Những giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Quản Bạ- tỉnh Hà Giang - Pdf 10

MỤC LỤC
TÊN TRANG
MỤC LỤC……………………………………………………
Giải thích chữ cái viết tắt trong báo cáo chuyên đề thực tập……..
LỜI NÓI ĐẦU…….......................................................................... 5
Chương I: NHỮNG LÝ LUẬN CHỦ YẾU VỀ CHUYỂN DỊCH
CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP……………………………..
7
I. Khái niệm, đặc trưng vai trò vị trí của cơ cấu kinh tế nông nghiệp... 7
1. Cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế... 7
2. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp...
3. Nội dung cơ cấu kinh tế nông nghiệp...
4. Đặc trưng của cơ cấu kinh tế nông nghiệp...
II. Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp………… 12
1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một tất yếu khách quan..
2. Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp……………………………………………………
3. Yêu cầu xây dựng một nền nông nghiệp hàng hoá CNH và HĐH…
III. Những nhân tố ảnh hưởng tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp……………………………………………………………………...
15
1. Nhân tố điều kiện tự nhiên…………………………………………...
2. Nhân tố kinh tế - xã hội………………………………………………
3. Nhân tố quốc tế.....................................................................
4. Nhân tố tổ chức - kỹ thuật………………………………
IV. Hệ thống chỉ tiêu phản ảnh cơ cấu, chuyển dịch cơ cấu và hiệu
quả cơ cấu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp…………………..
18
1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh cơ cấu kinh tế và hiệu quả cơ cấu kinh tế….
2. Nhóm chỉ tiêu phản ánh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hiệu quả của

YẾU NHẰM CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KTNN CỦA HUYỆN
QUẢN BẠ - TỈNH HÀ GIANG...
38
I. Mục tiêu và phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
của huyện Quản Bạ tỉnh Hà Giang……………………………………...
38
1. Phương hướng và mục tiêu phát triển nông nghiệp ở huyện Quản Bạ
tỉnh Hà Giang đến năm 2010……………………………………….
38
2. Phương hướng và mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
ở huyện QUẢNBẠ đến năm 2010……………………………………….
40
II. Các giải pháp chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu và phát triển kinh
tế nông nghiệp ở huyện Quản Bạ………………………………………..
42
1. Quy hoạch bố trí lại các ngành sản xuất sản xuất nông nghiệp theo
hướng chuyên môn hoá…………………………………………………….
42
2. Giải pháp về thị trường………………………………………………. 43
3. Giải pháp về vốn……………………………………………………... 45
4. Giải pháp về ruộng đất……………………………………………….. 46
5. Giải pháp áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất…………... 47
6. Đầu tư xây dựng phát triển hạ tầng cơ sở phục vụ sản xuất nông
nghiệp………………………………………………………………………
47
7. Đẩy mạnh công tác khuyến nông……………………………………. 48
8. Các giải pháp về cơ chế chính sách nhằm giúp cho các hộ nông dân
phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hoá……………………….
49
9. Sử dụng hợp lý nguồn nhân lực lao động nông thôn………………… 50

NN - CN - DV: Nông nghiệp - Công nghiệp - Dịch vụ
CN - XD - GTVT: Công nghiệp - Xây dựng - Giao thông vận tải
lđ: Lao động
tr. đồng: Triệu đồng
đvdt: Đơn vị diện tích
3
LỜI NÓI ĐẦU
Một trong những vấn đề nhằm đẩy mạnh phát triền kinh tế đó là sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế. Trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu kinh tế
nông nghiệp nói riêng là vấn đề quan tâm hiện nay của nhiều nước trên thế giới,
đặc biệt là đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Mấu chốt là
tìm các giải pháp có hiệu quả khả thi đưa vào thực tiễn để chuyển dịch cơ cấu đạt
kết quả nhanh và có tính bền vững cao. Sự hưng thịnh của mỗi quốc gia đều được
lấy kinh tế làm thước đo tiêu chuẩn “dân giầu nước mạnh xã hội phồn vinh”.
Trong cơ cấu nền kinh tế, nông nghiệp là một ngành quan trọng trong quá trình
phát triển kinh tế không chỉ đối với nước ta mà với nhiều nước trên thế giới.
Muốn phát triển kinh tế thì nông nghiệp là một trong những vấn đề cần đặc biệt
quan tâm và “nhận thức đúng vai trò của nó trong chiến lược phát triển kinh tế và
thực hiện đồng bộ hàng loạt những vấn đề liên quan đến nông nghiệp”
(1)
. Việt
Nam là một nước nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp. Năm 2000 “trong
GDP tỷ trọng nông nghiệp vẫn chiếm 24,3%”
(2)
, chiếm đến 80% dân số sống ở
nông thôn và có khoảng trên 70% dân số sống, lao động làm việc trong ngành sản
xuất nông nghiệp. Nên đây là một vấn đề đang được, các ngành các cấp quan
tâm, coi đó là một giải pháp quan trọng, cơ bản để đẩy mạnh phát triển kinh tế
nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá, hiện đại hoá nông thôn.
Tuy nhiên trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao, sản xuất chủ

