộng. Thực tế đó buộc các nước phát xác định cho mình
một nền sản xuất vững chắc với sản xuất chuyên môn hóa và tập trung hóa
cao độ dựa trên lợi thế so sánh của mình. Đối với những nước công nghiệp
phát triển, khoa học kỹ thuật tiên tiến, tài nguyên dồi dào thì sản xuất nông
nghiệp có đặc điểm nổi bật là chuyên môn hóa và tập trung hóa sản xuất. Họ
gặt hái được nhiều thành công và nhờ vào sự tác động mạnh mẽ, hiệu quả của
nền nông nghiệp hiện đại, tiến bộ của khoa học kỹ thuật thường thì yếu tố
Trang 15
môi trường vẫn được đưa lên hàng đầu nhằm phát triển một nền nông nghiệp
bền vững.
Bên cạnh đó, nhóm các nước đang phát triển vẫn chưa giải quyết cơ bản mối
quan hệ kinh tê – xã hội và môi trường sinh thái trong quá trình thiết lập các
hệ thống canh tác và bố trí cây trồng hợp lý. Tuy nhiên, gần đây các nước
này đã có những định hướng và mục tiêu phát triển song thành công của họ
còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật. Thực tế cho thấy
trong những năm qua, tiến bộ về công nghệ sinh học vào giống cây trồng
được áp dụng và mang lại hiệu quả mặc dù chưa được toàn diện. Bên cạnh
đó, cơ cấu cây trồng vẫn bị quốn hút theo nền kinh tế thị trường, mang đậm
nét truyền thống, chủ yếu dựa vào tính chất sản xuất tự nhiên, tự cung tự cấp.
Đại đa số những nước này còn gặp nhiều khó khăn trong vấn đề giải quyết
lương thực.
Đối với việt nam trong những năm qua, do nhận thức đúng đắn về tính tất
yếu và cần thiết của việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong quá trình phát
triển nền kinh tế đất nước. Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương,
chính sách đúng đắn tạo điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp phát triển nhằm
xây dựng nông thôn ngày càng đi lên. Việc nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây
trồng nhằm xóa bỏ dần chế độ độc canh cây lúa được triển khai và thu nhiều
kết quả. Các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới trong nông nghiệp được áp dụng
trồng hợp lý nhất.
Trang 17
B.TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA XÃ NGỌC SƠN, HUYỆN THANH CHƯƠNG,
TỈNH NGHỆ AN
2.1. Vị trí địa lý
Xã Ngọc Sơn là một xã miền núi phía Tây của tỉnh Nghệ An cách thị trấn
Dùng 7km về phía Đông với tổng diện tích đất tự nhiên 2221,15 ha, xã được
chia thành 13 xóm.
- Phía Bắc giáp với xã Thanh Thịnh – Thanh Chương
- Phía Nam giáp với xã Thanh Ngọc – Thanh Chương
- Phía Tây giáp với sông Lam, xã Xuân Tường – Thanh Chương
- Phía Đông giáp với Nam Hưng – Nam Đàn
Với vị trí địa ly này Ngọc Sơn có nhiều điều kiện phát triển kinh tế xã hội. Xã có
quốc lộ 46 chạy qua nên đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân trong việc phát
triển nông nghiệp và có thể kết hợp, liên kết với các xã lân cận để học hỏi kinh
nghiệm phát triển một cách tổng hợp. Phía Tây giáp sông Lam nên có một số
diện tích đất bãi bồi phù sa, màu mỡ thuận lợi cho phát triển cây hoa màu của
toàn xã
2.2. Điều kiện tự nhiên
2.2.1. Địa hình đất đai
- Địa hình: Ngọc Sơn là một xã trung du miền núi của huyện Thanh
Chương, địa hình phức tạp vừa có đồi núi vừa có đông bằng hẹp. Dân cư 1, 11,
12 sống dưới đồng núi nhỏ, vừa phát triển kinh tế rừng, vừa làm nông
- Đất đai: Diện tích đất của xã tương đồi lớn (2221,15 ha) nhưng quỹ đất
chưa sử dụng cũng chiếm tỷ lệ 25,8% hầu hết là do đồi núi chưa sử dụng Ngọc
Sơn có 3 nhóm đất chủ yếu. Đất đồi núi (xóm 1, 11, 12, 13), đất thịt nhẹ (xóm 2,
3, 4, 5), đất bãi bồi ven sông Lam (xóm 6, 7, 8, 9)
2.2.2. Thời tiết, khí hậu
Trang 18
Ngọc Sơn là một xã miền Tây của Nghệ An, bị ảnh hưởng của chế độ gió
6, 7, 8, nhiệt độ có lúc lên tới 39-40
0
C độ ẩm thấp, lượng mưa bốc hơi nhanh
gây hạn hán trên diện tích rộng ở địa bàn Ngọc Sơn .
