Trờng đhktqd
Luận văn tốt nghiệp khoa ktnn&ptnt
Lời mở đầu
1/ Tính cấp thiết của đề tài
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung,cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói
riêng là vấn đề đang đợc quan tâm hiện nay của nhiều nứoc trên thế giới,đặc
biệt là đối với những nớc đang phát triển.
ở nớc ta vốn là một nớc sản xuất nông nghiệp với gần 80% dân số sống
ở nông thôn và trên 70% dân số sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp.Trong
những năm qua Đảng và nha nớc ta luôn coi trong việc phát triển nông
nghiệp va coi đó la một giải pháp cơ bản quan trọng để đẩy mạnh kinh tế
nông nghiệp nông thôn theo hớng sản xuất hàng hoá.
Trong phát triển nông nghiệp thì chuyển dịch cơ cấu là một nội dung
quan trọng không thể thiếu.
Cùng với xu hớng phát triển chung đó trong những năm qua huyện Bát
xát cũng đã có mức tăng trởng đáng kể kéo theo sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hớng tích cực,bớc đầu đã manh nha hình thành nên sản xuất hàng hoá
lớn tạo tiền đề phát triển một nền nông nghiệp hiện đại
Xuất phát từ những thực tế đó em đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
Thực trạng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
huyện Bát xát tỉnh Lào Cai.
2/ Mục đích nghiên cứu đề tài:
Mục đích nghiên cứu đề tài là hệ thống hoá một số vấn đề lý luận và
thực tiễn về cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phân tích, đánh giá thực trạng cơ cấu
kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở huyện Bát
Lý khánh lâm 1 lớp :kvii
Trờng đhktqd
Luận văn tốt nghiệp khoa ktnn&ptnt
xát, rút ra những mặt đã đạt đợc những hạn chế và những vấn đề đặt ra cần
giải quyết trên cơ sở đó đa ra những quan điểm, phơng hớng, mục tiêu và các
giải pháp chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Bát
thành và phát triển của nền kinh tế trong giới hạn một địa phơng, một quốc
gia hay một khu vực. Nền kinh tế là một hệ thống phức tạp, bao gồm nhiều
thành phần, nhiều nhân tố có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại
lẫn nhau. Cơ cấu kinh tế thể hiện mối tơng quan giữa các thành phần các
nhân tố đó.. Trong bất kỳ một nền kinh tế quốc dân nào ngời ta cũng có thể
định tính hoặc định lợng mức độ phát triển của cơ cấu kinh tế.
Cơ cấu kinh tế có ảnh hởng mạnh mẽ đến tăng trởng và phát triển kinh
tế. Một cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ cho phép tạo nên sự cân đối, hài hoà của nền
kinh tế để sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực tài nguyên, của cải
vật chất và lao động. Xem xét cơ cấu kinh tế là xem xét cấu trúc bên trong
của quá trình tái sản xuất và mở rộng của nền kinh tế thông qua các mối quan
hệ kinh tế. Đó là quan hệ tỷ lệ về lợng, chất cơ cấu kinh tế của một xã hội
luôn chịu ảnh hởng bởi quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất
của nền kinh tế. Mối quan hệ kinh tế đó không phải mối quan hệ riêng lẻ,
tách rời của các bộ phận kinh tế mà là những quan hệ tổng thể của các bộ
phận cấu thành nền kinh tế nh: Quan hệ giữa các ngành kinh tế (nông nghiệp,
công nghiệp, dịch vụ ), giữa các vùng kinh tế, giữa các thành phần kinh
tế những quan hệ này là những quan hệ cả về mặt l ợng lẫn mặt chất. Cơ
Lý khánh lâm 3 lớp :kvii
Trờng đhktqd
Luận văn tốt nghiệp khoa ktnn&ptnt
cấu kinh tế bao giờ cũng biểu hiện trong những điều kiện về thời gian và
không gian nhất định, trong những điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội nhất
định, thích hợp với điều kiện của mỗi nớc, mỗi vùng, mỗi địa phơng hoặc
doanh nghiệp. Đồng thời, cơ cấu kinh tế không tồn tại một cách cố định lâu
dài mà luôn vận động và phải có những chuyển dịch cần thiết, thích hợp với
sự thay đổi quá nhanh chóng cơ cấu kinh tế xã hội đề gây nên những thiệt
hại về kinh tế. Việc duy trì hay thay đổi cơ cấu kinh tế không phải là mục
tiêu mà chỉ là phơng tiện của việc tăng trởng và phát triển kinh tế. Vì vậy, có
nên biến đổi và chuyển dịch cơ cấu kinh tế hay không, chuyển dịch nhanh
- Nuôi trồng và khai thác thủy sản.