đặt ra cần giải quyết. Từ đó đưa ra những quan điểm, phương hướng mục tiêu và
các giải pháp nhằm chuyển dịch cơ cấu và phát triển kinh tế nông nghiệp của
huyện Quản Bạ trong những năm tới. Nội dung chuyển dịch cơ cấu KTNN nông
thôn rất đa dạng, nhưng xuất phát từ tình hình cụ thể của huyện Quan Bạ và
nguồn tài liệu để nghiên cứu tham khảo. Vì vậy nhiệm vụ, phạm vi đề tài, từ
những căn cứ lý luận thực tiễn, tập trung nghiên cứu các nội dung cơ cấu kinh tế
nông nghiệp và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong 5 năm (2000-
2005) để có phương hướng và những giải pháp chuyển dịch cơ cấu và phát triển
KTNN của huyện Quản Bạ trong giai đoạn (2006-2010). Phương pháp nghiên
cứu: Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phân tích hệ thống;
thống kê kinh tế; tổng hợp, kế thừa những kết quả đã nghiên cứu những vấn đề có
liên quan đến chuyên đề ở các cơ quan Trung ương và địa phương.
Với những kiến thức được trang bị, được sự giúp đỡ của PGS.Tiến sĩ: Phan
Kim Chiến giảng viên trực tiếp hướng dẫn viết đề tài, các thầy cô trong Khoa
Khoa học quản lý Trường Đại học Kinh tế quốc dân, các đồng chí lãnh đạo Uỷ
ban nhân dân huyện Quản Bạ, cơ quan Văn phòng UBND huyện Quản Bạ nơi
thực tập và một số Phòng ban, cơ quan chuyên môn khác trên địa bàn huyện đã
tạo điều kiện và cung cấp tài liệu giúp đỡ để hoàn thành đề tài.
5
(1). Kinh tế nông nghiệp lý thuyết và thực tiễn. Tác giả TS. Đinh Phi Hổ, Nhà XB Thống kê - 2003, tr 3
(2). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, tr 149
Chương I : Những lý luận chủ yếu về chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp
“Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất cơ bản giữ vai trò to lớn
trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển.
ở những nước này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông. Tuy nhiên, ngay
cả những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDP nông
nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và
không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống con người những sản
phẩm tối cần thiết đó là: lương thực, thực phẩm. Những sản phẩm này cho dù

1.1. Cơ cấu kinh tế :
6
“Cơ cấu kinh tế là tổng thể các mối quan hệ chủ yếu về chất lượng và số
lượng tương đối ổn định của các yếu tố về kinh tế hoặc các bộ phận cấu thành của
nền sản xuất xã hội trong những điều kiện và thời gian nhất định.”
(1) Giáo trình chính sách kinh tế xã hội-Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Nhà XB KHKT-Hà Nội (tr273)

“Cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân là hình thức cấu tạo bên trong của
nền KTQD, đó là tổng thể các quan hệ chủ yếu về số lượng và chất lượng tương
đối ổn định của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong một hệ thống tái sản
xuất xã hội với những điều kiện kinh tế xã hội nhất định. Nền KTQD dưới giác
độ cấu trúc là sự đan xen của nhiều loại cơ cấu khác nhau, có mối quan hệ chi
phối lẫn nhau trong quá trình phát triển của nền kinh tế. Những loại cơ cấu kinh
tế cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển của nền KTQD bao gồm: Cơ cấu
ngành và nội bộ ngành sản xuất. Loại cơ cấu này phản ánh số lượng và chất
lượng cũng như tỷ lệ giữa các ngành và sản phẩm trong nội bộ ngành của nền
KTQD. Nền KTQD là một hệ thống sản xuất bao gồm những ngành lớn như :
Công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ. Trong mỗi ngành lớn lại
hình thành ngành nhỏ hơn thường gọi là các ngành kinh tế – kỹ thuật. Ví dụ trong
nông nghiệp thì có lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp....”
(1)
.
1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế :
“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi thành phần và quan hệ tỷ lệ giữa
các mặt, các yếu tố, các bộ phận cấu thành của một hệ thống kinh tế từ trạng thái
này sang trạng thái khác phù hợp với những yêu cầu của nền kinh tế xã hội. Thực
chất của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự biến đổi lao động xã hội theo những
hướng nhất định”.
Cơ cấu kinh tế không thể cố định lâu dài, mà phải có những chuyển dịch cần
thiết thích hợp với sự biến động của điều kiện TN- KT- XH. Sự duy trì quá lâu

