Thực trạng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Yên Bái tỉnh Lào Cai - Pdf 12

Lời mở đầu
1/ Tính cấp thiết của đề tài
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung,cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói
riêng là vấn đề đang đợc quan tâm hiện nay của nhiều nứoc trên thế giới,đặc
biệt là đối với những nớc đang phát triển.
ở nớc ta vốn là một nớc sản xuất nông nghiệp với gần 80% dân số sống
ở nông thôn và trên 70% dân số sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp.Trong
những năm qua Đảng và nha nớc ta luôn coi trong việc phát triển nông
nghiệp va coi đó la một giải pháp cơ bản quan trọng để đẩy mạnh kinh tế
nông nghiệp nông thôn theo hớng sản xuất hàng hoá.
Trong phát triển nông nghiệp thì chuyển dịch cơ cấu là một nội dung
quan trọng không thể thiếu.
Cùng với xu hớng phát triển chung đó trong những năm qua huyện Bát
xát cũng đã và đang từng bớc đổi mới, phát triển theo xu hớng chung của cả
nớc.
Xuất phát từ những thực tế đó em đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
Thực trạng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
huyện Bát xát tỉnh Lào Cai.
2/ Mục đích nghiên cứu đề tài:
Mục đích nghiên cứu đề tài là hệ thống hoá một số vấn đề lý luận và
thực tiễn về cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phân tích, đánh giá thực trạng cơ cấu
kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở huyện Bát
xát, rút ra những mặt đã đạt đợc những hạn chế và những vấn đề đặt ra cần
giải quyết trên cơ sở đó đa ra những quan điểm, phơng hớng, mục tiêu và các
giải pháp chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Bát
xát trong những năm tiếp theo.
3/ Đối tợng nghiên cứu đề tài:
Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung của cơ cấu kinh tế nông
nghiệp và sự biến đổi của các nội dung này trong quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp.
4/ Phơng pháp luận của chuyên đề:

của quá trình tái sản xuất và mở rộng của nền kinh tế thông qua các mối quan
hệ kinh tế. Đó là quan hệ tỷ lệ về lợng, chất cơ cấu kinh tế của một xã hội
luôn chịu ảnh hởng bởi quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất
của nền kinh tế. Mối quan hệ kinh tế đó không phải mối quan hệ riêng lẻ,
tách rời của các bộ phận kinh tế mà là những quan hệ tổng thể của các bộ
phận cấu thành nền kinh tế nh: Quan hệ giữa các ngành kinh tế (nông nghiệp,
công nghiệp, dịch vụ ), giữa các vùng kinh tế, giữa các thành phần kinh
tế những quan hệ này là những quan hệ cả về mặt l ợng lẫn mặt chất. Cơ
cấu kinh tế bao giờ cũng biểu hiện trong những điều kiện về thời gian và
không gian nhất định, trong những điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội nhất
định, thích hợp với điều kiện của mỗi nớc, mỗi vùng, mỗi địa phơng hoặc
doanh nghiệp. Đồng thời, cơ cấu kinh tế không tồn tại một cách cố định lâu
dài mà luôn vận động và phải có những chuyển dịch cần thiết, thích hợp với
sự thay đổi quá nhanh chóng cơ cấu kinh tế xã hội đề gây nên những thiệt
hại về kinh tế. Việc duy trì hay thay đổi cơ cấu kinh tế không phải là mục
tiêu mà chỉ là phơng tiện của việc tăng trởng và phát triển kinh tế. Vì vậy, có
nên biến đổi và chuyển dịch cơ cấu kinh tế hay không, chuyển dịch nhanh
hay chậm không phải dựa vào mong muốn chủ quan, mà phải dựa vào mục
tiêu đạt hiệu quả kinh tế xã hội nh thế nào. Điều này cần thiết cho sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi nớc, cơ cấu của mỗi ngành kinh tế, trong
đó có cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
2. Khái niệm về cơ cấu kinh tế nông nghiệp:
Nông nghiệp là tổ hợp các ngành kinh tế sinh học cụ thể trong lĩnh vực
nông, lâm, ng nghiệp.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là bộ phận cấu thành rất quan trọng trong cơ
cấu nền kinh tế quốc dân, có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển
kinh tế xã hội.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một tổng thể các quan hệ kinh tế đó là
các mối quan hệ tỷ lệ về số lợng, chất lợng và các quan hệ tơng tác lẫn nhau
giữa các bộ phận cấu thành nền nông nghiệp bao gồm các ngành sản xuất

