Luận văn tốt nghiệp
Khoa KTNN & PTNT
Lời nói đầu
Đồng bằng sông Hồng là vùng kinh tế quan trọng, là nơi tập trung các cơ
quan lãnh đạo của Nhà nớc, các cơ quan nghiên cứu khoa học, đào tạo các bộ khoa
học lớn nhất nớc ta. Hiện nay vùng ĐBSH nằm trong khu vực trọng điểm phát triển
kinh tế xã hội ở các tỉnh phía Bắc. Điều kiện trên, cho phép phát triển một nền
nông nghiệp hàng hoá đa dạng, có năng suất và chất lợng cao. Nông nghiệp vùng
ĐBSH, có vai trò quan trong phát triển kinh tế của vùng, và đối với cả nớc, trong
việc cung cấp lơng thực, thực phẩm cho Thủ đô Hà Nội, các thành phố, các khu
công nghiệp và là trung tâm nghiên cứu, chuyển giao các tiến bộ khoa học, kỹ
thuật và công nghệ cho các vùng khác.
Vậy trong những năm vừa qua tình hình phát triển và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp của vùng nh thế nào? Muốn đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch
trong những năm tới thì chủ trơng, đờng lối của vùng đề ra những định hớng, giải
pháp để đẩy nhanh đợc tốc độ chuyển dịch sao cho đạt đợc mục tiêu của vùng.
Vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH), bao gồm: Thủ đô Hà Nội, thành phố
Hải Phòng, các tỉnh: Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hải Dơng, Hng Yên, Thái
Bình, Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình. Diện tích tự nhiên của vùng là: 1.479,5
nghìn ha (chiếm 4,5% diện tích của cả nớc). Dân số: 17,3 triệu ngời (chiếm 22%
dân số cả nớc).
Với xu hớng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp bao gồm: Chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông lâm ng nghiệp theo hớng sản xuất hàng hoá phù hợp sự
phát triển của kinh tế thị trờng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành chăn nuôi, đa
chăn nuôi trở thành ngành chính ngang tầm với trồng trọt; Từng bớc thực hiện
công nghiệp hoá nông nghiệp, và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo h-
ớng xây dựng nền nông nghiệp sinh thái phát triển bền vững. Nghị quyết của
Chính phủ số: 09/2000/NQ- CP đã nêu rõ: Việc lựa chọn cơ cấu, quy mô và chủng
loại sản phẩm các ngành hàng sản xuất nông nghiệp phải khai thác đợc lợi thế của
Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Ngọc Lớp KTNN 43B
Luận văn tốt nghiệp
Phơng pháp duy vật biện chứng
Phơng pháp toán kinh tế
Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Ngọc Lớp KTNN 43B
Luận văn tốt nghiệp
Khoa KTNN & PTNT
Ngoài ra còn phơng pháp tổng hợp, so sánh.
*Đối tợng nghiên cứu:
Đối tợng nghiên cứu của đề tài là tình hình kinh tế nông nghiệp và sự
chuyển dịch của cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong thời gian qua.
*Kết cấu của đề tài: Ngoài lời nói đầu và kết luận thì còn nội dung của
chuyên đề gồm 3 phần.
Phần I: Cơ sở lý luận về cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
Phần II: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng ĐBSH.
Phần III: Định hớng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
vùng ĐBSH đến năm 2010.
Do điều kiện năng lực còn hạn chế và tài liệu nghiên cứu có hạn nên chuyên
đề thực tập của em còn không tránh khỏi những thiếu sót. Vậy rất mong sự giúp đỡ
của Thầy giáo hớng dẫn và các thầy cô trong khoa Kinh tế Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn giúp em hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn Thầy giáo Hoàng Văn Định và Tập thể các cô
chú trong Vụ Kinh tế Nông nghiệp Bộ Kế hoạch và Đầu t đã giúp em hoàn
thành nhiệm vụ của mình!