quan hệ của hệ thống KTNN theo một chủ định và định hướng nhất định, nghĩa là
đưa hệ thống KTNN đến trạng thái phát triển tối ưu đạt được hiệu quả, thông qua
các tác động điều khiển có ý thức, định hướng của con người, trên cơ sở nhận
thức và vận dụng đúng đắn các qui luật khách quan.
Vai trò, vị trí của chuyển dịch cơ cấu KTNN nhằm đáp ứng sự phát triển của
nền kinh tế thị trường, đáp ứng nhu cầu về nông sản phẩm của xã hội, nhu cầu
tiêu dùng của dân cư. Là điều kiện và nhu cầu để mở rộng thị trường, tạo cơ sở
cho việc thay đổi bộ mặt nông thôn nói chung và bộ mặt nông nghiệp nói riêng,
đồng thời tạo ra một nền sản xuất chuyên môn hóa cao, thâm canh tiên tiến và các
ngành liên kết chặt chẽ với nhau hơn.
3.Nội dung cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Nội dung của cơ cấu KTNN bao gồm : cơ cấu ngành, cơ cấu vùng lãnh thổ,
cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu kỹ thuật. Sự phân công lao động theo ngành là
cơ sở hình thành cơ cấu ngành, sự phân công lao động phát triển ở trình độ cao,
càng tỷ mỷ thì sự phân công chia ngành càng đa dạng và sâu sắc. Trong lịch sử
phát triển xã hội loài người trong thời gian dài kinh tế nông nghiệp chủ yếu là
trồng trọt, chăn nuôi chưa phát triển, những nước kém phát triển tỷ trọng trong
trồng trọt trong nông nghiệp chiếm rất cao, đại bộ phận nông dân chủ yếu tham
gia lao động trồng trọt chỉ có số ít là kết hợp và chăn nuôi. Cùng với sự phát triển
của lực lượng sản xuất và tiến bộ khoa học- kỹ thuật đặc biệt sự phát triển của
nông nghiệp hiện đại, cơ cấu KTNN được cải biến nhanh chóng theo hướng sản
xuất hàng hoá, CNH, HĐH.
3.1.Cơ cấu ngành
Trong nông nghiệp không chỉ bao gồm ngành trồng trọt và chăn nuôi nó còn
gồm cả ngành lâm nghiệp và dịch vụ nông nghiệp. Do vậy trong cơ cấu ngành
còn phải xét tới sự chuyển dịch của ngành lâm nghiệp và ngành dịch vụ. Cơ cấu
8
nghành của KTNN bao gồm các nhóm ngành trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông
nghiệp và lâm nghiệp. Trong mỗi nhóm ngành lại được chia thành những ngành
hẹp hơn. Trong trồng trọt lại chia thành cây lương thực, cây công nghiệp, cây

tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước thì nền kinh tế phát triển đa dạng và
nhiều thành phần. Đáng chú ý trong qua trình chuyển dịch cơ cấu thành phần
kinh tế nổi lên các xu thế sau: đó sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế trong
đó: kinh tế hộ nổi lên thành kinh tế hộ độc lập, tự chủ, đây là thành phần kinh tế
năng động nhất, tạo ra sản phẩm hàng hoá phong phú đa dạng cho xã hội. Trong
quá trình phát triển kinh tế hộ chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất
hàng hoá nhỏ tiến tới hình thành các trang trại, nông trại (sản xuất hàng hóa lớn).
Thành phần kinh tế quốc doanh có xu hướng giảm mạnh. Nhà nước đang có biện
pháp sắp xếp, rà soát lại, hoặc chuyển sang các chức năng khác cho phù hợp với
điều kiện hiện nay. Thành phần kinh tế tập thể ( kinh tế HTX ) cũng chuyển đổi
9
chức năng của mình sang các HTX kiểu mới làm chức năng hướng dẫn sản xuất
và công tác dịch vụ phục cho nguyện vọng của các hộ nông dân mà trước đây
chức năng của HTX là trực tiếp điều hành sản xuất. Như vậy sự phát triển đa
dạng của các thành phần kinh tế cùng với việc chuyển đổi chức năng cuả nó làm
cơ cấu thành phần kinh tế trong nông nghiệp có những chuyển biến mạnh mẽ
theo hướng phát huy hiệu quả của các thành phần kinh tế.
3.4. Cơ cấu kỹ thuật :

Trong thời gian dài cũng giống như cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu kỹ
thuật trong nông nghiệp nước ta mang nặng tính chất cổ truyền, nông nghiệp
truyền thống lạc hậu, phân tán, manh mún và có tính bảo thủ, kỹ thuật mang tính
cha truyền con nối, tự đào tạo và truyền khẩu những kinh nghiệm trong phạm vi
từng gia đình. Vì vậy sản xuất nông nghiệp lệ thuộc vào tự nhiên, cơ cấu kỹ thuật
chậm chuyển biến. Đứng trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa
học kỹ thuật, sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp tiểu thủ công nghiệp, dịch
vụ đã tác động vào nông nghiệp làm phá vỡ tính cổ truyền, lạc hậu và trì trệ, làm
cho tính truyền thống giảm mạnh, công nghiệp hoà nhập vào nông nghiệp.
KTNN có sự kết hợp của kỹ thuật truyền thống đan xem với kỹ thuật tiên tiến
hiện đại. Từ đó làm cho cơ cấu kỹ thuật trong nông nghiệp nước ta trong những