gian cụ thể nhằm khai thác mọi u thế vốn có.
Xu thế chuyển dịch của cơ cấu vùng lãnh thổ theo hớng đi vào chuyên
môn hóa sản xuất và dịch vụ, hình thành những vùng sản xuất hàng hóa lớn
và hiệu suất cao.
Để hình thành cơ cấu vùng lãnh thổ hợp lý thì cần bố trí các ngành trên
vùng lãnh thổ hợp lý, để khai thác đầy đủ tiềm năng của từng vùng. Đặc biệt
cần bố trí các ngành chuyên môn hóa dựa trên những lợi thế so sánh của
vùng, đó là những vùng có đất đai tốt, khí hậu thuận lợi, đờng giao thông lớn
và các công nghiệp đô thị.
So với cơ cấu ngành thì cơ cấu vùng lãnh thổ có tính trí tuệ hơn, có sự ỳ
hơn, chậm chuyển dịch hơn vì thế khi bố trí các ngành chuyên môn hóa cần
đợc xem xét cụ thể, thận trọng nếu phạm sai lầm khó khắc phục, tổn thất
nặng nề.
3.3. Cơ cấu thành phần kinh tế:
Trong suốt một thời gian dài của thời kỳ bao cấp ở nớc ta cơ cấu thành
phần kinh tế chậm chuyển biến với sự tồn tại thuần nhất của hai loại hình
kinh tế: kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Sau khi chuyển sang nền kinh
tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc và theo định hớng xã hội chủ nghĩa thì
các thành phần kinh tế phát triển đa dạng nhiều thành phần.
Trong khu vực kinh tế nông nghiệp điều đáng chú ý trong quá trình
chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế nói lên các xu hớng sau:
Sự phát triển đa dạng của nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế hộ
nổi lên trở thành kinh tế hộ độc lập, tự chủ, đây là thành phần kinh tế năng
động nhất, tạo ra sản phẩm hàng hóa phong phú, đa dạng cho xã hội. Trong
quá trình phát triển, kinh tế hộ chuyển từ quá trình tự cung tự cấp sang sản
xuất hàng hóa nhỏ tiến tới hình thành các trang trại, nông trại (tức sản xuất
hàng hoá lớn).
Thành phần kinh tế quốc doanh có xu hớng giảm mạnh, Nhà nớc đang
có biện pháp sắp xếp, rà soát lại, hoặc chuyển dịch sang các chức năng khác
cho phù hợp với điều kiện hiện nay.

nông nghiệp cũng sẽ vận động biến đổi và phát triển không ngừng thông qua
sự chuyển dịch của ngay bản thân nó. Cơ cấu cũ sẽ mất đi và cơ cấu mới sẽ
hình thành phát triển đó là quá trình vận động không ngừng của sự vật và khi
cơ cấu mới trở thành lỗi thời lạc hậu nó lại đợc thay thế bởi một cơ cấu mới
tiến bộ hơn, hoàn thiện hơn. Sự vận động và biến đổi là tất yếu, phản ánh sự
phát triển không ngừng của văn minh nhân loại.
4.4. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một quá trình:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một quá trình làm thay đổi
cấu trúc và mối liên hệ của một nền kinh tế theo một mục đích và phơng h-
ớng nhất định.
Quá trình này tất yếu phải xảy ra bởi sự phát triển và vận động không
ngừng của sự vật do đó, không có một cơ cấu kinh tế cụ thể nào là hoàn thiện
và bất biến. Cơ cấu kinh tế nông thôn nói chung và cơ cấu kinh tế nông
nghiệp nói riêng sẽ vận động và chuyển hóa từ cơ cấu kinh tế cũ sang cơ cấu
kinh tế mới nhng việc này đòi hỏi phải có thời gian và qua các bậc thang nhất
định của sự phát triển. Đầu tiên là sự chuyển đổi về số lợng, khi lợng đợc tích
lũy đến độ nhất định sẽ dẫn đến sự chuyển đổi về chất. Đó là quá trình
chuyển hóa dần cơ cấu kinh tế cũ thành cơ cấu kinh tế mới phù hợp và có
hiệu quả hơn. Tất nhiên quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh hay
chậm còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó sự tác động của con ngời có ý
nghĩa quan trọng. Đặc biệt cần phải có những giải pháp chính sách và cơ chế
quản lý thích hợp để định hớng cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn nói chung và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng.
Tất cả mọi sự nóng vội hoặc bảo thủ sẽ dẫn đến sự trì trệ trong quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và gây phơng hại đến sự phát triển
của nền kinh tế quốc dân nói chung. Sự chuyển dịch nền kinh tế nông nghiệp
phải là một quá trình không thể khác đợc nhng không phải là một quá trình
tự phát do con ngời. Trên cơ sở nhận thức, nắm bắt đợc các quy luật khách
quan của cơ cấu kinh tế nông nghiệp con ngời sẽ tác động theo những mục
tiêu đã định nhằm chuyển dịch một cách có hiệu quả và đúng hớng phục vụ