Hà Nội, 05/2005
Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Ngọc
Phần I: Cơ sở lý luận về cơ cấu kinh tế và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Ngọc Lớp KTNN 43B
Luận văn tốt nghiệp
Khoa KTNN & PTNT
I. Những vấn đề lý luận về cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Từ bản chất của cơ cấu kinh tế nông nghiệp có thể rút ra một số đặc trng chủ
yếu của cơ cấu kinh tế nông nghiệp nh sau:
2.1 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang tính khách quan và đợc hình thành
trên cơ sở phát triển của lực lợng sản xuất và phân công lao động xã hội chi
phối.
Thật vậy, ở một trình độ phát triển nhất định của lực lợng sản xuất và phân
công lao động xã hội thì tất sẽ phải có một cơ cấu kinh tế cụ thể để thích ứng với
nó. Nh vậy việc xác lập cơ cấu kinh tế nông nghiệp cần phải tôn trọng tính khách
quan của nó và không thể áp đặt một cách chủ quan duy ý chí. Trong quá trình
phát triển của lực lợng sản xuất và phân công lao động xã hội tự các mối quan hệ
kinh tế đã có thể xác lập những tỷ lệ nhất định mà ngời ta gọi là cơ cấu.
2.2 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang tính lịch sử và xã hội nhất định
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp nh đã đợc nói tới nó là một tổng thể các mối
quan hệ kinh tế đợc xác lập theo những tỷ lệ nhất định về mặt lợng trong thời gian
cụ thể. Tại một thời điểm với những điều kiện về kinh tế, tự nhiên, xã hội , các tỷ
lệ đó đợc xác lập và hình thành tạo thành một cơ cấu kinh tế nhất định.Song một
khi có những thay đổi trong các điều kiện nói trên thì lập tức các mối quan hệ này
cũng thay đổi và hình thành một cơ cấu kinh tế mới hợp lý hơn.
Tuỳ hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của mỗi vùng mỗi quốc gia mà xác lập đ-
ợc một cơ cấu kinh tế nông nghiệp phù hợp với từng giai đoạn phát triển nhất định.
Không thể có một cơ cấu mẫu làm chuẩn mực trong mọi điều kiện.
2.3 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp không ngừng vận động và phát triển theo
hớng ngày càng hoàn thiện hợp lý và có hiệu quả hơn.
Trong triết học Mac đã nói rằng: Sự vật hiện tợng luôn luôn biến đổi và vận
động không ngừng. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp cũng vậy chúng luôn luôn vận
động và ngày càng phát triển theo chiều hớng ngày một hợp lý hơn.: Lực lợng sản
xuất ngày càng phát triển, khoa học công nghệ ngày càng hiện đại, phân công lao
động ngày càng tỷ mỉ và phức tạp, tất cả những điều đó đã dẫn đến một cơ cấu
nông nghiệp ngày càng phải hoàn thiện hơn. Sự vận động và biến đổi không ngừng
Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Ngọc Lớp KTNN 43B
nhằm chuyển một cách có hiệu quả và đúng hớng phục vụ cho con ngời. Nhng vấn
đề quan trọng là phải bắt nguồn từ đâu và với những biện pháp nào mà khi tác
Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Ngọc Lớp KTNN 43B
Luận văn tốt nghiệp
Khoa KTNN & PTNT
động vào nó sẽ gây phản ứng dây truyền tạo ra bớc phát triển nói nên tổng thể kinh
tế nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế quốc dân nói chung.
2.5 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp đợc hình thành và phát triển trên cơ sở
của điều kiện tự nhiên và mức độ khai thác cải tạo điều kiện tự nhiên (đất đai,
thời tiết, khí hậu).
Thật vậy, sản xuất nông nghiệp luôn gắn liền với điều kiện tự nhiên vì vậy
cơ cấu kinh tế nông nghiệp chịu ảnh hởng rất nhiều của điều kiện tự nhiên. Một
nền nông nghiệp hay, một cơ cấu kinh tế nông nghiệp hiệu quả là phải đạt năng
suất cây trồng, vật nuôi cao với chi phí ít trên một đơn vị sản phẩm. Muốn vậy phải
lợi dụng tối đa các yếu tố của điều kiện tự nhiên tham gia vào quá trình sản xuất.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch theo xu hớng ngày càng lợi dụng đợc điều
kiện tự nhiên và cải tạo tự nhiên có lợi nhất.