phải tác động, thúc đẩy, thậm chí can thiệp nhằm thúc đẩy sự phát triển của quá
trình này. Tất nhiên phải trên cơ sở nhận thức được quy luật khách quan của
chúng để tác động đúng mục tiêu đã hoạch định. Quan trọng ở chỗ phải bắt đầu
từ đâu, với những biện pháp nào, khâu nào để có thể gây phản ứng dây chuyền
tạo ra bước phát triển mới tổng thể nền kinh tế quốc dân.
II. Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một tất yếu khách quan
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một yếu tố khách quan do bởi nông
nghiệp có một vị trí quan trọng, là ngành sản xuất ra những sản phẩm thiết yếu cho nhu
cầu tồn tại và phát triển xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp sẽ có tác động
rất mạnh đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội nó gắn
liền và chi phối sự hình thành và biến đổi của cơ cấu kinh tế trong nền kinh tế tự
cung tự cấp lực lượng sản xuất phân công lao động xã hội kém phát triển trì trệ
nên cơ cấu KTNN chậm chuyển biến, chỉ từ khi chuyển từ nền kinh tế thuần nông
sang sản xuất hàng hoá thì lực lượng sản xuất và phân công lao động mới phát
triển ở trình độ cao làm cho cơ cấu chuyển dịch mạnh mẽ, mặt khác sự phát triển
của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội là một xu thế tất yếu khách
quan của sự phát triển xã hội, do đó chuyển dịch cơ cấu KTNN cũng là một tất
yếu khách quan. Ngoài ra sự chuyển dịch cơ cấu KTNN còn bắt nguồn từ thực
trạng kém hiệu quả nhưng còn rất nhiều tiềm năng, vẫn mang nặng tính trồng
trọt, lĩnh vực chăn nuôi chưa được chú trọng, tỷ suất hàng hoá còn thấp, cơ cấu
còn kém hiệu quả. Trong điều kiện hiện nay nước ta với nguồn lao động dồi dào,
điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi nhưng tất cả vẫn ở dạng tiềm ẩn chưa được
khai thác một cách đầy đủ và hợp lý. Bởi vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chính là
nhằm giải quyết vấn đề này. Mục tiêu của chuyển dịch cơ cấu là phải trên cơ sở
tiềm năng sẵn có hình thành cơ cấu mới nhằm khai thác hiệu quả các tiềm năng
đó tạo ra một tỷ suất hàng hoá hơn, hiệu quả kinh tế ngày càng cao góp phần đắc

nhập cho người lao động.
- KTNN nông thôn vẫn còn nhiều mặt yếu kém, gây khó khăn, trở ngại lớn
cho CNH, HĐH đất nước, đòi hỏi phải được khắc phục, giải quyết.
- Phát triển nông nghiệp, nông thôn để xoá dần khoảng cách giữa thành thị
và nông thôn, đưa nông thôn tiến lên con đường văn minh hạnh phúc”
(1)
.
Đảng và Nhà nước ta có chủ trương đẩy mạnh việc đưa công nghệ sinh học
vào sản xuất và đặc biệt là việc sử dụng các giống cây trồng vật nuôi có năng suất
và chất lượng cao nhằm tạo ra khối lượng sản phẩm lớn và giá trị sản lượng hàng
hoá cao, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Trong những năm qua để tạo điều kiện cho quá trình chuyển dịch cơ cấu
nông nghiệp được thuận lợi và nâng cao đời sống của các hộ nông dân, Đảng và
Nhà nước đã ban hành chính sách đầu tư vốn phát triển kinh tế nông nghiệp phát
triển sản xuất và các chính sách hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, thực hiện
chuyển giao công nghệ tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao dân trí và điều kiện
sống trong nông thôn. Hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất đời sống ở
nông thôn, đồng thời để tạo điều kiện cho việc thực hiện chuyên môn hoá, thâm
canh cao trong sản xuất nông nghiệp Nhà nước cũng đã có chính sách ruộng đất
đảm bảo cho nông dân yên tâm đầu tư phát triển sản xuất, chính sách đầu tư hỗ trợ
phát triển và đảm bảo tiêu thụ sản phẩm, chính sách đào tạo bồi dưỡng nâng cao
trình độ cho người lao động và chính sách hỗ trợ đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất.
12
Cùng với việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi trong quá trình thực hiện
chuyển dịch cơ cấu KTNN.
(1). Tìm hiểu môn học KT chính trị Mác- LêNin của PGS.TS. Vũ Văn Phúc, TS. Mai Thế Hởn. Nhà XB Lý luận
chính trị - 2004 tr128
“ trong giai đoạn từ năm 1987 đến nay các Nghị quyết Đại hội VI, VII, VIII,
IX Đảng ta luôn nhấn mạnh thực hiện nhất quán, lâu dài chủ trương phát triển
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước

“Một là: đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông
thôn theo hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hoá lớn phù hợp với nhu cầu
thị trường và điều kiện sinh thái của từng vùng….
Hai là: Xây dựng hợp lý cơ cấu sản xuất nông nghiệp…
Ba là: tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ trong nông nghiệp….
Bốn là: tiếp tục phát triển và hoàn thiện về cơ bản hệ thống thuỷ lợi ngăn
mặn giữ ngọt, kiểm soát lũ…
Năm là: phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn….”
(2)
13
Qua những vấn đề trên có thể thấy Đảng và Nhà nước ta đặc biệt coi trọng
về lĩnh vực ngành nông nghiệp của nước nhà.
(1). Giáo trình Kinh tế nông nghiệp. Trường ĐH Kinh tế quốc dân, NXB Thống kê HN- 2004, tr 52
(2). Văn kiện Đại hội IX của Đảng. Nhà XB Chính trị quốc gia – 2001
III. Những nhân tố ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp

Cơ cấu KTNN là một khái niệm mang tính khách quan, tính lịch sử xã hội,
nó không những vận động, mà luôn biến đổi và phát triển. Sự chuyển dịch cơ cấu
KTNN là một quá trình do vậy sự hình thành, vận động, biến đổi và phát triển
của nó là kết quả của sự tác động thường xuyên và tổng hợp các nhân tố ảnh
hưởng tới cơ cấu KTNN. Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch của
cơ cấu KTNN nhưng tựu chung lại thì có 3 nhân tố ảnh hưởng chủ yếu sau:

1. Nhân tố điều kiện tự nhiên
Nhân tố điều kiện tự nhiên bao gồm : vị trí địa lý của các vùng lãnh thổ
điều kiện đất đai của các vùng: điều kiện khí hậu, thời tiết, các nguồn tài nguyên
khác cuả vùng lãnh thổ như nguồn nước, rừng, biển... Nắm bắt được các nhân tố
này nó cho phép chúng ta tránh được hai khuynh hướng trong thực tiễn đó là :
Quá đề cao sự lệ thuộc của cơ cấu kinh tế vào các nhân tố tự nhiên, hoặc là quá

2. Nhân tố về kinh tế - xã hội
Đây là nhân tố có tính chất quyết định đến cơ cấu kinh tế nông nghiệp
nông thôn. Các nhân tố kinh tế xã hội ảnh hưởng tới cơ cấu kinh tế nông nghiệp
bao gồm: thị trường (cả thị trường trong và ngoài nước) hệ thống các chính sách
kinh tế vĩ mô của nhà nước, vốn, cơ sở hạ tầng nông thôn, sự phát triển các khu
công nghiệp và đô thị; kinh nghiệm, tập quán và truyền thống sản xuất của dân
cư, dân số và lao động.... Trong nền kinh tế hàng hoá, nhân tố thị trường có ảnh
hưởng quyết định tới sự phát triển kinh tế nói chung và biến đổi của cơ cấu kinh
tế nói riêng. Bởi suy đến cùng cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông
nghiệp nói riêng chỉ tồn tại và vận động thông qua hoạt động của con người,
nhưng người sản xuất hàng hoá chỉ sản xuất và đem ra thị trường trao đổi những
sản phẩm mà họ cảm thấy chúng đem lại lợi nhuận thoả đáng. Như vậy thị trường
thông qua quan hệ cung cầu mà tín hiệu là giá cả hàng hoá thúc đẩy hay ngăn
cản người sản xuất tham gia hay không tham gia vào thị trường. Với cơ chế đó
người sản xuất tự xác định khả năng tham gia cụ thể của mình vào thị trường
những loại sản phẩm hàng hoá có lợi nhất. Do đó trên thị trường sẽ xuất hiện các
loai hàng hoá dịch vụ với quy mô và cơ cấu phản ánh cơ cấu kinh tế ở từng vùng,
từng địa phương. Nhà nước sử dụng các chính sách kinh tế, công cụ quản lý vĩ
mô khác để quản lý nền kinh tế. Chính sách kinh tế là hệ thống các biện pháp
kinh tế được thực hiện bằng các văn bản quy định tác động cùng chiều vào nền
kinh tế nhằm thực hiện các mục tiêu đã định. Chức năng chủ yếu của các chính
sách kinh tế vĩ mô là tạo ra động lực kinh tế mà cốt lõi là lợi ích kinh tế của mình
mà tiến hành các hoạt động kinh tế phù hợp với các định hướng của Nhà nước
trong kế hoạch kinh tế hoạt động phù hợp với định hướng của Nhà nước đồng
thời để đảm bảo lợi ích kinh tế của các chủ thể. Nhà nước thông qua pháp luật
kinh doanh, xác lập hành lang và khuôn khổ cho các chủ thế kinh tế hoạt động.
Để đạt được mục đích, một trong những hướng tác động quan trọng nhất của các
chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước là sự tác động đến cơ cấu kinh tế nói
chung và cơ cấu KTNN nói riêng. Nếu chỉ coi sự tác động của các quy luật thị
trường thì cơ cấu kinh tế chỉ hình thành và vận động một cách tự phát và tất yếu

KTNN, góp phần thúc đẩy quá trình hình thành, vận động và biến đổi của cơ cấu
KTNN. Vấn đề dân số, lao động và trình độ của người lao động, người quản lý
cũng là nhân tố có ảnh hưởng tới sự chuyển dịch cơ cấu. Ngoài ra, kinh nghiệm,
tập quán truyền thống của dân cư ở các vùng cũng có ảnh hưởng tới việc hình
thành và phát triển của cơ cấu KTNN.
3. Nhân tố quốc tế :
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường cần chú trọng sự tác động và ảnh
hưởng của thị trường quốc tế tới cơ cấu KTNN của mỗi nước. Ngày nay, quá
trình hợp tác và giao lưu kinh tế ngày càng mở rộng thì hầu hết các quốc gia đều
thực hiên các chiến lược kinh tế mở. Thông qua quan hệ thương mại quốc tế, các
quốc gia ngày càng tham gia sâu hơn vào quá trình hợp tác và phân công lao
động quốc tế. Đây là nhân tố hết sức quan trọng ảnh hưởng tới quá trình biến đổi
cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng ở mỗi quốc gia.
Việc tham gia ngày càng sâu vào quá trình hợp tác và phân công quốc tế sẽ làm
cho các quốc gia khai thác và sử dụng mọi nguồn lực của mình có lợi nhất trên cơ
sở phát huy các lợi thế so sánh. Mặt khác thông qua thị trường quốc tế mà mình
tham gia thì mỗi quốc gia lại tăng thêm các cơ hội tiếp cận những thành tựu khoa
học, công nghệ và kỹ thuật mới cũng như thu hút các nguồn vốn đầu tư nhằm
phát triển các ngành kinh tế, nâng cao trình độ công nghệ kỹ thuật, đẩy mạnh quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
4. Nhân tố về tổ chức - kỹ thuật
16
Bao gồm: các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp, sự phát triển
của khoa học kỹ thuật và việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản
xuất... Cơ cấu KTNN là phạm trù khách quan nhưng lại là sản phẩm hoạt động
của con người. Sự tồn tại, vận động và biến đổi và cơ cấu KTNN được quyết định
bởi sự tồn tại và hoạt động của các chủ thể kinh tế trong nông nghiệp là cở sở của
sự hình thành và phát triển của các ngành kinh tế, các vùng kinh tế và các thành
phần kinh tế. Các chủ thể kinh tế trong nông nghiệp tồn tại và hoạt động qua các
hình thức tổ chức sản xuất với các mô hình tổ chức tương ứng. Do vậy, các hình