Trong từng nhóm lại đợc phân chia nhỏ hơn, chẳng hạn trong nội bộ
ngành trồng trọt đợc chia ra thành ngành trồng cây lơng thực, cây ăn quả và
hoa, cây công nghiệp.
Chuyển dịch cơ cấu ngành trong nông nghiệp biểu hiện sự thay đổi các
mối quan hệ tỷ lệ giữa trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, giữa cây l-
ơng thực, cây công nghiệp, cây thực phẩm, cây ăn quả Trong trồng trọt, do
vậy cần phân biệt sự khác nhau trong nội bộ ngành nông nghiệp và phải phân
biệt theo đặc trng kỹ thuật và kinh tế của chúng để tạo ra hệ thống phân công
lao động cho phù hợp giữa các tiểu thủ ngành trong cơ cấu kinh tế nông
nghiệp.
3.2. Cơ cấu vùng lãnh thổ:
Lý khánh lâm 5 lớp :kvii
Trờng đhktqd
Luận văn tốt nghiệp khoa ktnn&ptnt
Sự phân công lao động theo ngành kéo theo sự phân công lao động theo
lãnh thổ, đó là hai mặt của một quá trình gắn bó hữu cơ với nhau. Sự phân
công theo ngành bao giờ cũng diễn ra trên vùng lãnh thổ nhất định, nghĩa là
cơ cấu vùng lãnh thổ là nơi bố trí các ngành sản xuất và dịch vụ theo không
gian cụ thể nhằm khai thác mọi u thế vốn có.
Xu thế chuyển dịch của cơ cấu vùng lãnh thổ theo hớng đi vào chuyên
môn hóa sản xuất và dịch vụ, hình thành những vùng sản xuất hàng hóa lớn
và hiệu suất cao.
Để hình thành cơ cấu vùng lãnh thổ hợp lý thì cần bố trí các ngành trên
vùng lãnh thổ hợp lý, để khai thác đầy đủ tiềm năng của từng vùng. Đặc biệt
cần bố trí các ngành chuyên môn hóa dựa trên những lợi thế so sánh của
vùng, đó là những vùng có đất đai tốt, khí hậu thuận lợi, đờng giao thông lớn
và các công nghiệp đô thị.
So với cơ cấu ngành thì cơ cấu vùng lãnh thổ có tính trí tuệ hơn, có sự ỳ
hơn, chậm chuyển dịch hơn vì thế khi bố trí các ngành chuyên môn hóa cần
tế tơng ứng. Điều đó khẳng định rằng: việc xác lập cơ cấu kinh tế nông
nghiệp cần tôn trọng tính khách quan của nó và càng không thể áp đặt chủ
quan duy ý chí. Trong quá trình phát triển của lực lợng sản xuất và phân công
lao động xã hội tự các mối quan hệ kinh tế đã có thể xác lập những tỷ lệ nhất
định mà ta gọi là cơ cấu.
4.2.. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang tính lịch sử nhất định.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp nh đã phân tích ở trên là tổng thể các mối
quan hệ kinh tế, đợc xác lập theo những tỷ lệ nhất định về mặt lợng trong
thời gian cụ thể. Tại thời điểm đó những điều kiện về kinh tế xã hội và tự
Lý khánh lâm 7 lớp :kvii
Trờng đhktqd
Luận văn tốt nghiệp khoa ktnn&ptnt
nhiên, các tỷ lệ đó đợc xác lập và hình thành tạo thành một cơ cấu kinh tế
nhất định. Song một khi có những biến đổi của một điều kiện nói trên thì lập
tức các mối quan hệ này cũng thay đổi và hình thành một cơ cấu mới thích
hợp hơn với điều kiện mới.