2.6 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp hình thành và biến đổi gắn liền với sự ra
đời và phát triển của một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá.
Kinh tế nông nghiệp trải qua một quá trình phát triển từ nền kinh tế sinh tồn
sang kinh tế tự cung tự cấp, sự biến đổi của cơ cấu kinh tế nông nghiệp rất chậm
chạp và trì trệ. Từ khi chuyển sang nền kinh tế sản xuất hàng hoá (kinh tế thị tr-
ờng) thì cơ cấu kinh tế nông nghiệp mới đợc hình thành đa dạng và có hiệu quả
hơn.
3. Nội dung của cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Cũng nh cơ cấu kinh tế nói chung, nội dung của cơ cấu kinh tế nông nghiệp
bao gồm: cơ cấu kinh tế theo ngành, cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ, cơ cấu kinh
tế theo thành phần kinh tế, cơ cấu kỹ thuật.
3.1 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo ngành
Sự phân công lao động theo ngành là cơ sở hình thành cơ cấu ngành, sự
- Những nớc có trình độ kém phát triển kém nông nghiệp chiếm đại bộ phận
trong nền kinh tế thì sự phát triển của lực lợng sản xuất đặc biết là tiến bộ khoa
học kỹ thuật ứng dụng vào làm cho cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh chóng theo
hớng CNH,HĐH.
3.2 Cơ cấu vùng lãnh thổ.
Sự phân công lao động theo ngành kéo theo sự phân công lao động theo lãnh
thổ đó là hai mặt của một quá trình gắn bó hữu cơ với nhau. Sự phân công lao động
Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Ngọc Lớp KTNN 43B
Luận văn tốt nghiệp
Khoa KTNN & PTNT
theo ngành bao giờ cũng diễn ra trên những vùng lãnh thổ nhất định, nghĩa là cơ
cấu vùng lãnh thổ chính là việc bố trí các ngành trong sản xuất nông nghiệp theo
không gian cụ thể nhằm khai thác mọi u thế tiềm năng to lớn. ở đây, xu thế
chuyển dịch cơ cấu vùng lãnh thổ đi vào chuyên môn hoá và tập trung hoá hình
thành những vùng sản xuất hàng hóa lớn tập trung có hiệu quả cao mở với các
vùng chuyên môn hoá khác, gắn cơ cấu của từng khu vực với cơ cấu kinh tế của cả
nớc.Trong từng vùng lãnh thổ coi trọng chuyên môn hoá kết hợp với phát triển
tổng hợp đa dạng.
- Để hình thành cơ cấu vùng lãnh thổ hợp lý thì cần bố trí các ngành trên
vùng lãnh thổ hợp lý, để khai thác đầy đủ tiềm năng của từng vùng. Đặc biệt cần
bố trí các ngành chuyên môn hoá dựa trên những lợi thế so sánh từng vùng đó là
những vùng có đất đai tốt, khí hậu thuận lợi , đờng giao thông lớn và các khu công
nghiệp đô thị.
- So với cơ cấu ngành thì cơ cấu vùng lãnh thổ có tính trí tuệ hơn, có sức ỳ
hơn, chậm chuyển dịch hơn vì thế khi bố trí các vùng chuyên môn hoá cần đợc
xem xét cụ thể thận trọng nếu phạm sai lầm khó khắc phục, bị tổn thất rất lớn.
3.3. Cơ cấu thành phần kinh tế
Trong suốt thơi gian dài của thời kỳ bao cấp ở nớc ta, cơ cấu thành phần
kinh tế trong nông nghiệp chậm chuyển biến với sự tồn tại thuần nhất của hai loại
hình kinh tế, kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Đến đại hội VI của Đảng với
vào nông nghiệp làm phá vỡ tính cổ truyền, lạc hậu và trì trệ, làm cho tính truyền
thống giảm mạnh, công nghiệp hoà nhập vào nông nghiệp (công nghiệp hoá nông
nghiệp). Kinh tế nông nghiệp có sự kết hợp của kỹ thuật truyền thống đan xen với
kỹ thuật tiên tiến hiện đại. Điều đó làm cho cơ cấu kỹ thuật trong nông nghiệp nớc
ta trong những năm qua chuyển biến mạnh mẽ.