với nhu cầu ngày càng cao của nhân dân hiện nay về nông sản thì chuyển
dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp phải nhằm cải thiện đời sống nhân dân và
ổn định chính trị xã hội.
5.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là điều kiện và nhu cầu để mở rộng
thị trờng:
Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp chính là điều kiện và yêu cầu để mở rộng thị trờng nhằm cung cấp
một khối lợng nông sản hàng hóa cho xã hội, nguyên liệu cho công nghiệp,
cung cấp hàng hóa cho xuất khẩu để mở rộng thị trờng quốc tế. Mặt khác nó
còn là nơi cung cấp một phần lực lợng lao động cho các ngành kinh tế quốc
dân và là thị trờng tiêu thụ lớn nhất các sản phẩm của ngành công nghiệp.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp sẽ giải phóng đợc sức
lao động sản xuất ở nông thôn từ đó cung cấp lao động cho công nghiệp và
dịch vụ.
5.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tạo cơ sở cho việc thay
đổi bộ mặt nông thôn nói chung và nông nghiệp nói riêng.
Để giúp cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thu đợc
kết quả. Trong thời gian qua Đảng và Nhà nớc đã ban hành rất nhiều những
chính sách nhằm đầu t cho nông nghiệp để tạo điều kiện cho nhu cầu phát
triển sản xuất kinh doanh của các ngành trong nông nghiệp.
Nh vậy, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp không
chỉ sản xuất trồng trọt chăn nuôi phát triển theo hớng sản xuất hàng hóa trên
cơ sở khai thác lợi thế của địa phơng mà cơ sở hạ tầng của nông thôn cũng
đợc tăng cờng, đầu t xây dựng. Vấn đề y tế giáo dục ở nông thôn cũng đợc
cải thiện, trình độ dân trí đợc nâng cao một bớc do đó việc chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp đã và đang từng bớc góp phần tích cực tới quá trình
công nghiệp hóa, đô thị hóa, nông nghiệp nông thôn và quá trình xây dựng
nông thôn mới.
5.4. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm tạo ra một nền
sản xuất chuyên môn hóa cao, thâm canh tiên tiến và các ngành liên kết

Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đợc thể hiện qua một
số chỉ tiêu nh:
- Thu nhập quốc dân trên một đơn vị diện tích
- Nhịp độ tăng trởng kinh tế, phúc lợi xã hội (y tế, giáo dục )
Bên cạnh đó một số mặt khác phản ánh kết quả của việc chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp nh: giá thành sản phẩm, năng suất cây trồng vật
nuôi
II. Những nhân tố ảnh hởng đến sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chịu ảnh hởng của nhiều nhân tố khác nhau,
mỗi nhân tố đều có vai trò vị trí và tác động nhất định tới cơ cấu kinh tế nông
nghiệp. Có những nhân tố tác động tích cực cũng có những nhân tố tác động
tiêu cực. Có những nhân tố vào thời điểm này vùng này đợc coi là năng động
nhng vào thời điểm khác vùng khác lại bị coi là sự trì trệ cho sự chuyển dịch .
Tổng hợp các nhân tố tác động đến cơ cấu kinh tế nông nghiệp cho phép
chúng ta tìm ra lợi thế so sánh của mỗi vùng, mỗi địa phơng. Từ đó, có thể
lựa chọn một cách sơ bộ một cơ cấu kinh tế hợp lý, hài hòa thích hợp với
từng địa phơng, từng vùng khác nhau.
Các nhân tố ảnh hởng đến cơ cấu kinh tế nông nghiệp có thể đợc chia
làm ba nhóm:
1. Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên:
Nhóm này bao gồm các yếu tố về vị trí địa lý, của các vùng lãnh thổ,
điều kiện đất đai, điều kiện khí hậu và thời tiết của các vùng đó. Các nguồn
tài nguyên khác của vùng (nguồn nớc, rừng, khoáng sản ).
Các nhân tố tự nhiên trên tác động một cách trực tiếp tới sự hình thành,
vận động và biến đổi của cơ cấu kinh tế nông nghiệp, sự tác động và ảnh h-
ởng của các điều kiện trên tới cơ cấu kinh tế nông nghiệp cũng không giống
nhau trong các nội dung của cơ cấu kinh tế nông nghiệp thì cơ cấu ngành và
cơ cấu lãnh thổ chịu sự ảnh hởng lớn nhất bởi các điều kiện tự nhiên. Còn các
cơ cấu khác thì ảnh hởng ít hơn.