4.3. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp luôn luôn vận động.
Trong triết học Mác nói rằng: Sự vật hiện tợng luôn luôn vận động và
biến đổi không ngừng. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp cũng vậy chúng luôn
luôn vận động không ngừng và phát triển theo hớng ngày càng hợp lý, hiệu
quả hơn. Lực lợng sản xuất ngày càng phát triển, con ngời ngày càng văn
minh, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, phân công lao động càng tỉ mỉ
phức tạp tất yếu sẽ dẫn đến cơ cấu kinh tế ngày càng hoàn thiện. Sự vận động
và biến đổi không ngừng của các yếu tố, các bộ phận trong nền kinh tế quốc
dân nói chung và trong khu vực kinh tế nông nghiệp nói riêng. Cơ cấu kinh tế
nông nghiệp cũng sẽ vận động biến đổi và phát triển không ngừng thông qua
sự chuyển dịch của ngay bản thân nó. Cơ cấu cũ sẽ mất đi và cơ cấu mới sẽ
hình thành phát triển đó là quá trình vận động không ngừng của sự vật và khi
cơ cấu mới trở thành lỗi thời lạc hậu nó lại đợc thay thế bởi một cơ cấu mới
tiến bộ hơn, hoàn thiện hơn. Sự vận động và biến đổi là tất yếu, phản ánh sự
phát triển nói lên tổng thể kinh tế nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế quốc
dân nói chung.
5. Vai trò vị trí của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp:
5.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm đáp ứng sự phát
triển của nền kinh tế thị trờng, đáp ứng nhu cầu về nông sản phẩm của xã
hội nhu cầu tiêu dùng của dân c.
Cùng với sự chuyển đổi nền kinh tế đất nớc ta sang nền kinh tế thị tr-
ờng, sự phát triển của nền kinh tế nông thôn nói chung và của nông nghiệp
Lý khánh lâm 9 lớp :kvii
Trờng đhktqd
Luận văn tốt nghiệp khoa ktnn&ptnt
nói riêng đã và đang phải đối mặt với sự phát triển mạnh mẽ và không ngừng
của thị trờng.
Trong nền kinh tế thị trờng thì thị trờng luôn là yếu tố quyết định cho sự
phát triển kinh tế và đặc biệt là nó ảnh hởng quyết định đến việc hình thành
và biến đổi cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng.
Trong khi xã hội không ngừng phát triển, nhu cầu của con ngời về nông sản
cũng theo đó mà không ngừng tăng lên cả về số lợng và chất lợng,chủng loại
điều đó cũng chính là đòi hỏi của thị trờng mà sản xuất đáp ứng.
Để sản xuất nông nghiệp đáp ứng đợc yêu cầu của thị trờng và nhu
cầu của ngời tiêu dùng đòi hỏi phải thực hiện đa dạng hóa sản phẩm và dịch
vụ, muốn vậy thì không thể dừng lại cơ cấu kinh tế nông nghiệp truyền thống
mà đòi hỏi phải thực hiện đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ (chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp phải theo yêu cầu và tác động của thị trờng). Thị tr-
ờng và nhu cầu càng phát triển thì cơ cấu kinh tế nông nghiệp càng phải biến
đổi phong phú và đa dạng hơn. Đơng nhiên nền kinh tế thị trờng thể có thể
thừa nhận một cơ cấu kinh tế hiệu quả nghĩa là cơ cấu đó phải có khả năng
vừa đáp ứng tốt nhu cầu của thị trờng vừa đem lại lợi nhuận cho ngời sản
xuất.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang lại lợi ích kinh
công nghiệp hóa, đô thị hóa, nông nghiệp nông thôn và quá trình xây dựng
nông thôn mới.
5.4. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm tạo ra một nền
sản xuất chuyên môn hóa cao, thâm canh tiên tiến và các ngành liên kết
chặt chẽ với nhau hơn.