4. ý nghĩa của cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý: là một cơ cấu kinh tế tận dụng đợc tất
cả mọi tiềm năng về nguồn lực đế sản xuất nông nghiệp một cách có hiệu quả và
hợp lý trong một điều kiện cụ thể.
Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Ngọc Lớp KTNN 43B
Luận văn tốt nghiệp
Khoa KTNN & PTNT
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý tạo điều kiện để phát triển một nền nông
nghiệp sản xuất hàng hoá đa dạng, sức cạnh tranh cao phát huy lợi thế so sánh,
đồng thời áp dụng đợc khao học tiến bộ vào sản xuất tạo ra đợc sản phẩm có chất
lợng cao, tạo công ăn việc làm, ổn định kinh tế, chính trị, nâng cao đời sống của
ngời dân, tạo điều kiện hoàn thành mục tiêu CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn
của đất nớc và nhất là trong giai đoạn hiện nay đang trong quá trình hội nhập nền
kinh tế khu vực và trên toàn thế giới.
II. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đợc hiểu là quá trình chuyển từ
trạng thái cơ cấu sản xuất cũ sang cơ cấu sản xuất mới phù hợp với sự phát triển
của khoa học công nghệ và nhu cầu của thị trờng để nhằm sử dụng có hiệu quả
mọi yếu tố nguồn lực và đẩy và đẩy nhanh quá trình sản xuất hàng hoá. Về mặt l-
ợng thể hiện sự thay đổi mối tơng quan tỷ lệ giữa các bộ phận hợp thành trong
ngành nghề nông nghiệp. Về mặt chất nó thể hiện sự thay đổi phơng án bố trí các
ngành, các bộ phận trong chiến lợc phát triển, sự thay đổi để chuyển sang cơ cấu
kinh tế mới tạo ra thế cân đối mới.
Mục tiêu của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là tạo ra một hệ
lại lợi nhuận cho ngời sản xuất.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang lại lợi ích kinh tế
ngày càng cao cho nhân dân thì đó là nguyện vọng thiết thực. Mặt khác với nhu
cầu ngày càng cao của nhân dân hiện nay về nông sản thì chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp phải nhằm cải thiện đời sống nhân dân và ổn định chính trị xã hội.
2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là điều kiện và nhu cầu để mở rộng thị tr-
ờng
Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp chính là điều kiện và yêu cầu để mở rộng thị trờng nhằm cung cấp một khối
lợng nông sản hàng hoá cho xã hội, nguyên liệu cho công nghiệp, cung cấp hàng
hoá cho xuất khẩu để mở rộng thị trờng quốc tế. Mặt khác nó còn là nơi cung cấp
một phần lớn lực lợng lao động cho các ngành kinh tế quốc dân và là thị trờng tiêu
thụ lớn các sản phẩm của ngành công nghiệp.
Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Ngọc Lớp KTNN 43B
Luận văn tốt nghiệp
Khoa KTNN & PTNT
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp sẽ giải phóng đợc sức lao
động sản xuất ở nông thôn từ đó cung cấp lao động cho công nghiệp và dịch vụ.
2.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tạo cơ sở cho việc thay đổi
bộ mặt nông thôn nói chung và nông nghiệp nói riêng.
Để giúp cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thu đợc kết
quả trong thời gian qua Đảng và Nhà nớc ta đã ban hành rất nhiều những chính
sách nhằm đầu t cho nông nghiệp để tạo điều kiện cho nhu cầu phát triển sản xuất
kinh doanh của các ngnàh trong nông nghiệp.
Nh vậy, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp không chỉ
sản xuất trồng trọt, chăn nuôi phát triển theo hớng sản xuất hàng hoá trên cơ sở
khai thác lợi thế của địa phơng mà cơ sở hạ tầng của nông thôn cũng đợc tăng c-
ờng, đầu t xây dựng. Vấn đề ý tế giáo dục ở nông thôn cũng đợc cải thiện, trình độ
dân trí cũng đợc nâng cao một bớc. Do đó việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp đã và đang từng bớc góp phần tích cực tới quá trình công nghiệp hoá, đô thị
phát triển nhu cầu của con ngời về nông sản phẩm cũng theo đó mà tăng lên cả về
số lợng và chất lợng, chủng loại. Đó là đòi hỏi của thị trờng mà yêu cầu ngời sản
xuất phải đáp ứng.