động của con ngời. Những ngời sản xuất hàng hóa chỉ sản xuất và đem bán ra
thị trờng những sản phẩm mà họ cảm thấy chúng đem lại lợi nhuận thỏa đáng
cho mình. Nh vậy, thị trờng thông qua quan hệ cung cầu mà tín hiệu là giá cả
hàng hóa, chúng thúc đẩy hay ngăn cản ngời sản xuất tham gia hay không
tham gia vào thị trờng, do đó, chính từ thị trờng mà ngời sản xuất tự xác định
khả năng tham gia cụ thể của mình vào thị trờng với những loại sản phẩm
hàng hóa, dịch vụ gì với quy mô nh thế nào?, thông qua đó phản ánh cơ cấu
kinh tế từng vùng, từng địa phơng. Tuy nhiên do mức độ tiếp nhận thông tin
khác nhau, điều kiện sản xuất khác nhau lại chi phối số lợng ngời tham gia
vào việc tạo ra và tiêu thụ sản phẩm trên thị trờng cũng không giống nhau.
Bên cạnh đó, hệ thống chính sách kinh tế cũng tác động mạnh mẽ với
các văn bản, quy định, nghị định cùng tác động vào nền kinh tế nhằm thực
hiện các mục tiêu đã định. Với các công cụ quản lý vĩ mô khác nhau, thúc
đẩy việc hình thành một cơ cấu các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế hợp
lý, trình độ công nghệ ngày càng đợc nâng cao nhằm khai thác và sử dụng có
hiệu quả nhất các nguồn lực, các lợi thế của đất nớc và khu vực kinh tế nông
nghiệp. Để làm đợc điều đó thì đòi hỏi phải có những điều kiện vật chất nhất
định, tơng ứng với yêu cầu hình thành và chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Để đáp
ứng đòi hỏi về các điều kiện vật chất trên thì nhất thiết phải đầu t và phải có
vốn đầu t bởi vì quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đòi hỏi phải có những
nguồn vốn đầu t lớn. Chính vì điều này mà vốn đầu t có ảnh hởng trực tiếp rất
lớn tới sự hình thành và phát triển của các ngành kinh tế, các vùng kinh tế,
các thành phần kinh tế.
Xây dựng và tăng cờng cơ sở hạ tầng là điều kiện cần thiết để phát triển
kinh tế nông nghiệp, đảm bảo cho nền kinh tế hàng hóa phát triển nâng cao
đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Những vùng mà cơ sở hạ tầng
phát triển, đặc biệt là các công trình hạ tầng về kỹ thuật thì ở đó có điều kiện
để phát triển các ngành sản xuất chuyên môn hóa phù hợp với nhu cầu thị tr-
ờng và nguồn lực của vùng. Cơ sở hạ tầng cũng là điều kiện để ứng dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp và ngợc lại cơ sở hạ

dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp .
Cơ cấu sản xuất ngành nông nghiệp ở mỗi địa phơng, mỗi vùng thờng
làm không giống nhau, nó phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
của mỗi vùng đó.
ở các nớc đang phát triển, do lịch sử để lại cơ cấu nông nghiệp còn
mang nặng tính thuần nông, độc canh là chủ yếu nhng xu hớng chung của thế
giới sẽ chuyển dịch từ thuần nông, độc canh sang phát triển toàn diện đa
dạng.
Trên cơ sở nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của
một số vùng trung du, miền núi Bắc Bộ nớc ta ta có thể rút ra một số xu hớng
chung về chuyển dịch cơ cấu kinh tế sản xuất nông nghiệp nh sau:
Hầu hết các vùng không chỉ gói gọn trong sản xuất nông nghiệp mà mở
ra những ngành có giá trị kinh tế cao. Nhng việc sản xuất khó khăn hơn và
đòi hỏi cơ sở vật chất kỹ thuật nhất định và vốn đầu t cao hơn các tiểu ngành
khác.
Trong quá trình phát triển tỷ trọng của ngành lâm nghiệp, ng nghiệp
tăng lên trong khi đó tỷ trọng của ngành nông nghiệp giảm đi mặc dù ngành
này vẫn tăng trởng về giá trị và sản lợng.
Tất cả các vùng trung du, miền núi Bắc Bộ trên cơ sở phát triển lơng
thực thì đều chuyển từ nền sản xuất lúa gạo, từ sản xuất truyền thống sang
sản xuất hàng hóa cùng với việc phát triển các loại rau đậu, cây ăn quả cây
công nghiệp giá trị kinh tế cao. Do xu thế của ngành trồng trọt là tỷ trọng cây
lợng thực giảm, tỷ trọng các loại cây thực phẩm, cây công nghiệp, cây ăn quả
tăng dần.
Trong cơ cấu sản xuất của mỗi ngành xu hớng chung là tăng dần tỷ
trọng các loại cây trồng, vật nuôi có chất lợng sản phẩm cao, những sản
phẩm đặc sản Để tăng giá trị sản l ợng, tăng thu nhập cho các hộ nông dân
và phù hợp với nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của thị trờng.

Chơng II

kinh tế cao.
Trong tổng diện tích đất tự nhiên diện tích đất đợc sử dụng là 34524 ,3
ha chiếm 32,87%. Diện tích đất cha sử dụng : 70496,7 ha chiếm 67,13%
trong đó diện tích cha đợc sử dụng lớn nhất là diện tích núi đá và đồi núi cao
chiếm 67637,19 ha.
Trong đất nông nghiệp diện tích đất canh tác hàng năm là 6596,04 ha
trong đó lúa là 2979 ha; cây màu và cây công nghiệp hàng năm là 3315,04
ha; rau đậu là 306,6 ha.
Diện tích cây công nghiệp lâu năm là 68,9 ha; cây ăn quả là 610,4 ha
1.2. Về khí hậu:
Nớc ta là một nớc khí hậu nhiệt đới gió mùa, độ ẩm cao. Bát xát ngoài
những điều kiện chung trên còn có những điều kiện riêng biệt cụ thể sau:
- Nhiệt độ trung bình cả năm là 23,5
0
C, tháng lạnh nhất là 16,4
0
C, tháng
nóng nhất : 28,3
0
C nh vậy về nhiệt độ tơng đối thuận lợi cho phát triển cây
trồng vật nuôi. Tuy vậy, về mùa đông vẫn có rét đậm kéo dài và sơng muối
nên có ảnh hởng đến trồng trọt đặc biệt là chăn nuôi.
- Số giờ nắng trung bình trong năm là 126,33 giờ, tháng có số giờ nắng
nhiều nhất: 184 giờ và tháng có số giờ nắng ít nhất: 49 giờ.
- Lợng ma trung bình cả năm là 159,36 mm; tháng có lợng ma ít nhất:
1,5 mm; tháng có lợng ma nhiều nhất : 417,7 mm.
- Độ ẩm không khí từ 85,42 ữ 85,83%. Độ ẩm không khí cao nhất là vào
tháng 7 từ 86 ữ 90% với độ ẩm nh vậy có thể cho thấy rằng chúng ít ảnh h-
ởng đối với cây trồng trong thời kỳ thụ phấn.
Tóm lại với tính chất nhiệt độ nh trên khí hậu Bát xát thích hợp với