Lý khánh lâm 11 lớp :kvii
Trờng đhktqd
Luận văn tốt nghiệp khoa ktnn&ptnt
Bởi trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp các địa ph-
ơng đã chú ý khai thác các lợi thế so sánh của địa phơng mình để phát triển
sản xuất hàng hóa, cho nên ở mỗi vùng, mỗi địa phơng đã tạo ra các vùng sản
xuất cây trồng, vật nuôi đặc thù phù hợp với điều kiện đất đai khí hậu và điều
kiện sản xuất ở những nơi đó theo hớng tập trung, chuyên môn hóa và sản
xuất hàng hóa làm cho sản phẩm nông nghiệp đa dạng và phong phú.
Kết quả của việc sản xuất tập trung, chuyên môn hóa trong quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đã dẫn đến sự liên kết ngày càng
chặt chẽ hơn nữa giữa các ngành, các nghề sản xuất ở nông thôn do đó đã tạo
ra một dây chuyền sản xuất chặt chẽ không thể tách rời nhau. Ngành nghề
này hỗ trợ tác động cho ngành nghề kia cùng nhau phát triển.
6. Những chỉ tiêu phản ánh kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp nông thôn:
6.1. Chỉ tiêu phản ánh cơ cấu kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp:
Có nhiều chỉ tiêu để phản ánh cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong đó chỉ
tiêu quan trọng nhất là cơ cấu giá trị sản xuất theo ngành, theo lãnh thổ và
theo thành phần kinh tế.
Ngoài ra, để phản ánh cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngời ta còn sử dụng
các chỉ tiêu sau:
- Cơ cấu diện tích theo ngành, theo vùng kinh tế.
- Cơ cấu vốn đầu t theo ngành, theo vùng và theo thành phần kinh tế.
Luận văn tốt nghiệp khoa ktnn&ptnt
Các nhân tố ảnh hởng đến cơ cấu kinh tế nông nghiệp có thể đợc chia
làm ba nhóm:
1. Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên:
Nhóm này bao gồm các yếu tố về vị trí địa lý, của các vùng lãnh thổ,
điều kiện đất đai, điều kiện khí hậu và thời tiết của các vùng đó. Các nguồn
tài nguyên khác của vùng (nguồn nớc, rừng, khoáng sản ).
Các nhân tố tự nhiên trên tác động một cách trực tiếp tới sự hình thành,
vận động và biến đổi của cơ cấu kinh tế nông nghiệp, sự tác động và ảnh h-
ởng của các điều kiện trên tới cơ cấu kinh tế nông nghiệp cũng không giống
nhau trong các nội dung của cơ cấu kinh tế nông nghiệp thì cơ cấu ngành và
cơ cấu lãnh thổ chịu sự ảnh hởng lớn nhất bởi các điều kiện tự nhiên. Còn các
cơ cấu khác thì ảnh hởng ít hơn.
Các điều kiện về đất đai, khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý có ảnh hởng trực
tiếp tới sự phát triển của nông nghiệp và qua nông nghiệp ảnh hởng gián tiếp
tới sự phát triển của các ngành khác.