Để sản xuất nông nghiệp đáp ứng yêu cầu của thị trờng và nhu cầu của ngời
tiêu dùng đòi hỏi phải đa dạng hoá sản phẩm và dịch vụ nông nghiệp. Muốn vậy,
không thể dừng lại ở cơ cấu kinh tế nông nghiệp truyền thống mà phải chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp đáp ứng yêu cầu và tác động của thị trờng.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang lại lợi ích kinh tế
ngày càng cao cho hộ nông dân là nguyện vọng thiết thực, mặt khác với nhu cầu
ngày càng cao của ngời tiêu dùng về nông sản hàng hoá, thì chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp nhằm phát triển nền kinh tế cải thiện đời sống nhân dân và ổn
định chính trị xã hội.
Xuất phát từ yêu cầu trên, Đảng và Nhà nớc ta đã có chủ trơng đẩy mạnh
CNH, HĐH trong phát triển nông nghiệp và phát triển nông thôn theo hớng thâm
canh, tiếp tục chuyển đổi mạnh mẽ cây trồng vật nuôi gắn với công nghiệp chế
biến và thị trờng tiêu thụ để nâng cao giá trị sản phẩm đáp ứng yêu cầu trong nớc
và xuất khẩu.
Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Ngọc Lớp KTNN 43B
Luận văn tốt nghiệp
Khoa KTNN & PTNT
3.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là yêu xây dựng một nên
nông nghiệp CNH, HĐH.
Đại hội Đảng lần thứ VIII đã khẳng định nớc ta muốn phát triển nhất thiết
phải thực hiện công cuộc hiện đại hoá. Đại hội nhấn mạnh nội dung cơ bản của
CNH, HĐH giai đoạn hiện nay là; đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn. Phải chăng khi coi là đặc biệt, vì nó tạo tiền đề và cơ sở vững chắc thục
đẩy toàn bộ quá trình CNH, HĐH nền kinh tế đất nớc?Phải chăng đó là mũi đột
phá quan trọng nhằm giải phóng sức lao động trong nông nghiệp hiện chiếm
khoảng 70% lao động cả nớc, tạo điều kiện khai thác tốt tiềm năng dồi dào về lao
động đất đai.
1. Nhóm các nhân tố về điều kiện tự nhiên.
Nhóm này gồm: vị trí địa lý của các vùng lãnh thổ điều kiện đất đai của các
vùng: điều kiện khí hậu, thời tiết, các nguồn tài nguyên khác cuả vùng lãnh thổ nh:
nguồn nớc, rừng, biển... Các nhân tố tự nhiên trên tác động một cách trực tiếp tới
sự hình thành, vận động và biến đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Tuy nhiên sự tác
động và ảnh hởng của điều kiện tự nhiên tới mỗi nội dung của cơ cấu kinh tế nông
nghiệp là không giống nhau. Trong các nội dung của cơ cấu kinh tế nông nghiệp
thì cơ cấu ngành, cơ cấu vùng lãnh thổ chịu ảnh hởng của điều kiện tự nhiên nhiều
nhất, còn cơ cấu các thành phần kinh tế và cơ cấu kỹ thuật chịu ảnh hởng ít hơn.
Trong các điều kiện tự nhiên nêu trên các điều kiện tự nhiên về đất đai khí hậu vị
trí địa lý có ảnh hởng rất rõ nét tới sự phát triển của nông nghiệp (theo nghĩa rộng
gồm cả nông, lâm ng, nghiệp) qua nông nghiệp ảnh hởng trực tiếp tới các ngành
khác. Trong mỗi quốc gia các vùng lãnh thổ với vị trí địa lý khác nhau có điều kiện
khí hậu (lợng ma, độ ẩm, nhiệt độ ...)điều kiện đất đai (nông hoá, thổ nhỡng, địa
chất...) các nguồn tài nguyên tự nhiên khác(nớc, rừng biển...)và hệ sinh Thái khác
nhau về số lợng và quy mô các phân ngành chuyên ngành sâu của nông lâm ng
nghiệp, giữa các vùng có sự khác nhau, dẫn tới sự khác nhau của cơ cấu ngành.