Để phản ánh cơ cấu kinh tế thường sử dụng các chỉ tiêu như cơ cấu đầu vào,
cơ cấu đầu ra.
Nhóm các chỉ tiêu biểu hiện cơ cấu đầu vào bao gồm :
- Cơ cấu đất đai
- Cơ cấu vốn đầu tư
17
- Cơ cấu lao động
- Cơ cấu kỹ thuật.
Nhóm các chỉ tiêu biểu hiện cơ cấu đầu ra.
- Cơ cấu giá trị các loại sản phẩm
- Cơ cấu giá trị các loại sản phẩm hàng hoá.
Nhóm các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cơ cấu kinh tế.
Hiệu quả cơ cấu kinh tế chính là xem xét việc bố trí cơ cấu đầu vào (cơ cấu
sử dụng đất đai, cơ cấu vốn, cơ cấu lao động...) đã hợp lý chưa và biểu hiện của
nó chính là cơ cấu đầu ra (cơ cấu giá trị sản phẩm, cơ cấu giá trị hàng hoá).
Như vậy phản ánh hiệu quả cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp sử dụng các
chỉ tiêu sau :
Năng suất đất đai
Hiệu quả sử dụng vốn
Năng suất lao động
Giá trị sản lượng/1 đơn vị diện tích (1 đvdt tạo ra bao nhiêu giá trị sản
lượng)
Giá trị sản lượng/1 lao động (1 lđ tạo ra bao nhiêu giá trị sản lượng)
Giá trị hàng hoá /1 đvdt
Giá trị hàng hoá/1 lđ
Lợi nhuận
Thu nhập
Các chỉ tiêu trên có thể sử dụng để phản ánh cơ cấu kinh tế, hiệu quả cơ cấu
KTNN trong cả nước, từng vùng lãnh thổ và các thành phần kinh tế. Tuỳ thuộc
các phạm vi nghiên cứu mà sử dụng các chỉ tiêu, các phương pháp thích hợp.

nghĩa so sánh với từng khoảng cách 4-5 năm trở lên. Ngoài những chỉ tiêu nói
trên xuất phát từ yêu cầu sản xuất nông nghiệp nước ta, việc phân tích đánh giá
hiệu quả cơ cấu sản xuất nông nghiệp hiện đại còn dựa trên một số căn cứ:
Đánh giá hiệu quả của cơ cấu sản xuất trên cơ sở bình quân các loại nông
sản phẩm sản xuất trên đầu người so với nhu cầu tiêu dùng.
Khả năng cung cấp nguyên liệu của sản xuất nông nghiệp cho công nghiệp
chế biến.
Cơ cấu nông nghiệp phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng và giải
quyết việc làm cho người lao động.
Cơ cấu nông nghiệp phải đạt hiệu quả kinh tế cao, giá trị sản lượng nông
sản trên 1 ha phải tăng so với trước, tỷ trọng giá trị sản lượng hàng hoá cao.
Cơ cấu nông nghiệp phải nâng cao thu nhập cho các nông dân và hiệu qủa
trên một đồng vốn bỏ ra đạt tỷ lệ cao.
Khi nền kinh tế phát triển, thu nhập đầu người tăng, đời sống sẽ dần được
nâng cao, con người không chỉ hướng tới ăn no, ăn đủ mà còn có nhu cầu vui
chơi….đó là tất yếu nhưng con người chỉ được hưởng phúc lợi xã hội vui chơi
khi có nền kinh tế phát triển, còn nền kinh tế chậm phát triển thì con người mới
chỉ lo đến đủ ăn đủ mặc….cũng đã là một nhu cầu cực kỳ khó khăn, sau những
năm đổi mới đặc biệt là từ thập kỷ 90 trở lại đây thì đã thay đổi hoàn toàn, người
dân không phải lo ăn mà có nhu cầu tăng lên về văn hoá tinh thần như: đi du lịch,
tham quan nghỉ mát…. Y tế, giáo dục, phúc lợi xã hội được quan tâm phát triển
thêm nhiều cơ sở dịch vụ nâng cao, đáp ứng phần nào nhu cầu phát triển kinh tế.