nghiệp là 50346 ngời chiếm 86,87% dân số của huyện.
-Trình độ dân trí chung còn thấp số ngời mù chữ trong độ tuổi lao động
là 19,47%, số lao động có kỹ thuật còn rất ít, chất lợng thấp chủ yếu là lao
động giản đơn, sự phân công lao động cha rõ nét.
Trong những năm tới đây, ngoài giải quyết vấn đề tăng dân số cần tập
trung đào tạo nguồn nhân lực và bố trí sản xuất sao cho phù hợp với tập quán
của các cộng đồng dân tộc
Biểu 1: Dân số và lao động của huyện Bát xát theo tiểu vùng
Tiểu vùng Diện tích
(km
2
)
Dân số (ngời) Lao động
Tổng số Nông nghiệp
Toàn huyện 1050,21 57947 29874 22244
Tiểu vùng 1 227,52 26164 15082 10521
Tiểu vùng 2 822,69 31785 16765 13723
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Bát xát.
2.3. Cơ sở hạ tầng:
* Giao thông:
Trục giao thông chính chạy từ thị xã Lào Cai tới Bản Xèo với độ dài 53
km, trong đó có 32 km đờng đạt tiêu chuẩn cấp 4 hiện nay. Đờng trong thị
trấn có 5,8 km trong đó có 2,1 km là đờng trục giao thông chính.
Ngoài ra, còn có 15 km đờng đạt tiêu chuẩn cấp 4 từ thị xã Lào Cai đến
huyện Sa Pa qua xã Cốc San của huyện.
Trong những năm qua huyện đã liên tục mở thêm các tuyến đờng giao
thông đến các xã và các đờng liên thôn.
Nếu nh năm 1991 số xã có đờng ô tô đến xã là 11 thì đến năm 2000 đã
là 21 xã có đờng ô tô đến xã. Cũng trong năm 2000 huyện đã làm mới đợc
44,9 km và những km đờng này đợc xếp vào đờng cấp A giao thông miền

nổ nguồn điện này khá phổ biến do nó tiện lợi cho các hộ gia đình và do có
điều kiện nguồn nớc thuận lợi.
Với những thực trạng trên có thể đa ra nhận xét rằng mạng lới điện của
huyện còn cha tơng xứng với phát triển mạng lới điện nông thôn của Đảng và
Nhà nớc.
* Trờng học
Trong những năm qua cùng với các chính sách phát triển giáo dục đào
tạo của Đảng và Nhà nớc. Lào Cai nói chung và Bát xát nói riêng cũng phát
triển giáo dục khá mạnh đặc biệt là bậc tiểu học số lợng học sinh, giáo viên
và trờng lớp tăng nhanh. Năm 2000 số trờng học của huyện là 34 trong đó
tiểu học là 19, trung học cơ sở là 14 và 1 trờng phổ thông trung học. Số
phòng học cũng tăng nhanh đáng kể năm 2000, số phòng học của huyện là
429 trong đó 232 phòng học cho tiểu học, 190 phòng cho THCS và 7 phòng
học cho phổ thông trung học. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực của
giáo dục cũng còn có những mặt hạn chế nh trờng học còn tạm bợ sơ sài, học
sinh đi học không đầy đủ, dụng cụ giảng dạy và chất lợng chuyên môn của
giáo viên còn nhiều hạn chế những mặt hạn chế trên vừa bức xúc vừa có tính
lâu dài. Trong những năm tới huyện cần quan tâm hơn nữa về các mặt trên.
* Cơ sở y tế:
Cơ sở y tế của huyện có một bệnh viện đa khoa, 5 phòng khám khu vực
và 23 trạm y tế tại các xã trong huyện. Tổng số giờng bệnh của huyện là 182
giờng bệnh. Hiện nay cơ sở cho bệnh viện đa khoa và các trạm y tế xã còn rất
thiếu thốn, thuốc men còn hạn chế. Các trạm y tế các xã đang xuống cấp
trầm trọng nhiều xã trạm y tế chỉ tồn tại ở hình thức nh xã Y Tý, Dền Thàng.
3. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội ảnh hởng
đến cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện:
3.1. Những thuận lợi và nguồn lực phát triển:
Huyện Bát xát có lợi thế là gần thị xã trung tâm của tỉnh địa hình ở
những vùng giáp thị xã khá bằng phẳng do nằm trong thung lũng của dãy núi
Hoàng Liên cho nên phát triển kinh tế cũng nh đi lại khá thuận lợi, ngoài ra


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status