Điều này đợc thể hiện rõ rệt từng sự phân biệt về cơ cấu các ngành kinh tế trong
nông nghiệp giữa các vùng công bằng, trung du miền núi. Ngay giữa các vùng cơ
cấu kinh tế các ngành cũng có sự khác nhau khá rõ, do tính đa dạng và phong phú
của tự nhiên nớc ta và sự phát triển không đồng đều của nguồn lực. Một số vùng có
Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Ngọc Lớp KTNN 43B
Luận văn tốt nghiệp
Khoa KTNN & PTNT
điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển một số ngành sản xuất tạo ra các lợi thế
so với các vùng khác của đất nớc. Đây là cơ sở tự nhiên để hình thành các vùng
kinh tế .
Ngoài sự tác động và ảnh hởng nói trên thì điều kiện tự nhiên còn ảnh hởng
tới các cơ cấu các thành phần kinh tế và cơ cấu kỹ thuật trong kinh tế nông
nghiệp. Thông thờng những vùng nào có điều kiện tự nhiên thuận lơi thì các thành
kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng ở mỗi quốc gia. Việc
tham gia ngày càng sâu vào qua trình hợp tác và phân công quốc tế sẽ làm cho các
quốc gia khai thác và sử dụng mọi nguồn lực của mình có lơi nhất trên cơ sở phát
huy các lợi thế so sánh. Mặt khác thông qua thị trờng quốc tế mà mình tham gia thì
mỗi quốc gia lại tăng thêm các cơ hội tìm kiếm những công nghệ và kỹ thuật mới
cũng nh các nguồn vốn đầu t phát triển` các ngành kinh tế nâng cao trình độ công
nghệ kỹ thuật, đẩy mạnh qua trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Trong điều kiện kinh tế thị trờng, nhà nớc sử dụng chính sách kinh tế và
công cụ khác để thực hiện chức năng quản lý kinh tế vĩ mô. Chính sách kinh tế là
hệ thống các biện pháp kinh tế đợc thực hiện bằng các văn bản quy định tác động
cùng chiều vào nền kinh tế nhằm thực hiện các mục tiêu đã định. Chức năng chủ
yếu của các chính sách kinh tế vĩ mô là tạo ra động lực kinh tế mà cốt lõi là lợi ích
kinh tế của mình mà tiến hành các hoạt động kinh tế phù hợp với các định hớng
của nhà nớc trong kế hoạch kinh tế hoạt đông phù hợp với định hớng của nhà nớc
đồng thời để đảm bảo lợi ích kinh tế của các chủ thể, nhà nớc thông qua pháp luật
kinh doanh xác lập hành lang và khuôn khổ cho các chủ thể kinh tế hoạt động,
pháp luật kinh doanh cũng là chỗ dựa pháp lý của các chủ thể kinh tế trong các
hoạt động của mình. Các chính sách kinh tế vĩ mô thể hiện sự can thiệp của nhà n-
ớc vào nền kinh tế thị trờng trên cơ sở đảm bảo các yếu tố của thị trờng để các quy
luật khách quan của thị trờng phát huy những tác động tích cực, hạn chế những ảnh
hởng tiêu cực nhằm mục đích tạo điều kiện cho nền kinh tế tăng trởng và phát triển
với tốc độ cao và ổn định.