3. Những kinh nghiệm chung trong chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
Cơ cấu sản xuất ngành nông nghiệp ở mỗi vùng mỗi địa phương thường là
không giống nhau nó phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của mỗi
vùng mỗi địa phương, ở các nước đang phát triển, do lịch sử để lại cơ cấu nông
nghiệp mang tính thuần nông độc canh là chủ yếu như xu hướng chung của thế
giới thì cơ cấu kinh tế sẽ chuyển dịch từ thuần nông độc canh sang phát triển toàn
diện. Trên cơ sở nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của một số vùng

dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp cho phù hợp. Tích cực đổi mới phương pháp
lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đảm bảo sâu sát cơ sở, cải cách hành
chính, tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc, những yêu cầu cấp thiết của
thực tiễn; xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm và khâu đột phá để tập trung chỉ đạo
thực hiện.
Sáu là : Coi trọng việc phát huy tính sáng tạo của mọi tổ chức và cá nhân để
huy động tối đa nội lực; có cơ chế, chính sách đúng đắn để thu hút ngoại lực,
đồng thời phân bổ và sử dụng hợp lý các nguồn lực; nắm chắc và khai thác triệt
để các lĩnh vực có lợi thế và thời cơ để nâng cao tốc độ và chất lượng tăng trưởng
của nền kinh tế. Phát triển kinh tế phải gắn với việc xây dựng và thực hiện tiến bộ
xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh.
Bảy là : Phát hiện và xây dựng các mô hình tiên tiến, chú ý công tác tổng kết
thực tiễn để kịp thời ban hành, điều chỉnh các cơ chế, chính sách thúc đẩy phát
triển kinh tế -xã hội, tạo được sự đồng tình trong Đảng và quần chúng nhân dân
về nghĩa vụ và quyền lợi; gắn kết chặt chẽ giữa dân chủ và kỷ cương trong từng
đơn vị cơ quan, thôn bản tạo sự thống nhất trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ.
Chương II : Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở
huyện Quản Bạ tỉnh Hà Giang.
20
I. Những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến
cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện

1. Đặc điểm về tự nhiên
(1)
Quản Bạ là huyện vùng núi cao của Tỉnh Hà Giang có tiềm năng về đất
đai, tài nguyên phong phú, đa dạng có điều kiện phát triên kinh tế nhiều thành
phần góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy phát triển nền kinh tế toàn Tỉnh. Đây
là địa bàn cư trú 14dân tộc anh em với nhiều truyền thông văn hoá,vật chất tinh
thần mang nét đặc trưng,nếu được xác định đúng đắn chiến lược đầu tư và giải
pháp phát triển thích hợp thì sẽ khai thác tốt thế mạnh của vùng.

Mã Pờ, Tùng Vài, Tả Ván với độ cao từ 900m đến 1.800m. Địa hìng chia cắt
mạng, có độ dốc lớn, phần lớn >25
o
, nhiều vùng có đá mẹ lộ đầu thành từng cụm.
2.2 Địa hình núi thấp: Độ cao thay đổi dưới 900m, được phân bổ chủ yếu ở
các xã Quyết Tiến, Đông Hà, Quản Bạ, Thanh Vân. Loại địa hình này có độ dốc
và mức độ chia cắt rất phức tạp, nhiều khu vực có độ dốc >25
o
, còn ở những vùng
có độ dốc <25
o
thì có độ chia cắt yếu.
2.3 Địa hình thung lũng: Huyện Quản Bạ có những thung lũng, xung
quanh là núi thấp, cao khác nhau. Loại địa hình này tuy diện tích không lớn,
nhưng khá bằng phẳng, cho phép thâm canh được nhiều loại cây trồng như ở
Quyết Tiến, Lùng Tám, Tùng Vài.
21
Ngoài ba địa hình chủ yếu trên huyện Quản Bạ còn có các loại địa hình
Castơ, loại địa hình này không lớn được phân bổ ở các dãy núi đá vôi trong
huyện.
(1) Trích báo cáo quy hoạch đất đai Huyện Quản Bạ năm 2010)
Tóm lại: Quản Bạ có điểm thấp nhất là Đông Hà nằm dọc theo sông Miện,
có độ dốc cao trung bình khoảng <900m. Nơi cao nhất tại Cao Mã Pờ là 2.150m.
Địa hình phức tạp, có độ dốc lớn, chia cắt mạnh gây rất nhiều khó khăn cho việc
đi lại, sản xuất và đi lại của nhân dân. Tình trạng thiếu nước rất phổ biến đặc biệt
trong những tháng mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhìn chung địa
hình thấp dần từ tây bắc xuống đông nam.
3. Khí hậu:
Theo số liệu quan trắc của trạm khí tượng Hà Giang cho thấy:
Huyện Quản Bạ có khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm, chịu ảnh hưởng của chế

thạch, nên đất ở đay thường có thành phần cơ giới nặng, độ phì khá ở nhữg
nơi thấp hơn 25
o
như: Quản Bạ, Thanh vân, Quyết tiến. còn những ở vùng cao
từ 26 – 45
o
bị sạt lở, quá trình sói mòn rửa trôi mạnh. Huyện Quản bạ có
những loại đất chính như sau:
a.1. Đất bồi tụ (D) diện tích 692 ha,thườngcó độ dốc <3
o
,chiếm 1.5% tổng
diện tích tự nhiên, tầng đất dày, ít chua là loại đất tốt, thích hợp với cây lúa,
hoa màu, cây công nghiệp hàng năm.
22
a.2. đất nâu đỏ vàng trên đá cát, đá mẹ sa thạch (F
q
): Diện tích: 7698ha,
chiếm 14% diện tích tự nhiên, đất có độ dốc 15
o
đến 25
o
, đất thường có đá lẫn,
thành phần cơ giới thịt nặng, PH
KCl
từ 4,5 đến 5,5 đất thích hợp với cây ngô,
các loại rau, màu, cây công nghiệp ngắn ngày. Được phân bổ chủ yếu ở các
xã: Thái An, Quyết Tiến.
a.3. Đất nâu đỏ trên đá vôi (F
V
) diện tích 4241ha, chiếm 8% diện tích tự