Các nguồn tài nguyên khác cũng ảnh hởng tới nông nghiệp. Giữa các
vùng khác nhau với vị trí địa lý khác nhau có điều kiện khí hậu và điều kiện
đất đai, các nguồn tài nguyên khác và hệ sinh thái khác nhau dẫn đến sự khác
nhau về số lợng và quy mô các ngành kinh tế nông nghiệp nh: trồng trọt,
chăn nuôi, lâm nghiệp, ng nghiệp là những ngành chịu ảnh hởng trực tiếp hơn
cả. Chính từ sự khác nhau đó làm cho số lợng và quy mô của các phân ngành
và chuyên ngành sâu của nông lâm ng nghiệp giữa các vùng có sự khác
nhau dẫn tới sự khác nhau về cơ cấu ngành. Điều này đợc thể hiện rõ nét
trong sự phân biệt về cơ cấu ngành kinh tế nông nghiệp giữa các vùng trong
cả nớc đặc biệt giữa đồng bằng và miền núi . Hay ngay bản thân trong cùng
một lãnh thổ thì cơ cấu ngành cũng khác nhau do tính đa dạng và phong phú
Lý khánh lâm 14 lớp :kvii
Trờng đhktqd
Luận văn tốt nghiệp khoa ktnn&ptnt
các văn bản, quy định, nghị định cùng tác động vào nền kinh tế nhằm thực
hiện các mục tiêu đã định. Với các công cụ quản lý vĩ mô khác nhau, thúc
đẩy việc hình thành một cơ cấu các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế hợp
lý, trình độ công nghệ ngày càng đợc nâng cao nhằm khai thác và sử dụng có
hiệu quả nhất các nguồn lực, các lợi thế của đất nớc và khu vực kinh tế nông
nghiệp. Để làm đợc điều đó thì đòi hỏi phải có những điều kiện vật chất nhất
định, tơng ứng với yêu cầu hình thành và chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Để đáp
ứng đòi hỏi về các điều kiện vật chất trên thì nhất thiết phải đầu t và phải có
vốn đầu t bởi vì quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đòi hỏi phải có những
nguồn vốn đầu t lớn. Chính vì điều này mà vốn đầu t có ảnh hởng trực tiếp rất
lớn tới sự hình thành và phát triển của các ngành kinh tế, các vùng kinh tế,
các thành phần kinh tế.
Xây dựng và tăng cờng cơ sở hạ tầng là điều kiện cần thiết để phát triển
kinh tế nông nghiệp, đảm bảo cho nền kinh tế hàng hóa phát triển nâng cao
đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Những vùng mà cơ sở hạ tầng
phát triển, đặc biệt là các công trình hạ tầng về kỹ thuật thì ở đó có điều kiện
để phát triển các ngành sản xuất chuyên môn hóa phù hợp với nhu cầu thị tr-
ờng và nguồn lực của vùng. Cơ sở hạ tầng cũng là điều kiện để ứng dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp và ngợc lại cơ sở hạ
tầng yếu kém thì sự hình thành và phát triển của các ngành sản xuất và các
vùng kinh tế trên cơ sở chuyên môn hóa cũng nh quá trình đa tiến bộ kỹ thuật
công nghệ vào sản xuất bị kìm hãm.
Ngoài ra, các kinh nghiệm, tập quán, phong tục, dân số khác nhau
giữa các vùng cũng ảnh hởng tới sự hình thành và phát triển của các ngành
trong nông nghiệp và ảnh hởng tới cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
3. Nhóm nhân tố về tổ chức - ký thuật.
Lý khánh lâm 16 lớp :kvii
Trờng đhktqd
Luận văn tốt nghiệp khoa ktnn&ptnt
Nhóm này gồm: các hình thức và tổ chức trong nông nghiệp, sự phát
ở các nớc đang phát triển, do lịch sử để lại cơ cấu nông nghiệp còn
mang nặng tính thuần nông, độc canh là chủ yếu nhng xu hớng chung của thế
giới sẽ chuyển dịch từ thuần nông, độc canh sang phát triển toàn diện đa
dạng.
Trên cơ sở nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của
một số vùng trung du, miền núi Bắc Bộ nớc ta ta có thể rút ra một số xu hớng
chung về chuyển dịch cơ cấu kinh tế sản xuất nông nghiệp nh sau:
Hầu hết các vùng không chỉ gói gọn trong sản xuất nông nghiệp mà mở
ra những ngành có giá trị kinh tế cao. Nhng việc sản xuất khó khăn hơn và
đòi hỏi cơ sở vật chất kỹ thuật nhất định và vốn đầu t cao hơn các tiểu ngành
khác.
Trong quá trình phát triển tỷ trọng của ngành lâm nghiệp, ng nghiệp
tăng lên trong khi đó tỷ trọng của ngành nông nghiệp giảm đi mặc dù ngành
này vẫn tăng trởng về giá trị và sản lợng.
Tất cả các vùng trung du, miền núi Bắc Bộ trên cơ sở phát triển lơng
thực thì đều chuyển từ nền sản xuất lúa gạo, từ sản xuất truyền thống sang
sản xuất hàng hóa cùng với việc phát triển các loại rau đậu, cây ăn quả cây
công nghiệp giá trị kinh tế cao. Do xu thế của ngành trồng trọt là tỷ trọng cây
lợng thực giảm, tỷ trọng các loại cây thực phẩm, cây công nghiệp, cây ăn quả
tăng dần.