2.2.3. Thủy văn, nguồn nước.
Trang 19
Xã Ngọc Sơn có diện tích mặt nước không rộng lắm ( 38,2 km
2
) chủ yếu
là đầm, hồ và các dòng sông chảy ven trên địa bàn xã. Đây là nguồn cung cấp
lượng nước cho toàn xã vào mùa hạn hán. Trên các con sông đã bố trí các máy
bơm, đập để tưới tiêu, thoát úng, giải hạn kịp thời. Tuy nhiên, do điều kiện vật
chất của xã còn nghèo nàn nên vào mùa mưa vẫn xảy ra ngập úng và mùa hè vẫn
có hiện tượng thiếu nước tưới tiêu.
2.3 Điều kiện kinh tế xã hội
2.3.1. Tình hình sử dụng đất đai của xã Ngọc Sơn
Ngọc Sơn có tổng diện tích đất rất lớn với 2221,15 ha, ta thấy được tình
hình sử dụng đất qua 3 năm có sự thay đổi liên tục. Trong đó quỹ đất nông
nghiệp chiếm số lượng lớn, năm 2005, diện tích đất nông nghiệp là 1279,03
chiếm 57,58% đến năm 2007 giảm xuống còn 1270,03 giảm 0,7%. Sở dĩ đất
nông nghiệp giảm là do xây dựng đường sá, kênh mương thủy lợi, các công
trình sự nghiệp và công trình công cộng. Trong diện tích đất sản xuất nông
nghiệp thì diện tích đất trồng lớn nhất là 413,03 chiếm 69% đất trồng cây hàng
năm. Trong đất nông nghiệp thì đất lâm nghiệp và đất nuôi trồng thủy sản tăng
dần từ năm 2005 đến năm 2007.
Qua bảng 1 cũng cho ta thấy được rằng, đất phi nông nghiệp tăng dần qua
các năm, cụ thể là năm 2005 diện tích đất phi nông nghiệp có 355,18 ha, đến
năm 2007 có 365,08 ha tăng 2,79%. Nguyên nhân là do sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế kéo theo đất thay đổi, chứng tỏ quá trình đô thi hóa đã diễn ra, chuyển từ
nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ buôn bán. Đây là sự thay đổi theo
III.Đ. CSD 186,94 26,42 586,04 26,38 586,04 26,20 -0,9 0,15
3.1.Đ. bằng CSD 118,67 20,20 118,17 20,16 118,17 20,16 -0,5 0,42
3.2.Đ. đồi núi CSD 468,27 79,80 467,87 79,84 467,87 79,80 -0,4 0,08
3.3.Đ. trống đồi trọc - - - - - - - -
( Nguồn báo cáo tình hình sử dụng đất năm 2007 của xã Ngọc Sơn)
Ngọc Sơn là một xã có quỹ đất nông nghiệp cũng như đất chưa sử dụng
rất lớn. Chính quyền địa phương cùng với sự hỗ trợ của nhà nước, sự nỗ lực của
nhân dân cần có chính sách sử dụng đất hợp lý để phát huy lợi thế của vùng, nhờ
Trang 21
đó tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần thay đổi bộ mặt nông
thôn của xã Ngọc Sơn. Đưa nông nghiệp nông thôn xã nhà hòa chung vào xu thế
phát triển nông nghiệp việt nam.
2.3.2. Dân cư và nguồn lao động.
BẢNG 2: TÌNH HÌNH NHÂN KHẨU VÀ LAO ĐỘNG CỦA XÃ NGỌC SƠN
QUA 3 NĂM (2006 – 2008)
Chỉ tiêu ĐVT
2006 2007 2008 2008/2006
SL % SL % SL % +/- %
1.Tổng số hộ
- Hộ NN
- Hộ phi NN
Hộ
Hộ
Hộ
1614
1353
261
100
83,8
2
581
5
1122
100
83,8
1
16,17
675
8
540
6
1352
100
79,90
20,1
0
682
7
546
0
1367
100
79,9
20,1
-110
-355
245
1,58
6,10
21,80
48
11
37
1,32
0,35
6,73
( Nguồn: báo cáo nhân khẩu và lao động của xã Ngọc Sơn)
Dân cư và nguồn lao động là nhân tố ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh,
là điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của loài người. Trước khi quy hoạch
phát triển kinh tế xã hội của một địa phương càn xem xét, đánh giá đúng năng
lực nguồn lực về dân cư và lao động địa phương đó.
Trang 22
Ngọc Sơn là một xã miền núi có dân số tương đối lớn, tỉ lệ lao động cao.