đến khá, các chất dễ tiêu trung bình, phản ứng của đất từ chua đến ít chua.
b. Tài nguyên nước:
Sông lớn nhất chảy qua địa phận huyện Quản Bạ là sông Miện bắt nguồn
từ Vân Nam Trung Quốc chảy qua các xã Bát Đại Sơn, Cán Tỷ, Lùng Tám,
Đông Hà, Thái An, đây là nguồn nước rất quan trọng cho sản xuất, sinh hoạt
của người dân trong vùng. Các suối nhỏ tuy có nhiều nhưng đều cạn kiệt vào
mùa đông.
Tuy nhiên việc khai thác nguồn nước sông Miện phục vụ sản xuất có nhiều
hạn chế vì mặt nước sông vào mùa khô có độ chênh lớn so với mặt đất sản
xuất nông nghiệp.
Nước ngầm hiện chưa co kết quả thăm dò .Do địa hình đồi núi dốc lớn,nên
việc đàu tư khai thác rất phức tạp cho đến nay còn nhiều khó khăn và kém
hiệu quả.
c. Tài nguyên rừng .
Cả 13 xã , thị trấn của Huyện Quản Bạ đều có rừng tự nhiên, chủ yếu là
rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn . Ở núi đá rừng có nhiều loại gỗ quý
như:Trai ,nghiến..
Diện tích đất lâm nghiệp của toàn huỵên là 23727,35 ha,chiếm 43,15%
tổng diện tích tư nhiên .Trong đó rừng tự nhiên là 22544,66 ha ,chiếm
41,00%.Tập đoàn cây rừng hiện còn chủ yếu là la gỗ tạp, kháo,dẻ và cây lùm
bụi và các cây gỗ quý Trai, Nghiến, Thú rừng đã trở lên cạn kiệt do tệ nạn phá
rừng làm nương rẫy của những năm trước đây.
23
Tóm lại Quản Bạ có tài nguyên rừng rất lớn, đặc biệt là rừng tự nhiên, cần
có hướng tăng cường công tác bảo vệ rừng theo quy hoạch, có chính sách định
canh định cư thảo đáng để chấm dức hiện tượng chặt phá rừng, đốt nương làm
dẫy, khoanh một phần diện tích rừng tự nhirn sang đặc dụng để bảo tồn quỹ
gen quý hiếm, bảo vệ rừng nguyên sinh.
d. Tài nguyên khoáng sản.
Mặc dù chưa được thăm dò và khảo sát đầy đủ, nhưng Quản Bạ có một số

Năm 2000 Năm 2005
So sánh %
2005/2000
1 Dân số Người 36.852 40.813 110,7
2 Tổng sản phẩm XH ( GDP) Tr.đồng 35.009 102.030 291,4
3 Tốc độ tăng GDP % 7.5 11
4 Cơ cấu GDP % 100 100
- Nông – Lâm nghiệp % 80 48.05
- Công nghiệp – Xây dựng % 5 21.58
- Dịch vụ - Thương mại % 15 30.37
5 GDP bình quân đầu người triệuđồng 0.95 2.5 263,1
6 Sản lượng lương thực Tấn 12.000 15.160 126,3
24
7 Bình quân lương thực Kg/người 330 370 112,1
8 Tổng thu thuế và phí trên địa bàn Tr.đồng 1.100 2.500 227,2
(Nguồn: Báo cáo Đại hội Đảng bộ huyện Quản Bạ)
(nhiệm kỳ 2000-2005 và 2005 – 2010 )
2.2. So sánh một số chỉ tiêu kinh tế nông nghiệp của huyện đối với tỉnh
Trong những năm qua huyện Quản bạ đã có bước chuyển biến tích cực trong
phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên đặc trưng cơ bản của huyện vẫn là một địa bàn
thuộc vùng miền núi biên giới, địa hình phức tạp giao thông khó khăn, khí hậu
khắc nghiệt, kinh tế nông lâm nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn, sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế còn diễn ra chậm.Giá tri sản xuất nông nghiệp so với tỉnh chiếm tỷ lệ
rất thấp. So sánh một số chỉ tiêu cụ thể giữa huyện với tỉnh năm 2005 ở một số
lĩnh vực được thể hiện dưới biểu số 2 như sau:
Biểu số 2: So sánh một số chỉ tiêu kinh tế nông nghiệp của huyện Quản bạ
với tỉnh Hà Giang 2005
CHỈ TIÊU
Đơn vị
tính

Theo số liệu thống kê dân số huyện Quản bạ đến năm 2005 là 40.813người, mật
độ dân số bình quân 91,8 người/km
2
và phân bố không đồng đều nơi tập trung
đông là khu vực các Thị trấn, thị tứ, cụm trung tâm các xã, các xã ven đường
quốc lộ 4C . Tại các xã vùng sâu, xa và vùng cao mật độ dân số thấp như :Xã
Tùng Vài, Bát Đại Sơn,Cao Mã Pờ, Tả Ván, Thái An trung bình 40 đến 45
25

Trích đoạn Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo ngành Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo vùng lãnh Giải pháp về ruộng đất
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status