Lý khánh lâm 18 lớp :kvii
Trờng đhktqd
Luận văn tốt nghiệp khoa ktnn&ptnt
Trong cơ cấu sản xuất của mỗi ngành xu hớng chung là tăng dần tỷ
trọng các loại cây trồng, vật nuôi có chất lợng sản phẩm cao, những sản
phẩm đặc sản Để tăng giá trị sản l ợng, tăng thu nhập cho các hộ nông dân
và phù hợp với nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của thị trờng.
2.kinh nghiệm ngoài nớc.
ở các nớc đang phát triển tuy điều kiện tự nhiên và đặc điểm riêng ở vào
những thời và hoàn cảnh lịch sử khác nhau.nhng mỗi nớc đều coi trọng sản
quân là 21,9%,cà fê 16%,đặc biệt là cây dầu cọ tuy qui mô sản xuất cha lớn
nhng nhịp độ tăng hàng năm khá cao đạt mức 39,4%.
Nhờ sự phát triển theo hớng đa canh gắn với xuất khẩu nên giá trị nông
lâm thuỷ sản xuất khẩu tăng lên nhanh.nếu năm 1970 giá trị xuất khẩu nông
lâm thuỷ sản của Thái lan mới đạt 522,67 triệu USD thì năm 1989 dã tăng lên
6722 triệu USD tức tăng lên 14,6 lần.
*Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp gắn với việc mở rộng diện
tích và phát triển hệ thống thuỷ lợi.
Trong những năm 50 Malayxia đã sớm nhận ra vai trò quan trọng của
nông nghiệp trong việc thúc đẩy tăng trởng nền kinh tế,nên chính phủ đã có
những chính sách quan tâm cho nông nghiệp. những năm đó tốc độ tăng tr-
ởng GDP cao nhờ sự tăng trởng của nông nghiệp là 5,5%.Thành công đợc nh
vậy là do Malayxia đã chi những khoản tiền lớn để xây dựng những khu vực
nông nghiệp hiện đại.Họ đã quyết định chặt những cây cao su,cọ dầu già và
thay thế bằng những cây có năng xuất cao hơn,cùng với việc mở rộng thêm
diện tích trồng hai vụ lúa.Chơng trình này đã đợc hình thành vào cuối những
năm 70.
Điều này đã góp phần quan trọng vào việc mang lại việc làm đầy đủ cho
nông dân trồng lúa.Do đó sản lợng nông nghiệp tăng dẫn đến thị trờng ở
nông thôn dợc mở rộng,góp phần tạo thêm việc làm ngoài nông nghiệp .
*Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp gắn với việc bảo vệ môi tr-
ờng sinh thái.
Trong một thời gian dài do nhận thức không đúng,coi thiên nhiên là vô
tận và là điều kiện cần có của cuộc sống con ngời vì thế xã hội loài ngời đã ít
quan tâm đến việc bảo vệ môi trờng sinh thái,trong sản xuất nông nghiệp việc
sủ dụng phân hoá học,đốt phá rừng bừa bãi đã gây ra sụ ô nhiễm môi tr ờng
sinh thái nặng nề trong thiên nhiên.
Gần đây chúng ta đã nhận thức ra đợc sự huỷ hoại môi trờng sinh thái dã
đến mức nghiêm trọng trong đó có vai trò ảnh hởng của hoạt động nông
nghiệp gây ra.
Trờng đhktqd
Luận văn tốt nghiệp khoa ktnn&ptnt
1.2. Về đất đai,thổ nhỡng:
Theo số liệu thống kê của huyện năm 2000 thì tổng diện tích đất tự
nhiên của huyện là: 1050,21 km
2
. Trong đó đất nông nghiệp là 7446,7 ha; đất
lâm nghiệp có rừng là 25142 ha; đất dùng vào chăn nuôi : 110 ha. Đất có mặt
nớc đang sử dụng : 87 ha; đất chuyên dùng : 1854,16 ha; đất khu dân c :
238,6 ha; đất cha sử dụng : 70496,7 ha. Nhìn chung, các loại đất của huyện
đều có thể sử dụng vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp. Một số loại có tỷ
lệ dinh dỡng khá cao thuật lợi cho phát triển một số loại cây trồng có giá trị
kinh tế cao.