Để đạt đợc mục đích trên một trong những hớng tác động quan trọng nhất
của các chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nớc là sự tác động đến cơ cấu kinh tế nói
chung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng. Nếu chỉ coi sự tác động của các
quy luật thị trờng thì cơ cấu kinh tế chỉ hình thành và vận động một cách tự phát và
Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Ngọc Lớp KTNN 43B
Luận văn tốt nghiệp
Khoa KTNN & PTNT
tất yếu dẫn đến sự lãng phí trong sử dụng các nguồn lực của đất nớc. Để thực hiện
Luận văn tốt nghiệp
Khoa KTNN & PTNT
càng dồi dào cho khu vực kinh tế nông nghiệp, góp phần thúc đẩy quá trình hình
thành, vận động và biến đổi của cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
Vấn đề dân số, lao động và trình độ của ngời lao động, ngời quản lý cũng là
nhân tố có ảnh hởng tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Ngoài ra, kinh
nghiệm, tập quán truyền thống của dân c ở các vùng dân c cũng có ảnh hởng tới
việc hình thành và phát triển của cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
3. Nhóm nhân tố về tổ chức -kỹ thuật.
Nhóm nhân tố này bao gồm: các hình thức tổ chức sản xuất trong nông
nghiệp, sự phát triển của khoa học kỹ thuật và việc áp dụng các tiến bộ khoa học
kỹ thuật vào sản xuất...
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là phạm trù khách quan nhng lại là sản phẩm
hoạt động của con ngời. Sự tồn tại, vận động và biến đổi của kinh tế nông nghiệp
và cơ cấu kinh tế nông nghiệp đợc quyết định bởi sự tồn tại và hoạt động của các
chủ thể kinh tế trong nông nghiệp là cở sở của sự hình thành và phát triển của các
ngành kinh tế, các vùng kinh tế và các thành phần kinh tế. Các chủ thể kinh tế
trong nông nghiệp tồn tại và hoạt động qua các hình thức tổ chức sản xuất với các
mô hình tổ chức tơng ứng. Do vậy, các hình thức tổ chức trong nông nghiệp với
các mô hình tơng ứng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hởng tới sự biến
đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
Từ năm 1989 đến nay trong nông nghiệp nớc ta, kinh tế hộ đợc thừa nhận hộ
trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, kinh tế t nhân đợc tạo điều kiện để phát triển, kinh
tế quốc doanh và kinh tế tập thể đợc cải biến theo nội dung mới. Sự thay đổi về các
mô hình sản xuất nêu trên đã tạo ra những điều kiện cho nông nghiệp và nông thôn
phát triển mạnh mẽ tạo ra những thay đổi bớc đầu đáng kể trong cơ cấu kinh tế
nông nghiệp. Trong nông nghiệp tỷ trọng của ngành trồng trọt giảm xuống, tỷ
trọng của ngành chăn nuôi tăng lên. Trong trồng trọt tỷ trọng cây lơng thực giảm
cây công nghiệp và cây ăn quả tăng lên, dần dần hình thành nhiều vùng chuyên
canh tập trung cây công nghiệp dài ngày. Tỷ trọng kinh tế hộ và phát triển các
ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết cơ cấu đất nông nghiệp đợc sử dụng trong
từng ngành nông nghiệp chiếm bao nhiêu % trong tổng đất nông nghiệp sử dụng.
Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Ngọc Lớp KTNN 43B
Luận văn tốt nghiệp
Khoa KTNN & PTNT
Các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu kinh tế nh trên chỉ mang tính thời điểm còn xét
theo thời gian, cơ cấu kinh tế luôn luôn có sự biến đổi bởi nó phụ thuộc vào rất
nhiều yếu tố tự nhiên kinh tế xã hội. Cho nên phải một cơ cấu có thể hợp lý
trong giai đoạn phát triển này mà không hợp lý trong giai đoạn phát triển khác.
Yêu cầu đặt ra là phải luôn luôn điều chỉnh cơ cấu đó cho phù hợp với điều kiện
phát triển trong từng thời gian cụ thể và từ đó quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
đợc hình thành.
2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của cơ cấu kinh tế.
Để đánh giá hiệu quả của cơ cấu kinh tế ngời ta sử dụng một hệ thống các
chỉ tiêu bao gồm:
*Tốc độ tăng trởng kinh tế theo GDP: Đây là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh
hiệu quả của cơ cấu kinh tế. Một nền kinh tế có cơ cấu hợp lý trớc hết phải đảm
bảo sự phát triển bền vững của các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế và
chung cho toàn bộ nền kinh tế. Một cơ cấu kinh tế hợp lý là phải thể hiện bằng sự
phát triển liên tục, bền vững tức là sự tăng trởng kinh tế liên tục qua nhiều năm chứ
không phải chỉ trong một giai đoạn nào đó.