Trong những năm gần đây xã đã tổ chức tuyên truyền vận động nhân dân thực
hiện tốt chính sách dân số KHHGĐ nên tỉ lệ tăng dân số tự nhiên thấp và có xu
hướng giảm dần. Bảng 2 cho ta thấy dân số xã Ngọc Sơn giảm nhẹ trong 3 năm:
năm 2006 là 6937 người, năm 2007 là 6827 người (giảm 110 người tương ứng
1,58%). Có được thành quả này là do xã đã làm tốt công tác vận động sinh đẻ có
kế hoạch, động viên các cặp vợ chồng không sinh con thứ 3, vận động các chị
em đi khám phụ khoa, dùng các biện pháp tránh thai Trong năm 2008, có 5
xóm không có người sinh con thứ 3 trở lên.
Năm 2006, toàn xã có 114 hộ, đến năm 2008 tăng lên 1657 hộ (tăng 43 hộ,
tương ứng 2,66%). Số hộ tăng lên là do nhiều cặp gia đình trẻ mới kết hôn tách
ra ở riêng. Trong đó, hộ nông nghiệp năm 2006 là 1353, đến năm 2007 là 1381
hộ (Tăng 28 hộ, tương ứng 2,06%); hộ phi nông nghiệp tăng mạnh hơn: 0,74%.
Điều đó chứng tỏ là xã đã mở rộng phát triển các ngành nghề dịch vụ. Tuy
nhiên, Ngọc Sơn là một xã thuần nông nên người dân vẫn làm nông nghiệp là
chủ yếu, sự thay đổi này không lớn lắm.
Năm 2008 số nhân khẩu tham gia vào nghề phi nông nghiệp gia tăng 21,8%,
số nhân khẩu làm nông nghiệp giảm xuống 6,1%
này chúng ta tiếp tục theo dõi bảng số liệu sau:
BẢNG 3: TÌNH HÌNH TRANG BỊ TƯ LIỆU SẢN XUẤT CỦA XÃ NGỌC
SƠN QUA 3 NĂM ( 2006- 2008)
Chỉ tiêu ĐVT
2006 2007 2008 2008/2006
SL % SL % SL % +/ - %
1. Tổng đàn trâu bò Con 2648 1,95 2562 1,87 2484 1,79 -164 -0,93
Trang 24
2. Trâu, bò cày kéo Con 1095 0,81 1246 0,91 1311 0,95 216 1,19
3. Máy tuốt lúa Cái 1217 0,90 1301 0,95 1325 0,96 108 1,08
4. Máy bơm nước Cái 757 0,56 835 0,61 994 0,72 237 1,31
5. Máy cày Cái 2 0.001 3 0,00 5 0,003 3 2,5
6.Máy xay xát Cái 270 0,20 301 0,22 317 0,23 47 1,17
7.Bình bơm T.trừ sâu Cái 974 0.72 1274 0,93 1311 0,95 337 1,34
8. Xe cải tiến (bò lốp) Cái 1109 0,82 1164 0,85 1173 0.84 64 1,05
9. Cày, bừa, cuốc, xẻng Cái 1109 0,82 1191 0,87 1242 0,90 133 1,11
Qua bảng số liệu ta thấy rằng tổng đàn trâu bò có xu hướng giảm từ 2648 con
năm 2006 giảm xuống còn 2484 con của năm 2008. sự suy giảm của đàn trâu bò
được giải thích, là do chính sách giao đất giao rừng cho từng hộ nông dân, trước
đây các đồi núi là nơi chăn thả trâu, bò nhưng hiện này những khu vực đó đã
khoanh vùng để trồng cây. Do vây, khu vực chăn thả bị thu hẹp mà nguồn thức
ăn của trâu bò không chỉ là rơm rã mà còn phải có cỏ thì trâu bò mới đảm bảo đủ
thức ăn. Nhưng bên cạnh sự giảm về đàn trâu bò thì trâu, bò cày kéo lại gia tăng
từ 1095 con (2006) tăng lên 1311 con (2008), từng hộ gia đình đang từng bước
chăm lo cho tư liệu sản xuất đặc biệt là sức kéo. Xã Ngọc Sơn không thể dùng
máy cày trong quá trình sản xuất vì vùng đất ruộng rất manh mún không phù
hợp cho việc sử dụng máy cày.
Nhìn chung tư liệu sản xuất của xã từng ngày gia tăng từ cày, bừa, cuốc,xẻng
đến sức kéo. Đời sống của người dân ngày càng phát triển tạo điều kiện cho
từng hộ nông dân sắm sửa đầy đủ những vật dụng cần thiết để phục vụ quá trình