Trong tổng diện tích đất tự nhiên diện tích đất đợc sử dụng là 34524 ,3
ha chiếm 32,87%. Diện tích đất cha sử dụng : 70496,7 ha chiếm 67,13%
trong đó diện tích cha đợc sử dụng lớn nhất là diện tích núi đá và đồi núi cao
chiếm 67637,19 ha.
Trong đất nông nghiệp diện tích đất canh tác hàng năm là 6596,04 ha
trong đó lúa là 2979 ha; cây màu và cây công nghiệp hàng năm là 3315,04
ha; rau đậu là 306,6 ha.
Diện tích cây công nghiệp lâu năm là 68,9 ha; cây ăn quả là 610,4 ha
Tình hình thổ nhỡng: Tổng hợp các tài liệu về đất đã nghiên cứu và
xây dựng từ trớc tới nay trên địa bàn huyện Bát xát có 13 loại đất nằm trong
4 nhóm đất chính là:nhóm đất phù sa,nhóm đất đỏ vàng,nhóm đất mùn trên
núi cao và nhóm đất thung lũng dốc tụ độ dốc từ 0-15 chiếm 29%.độ dốc từ
15-25 chiếm 46,7 còn lại là > 25
Lý khánh lâm 22 lớp :kvii
Trờng đhktqd
Luận văn tốt nghiệp khoa ktnn&ptnt
Độ phì nhiêu của các loại đất này thuộc loại khá hàm lợng mùn trong
Lý khánh lâm 23 lớp :kvii
Trờng đhktqd
Luận văn tốt nghiệp khoa ktnn&ptnt
1.4.Nguồn nớc tới phục vụ nông nghiệp.
Địa bàn huyện Bát xát có sông hồng chảy theo hớng bắc nam thuỷ chế
phức tạp,nớc chảy tơng đối mạnh có sự khác biệt lớn về mùa ma lũ và mùa
khô hạn nên lu lợng dòng chảy cũng chênh nhau lớn giữa hai mùa.ngoài ra
có hệ thống các loại suối nhỏ phân bố đều trong huyện nên lợng nớc tơng đối
rồi rào đáp ứng cho nhu cầu phát triển sản xuất lúa và sinh hoạt.
2. Đặc điểm về kinh tế xã hội:
2.1. Dân số và nguồn lao động:
-Theo số liệu thống kê huyện Bát xát thì dân số của huyện năm 2000 là
57949 ngời mật độ trung bình là 55,18 ngời/km
2
. Nhìn chung dân số của
huyện là phân bố không đều có xã có diện tích lớn nhng dân số lại ít nh xã
Trung Lèng Hồ với diện tích là 142,19 km
2
nhng dân số chỉ là 1497 ngời. Xã
Trịnh Tờng với diện tích là 71,63 km
2
nhng dân số là 4117 ngời, xã Quang
Kim với diện tích là 30,65 km
2
dân số là 4380 ngời thị trấn huyện diện tích
2,68 km
2
, dân số là 3223 ngời.
-Sở dĩ dân số phân bố không đồng đều là do nhiều nguyên nhân khác
nhau nhng nguyên nhân chủ yếu do điều kiện tự nhiên, địa hình và cơ sở hạ
trấn có 5,8 km trong đó có 2,1 km là đờng trục giao thông chính.
Ngoài ra, còn có 15 km đờng đạt tiêu chuẩn cấp 4 từ thị xã Lào Cai đến
huyện Sa Pa qua xã Cốc San của huyện.
Trong những năm qua huyện đã liên tục mở thêm các tuyến đờng giao
thông đến các xã và các đờng liên thôn.
Nếu nh năm 1991 số xã có đờng ô tô đến xã là 11 thì đến năm 2000 đã
là 21 xã có đờng ô tô đến xã. Cũng trong năm 2000 huyện đã làm mới đợc
Lý khánh lâm 25 lớp :kvii