*Tốc độ tăng trởng kinh tế tính theo giá trị sản xuất: Đây là chỉ tiêu gián
tiếp phản ánh hiệu quả của cơ cấu kinh tế, bởi vì tăng trởng giá trị sản xuất chỉ
phản ánh sự phát triển về quy mô nền kinh tế và mở rộng quy mô cha chắc chắn
đêm lại hiệu quả. Hiệu quả của cả nền kinh tế còn phụ thuộc vào mối quan hệ giữa
GDP và giá trị sản xuất. Trong điều kiện mối quan hệ tỷ lệ giữa GDP và giá trị sản
xuất không đổi, việc đẩy nhanh tốc độ tăng giá trị sản xuất sẽ góp phần tăng tốc độ
GDP thông qua việc khai thác các nguồn lực đầu t cho sản xuất, tạo việc làm, giải
quyết vấn đề chính trị, xã hội khác.
*Khả năng thu hút vốn, đất đai và lao động vào trong quá trình sản xuất,
0
20
0
30
Kinh độ Đông: từ 105
0
30
- 107
0
30
Diện tích tự nhiên: 14.795 km
2
, bằng 4,5% diện tích cả nớc và bằng 14,3%
các tỉnh phía Bắc. Dân số năm 2001là 17,03 triệu ngời bằng 22% dân số cả nớc và
bằng 59% dân số các tỉnh phía Bắc.
Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Ngọc Lớp KTNN 43B
Luận văn tốt nghiệp
Khoa KTNN & PTNT
Vùng ĐBSH là vùng có truyền thống sản xuất lúa nớc lâu đời hơn một ngàn
năm, là vùng kinh tế trọng điểm của các tỉnh phía Bắc.
Do có vị trí rất thuận lợi cho việc giao lu kinh tế giữa các vùng trong cả nớc,
giữa các tỉnh miền núi phía Bắc, các tỉnh ở phía Nam và có các cảng hàng không
và các cảng biển lớn giao lu với quốc tế, từ lâu lợi thế so sánh về vị trí địa lý của
các tỉnh vùng ĐBSH đã đợc khai thác để phát triển kinh tế, xã hội của các tỉnh
trong vùng và cả nớc.
C và tối
thấp trung bình trên 20
0
C. Trong đó, mùa đông lạnh nhiệt đô bình quân dới 20
0
C là
116 ngày (thờng vào cuối tháng 11 đến giữa tháng 3 năm sau), có 3 tháng mùa
đông lạnh (tháng 12,1,2), nhiệt độ bình quân thấp nhất biến động trong khoảng
16
0
2 17
0
8 và tổng tích ôn của 3 tháng này trung bình 1.536
0
C (tổng tích ôn
năm khoảng 8.500
0
C). Xét về nhiệt độ có thể chia ra làm 4 tháng mùa lạnh và 8
tháng mùa nóng. Có thể bố trí 2 cây xứ nóng và một cấy xứ lạnh.
2.2 Lợng ma
Lợng ma bình quân năm 1.700 1.800 mm nhng phân bố không đều trong
các tháng. Có 5 tháng từ tháng 5 đến tháng 9 lợng ma trung bình tháng trên 200
mm và tổng 5 tháng chiếm khoảng 80 -85% lợng ma cả năm, tháng 10 lợng ma
trên 100 mm, 6 tháng có lợng ma dới 100 mm mà những tháng thiếu nớc, nhng do
có ma phùn 31 ngày trong năm vào các tháng mùa đông lạnh nên lợng ma tháng
thấp nhất cũng đạt 23 mm (thờng tháng 12 và tháng 1 có lợng ma thấp nhất), đặc
điểm phân bố ma nh trên có nhiều thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.
2.3 Các hiện tợng thời tiết bất lợi cho sản xuất nông nghiệp
a. Rét hại vào mùa đông lạnh:
Theo thống kê từ năm 1961 đến nay ở ĐBSH có trên 65 đợt rét hại nhiệt độ