Một số giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai. - Pdf 32

(1) Báo cáo chính trị của BCH đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ XIII- nhiệm lỳ 2005 – 2010)Năng suấtSinh đẻ nhiềuBệnh tậtĐầu tưThu nhập thấpDinh dưỡngĐông conDốtTích luỹ
(1). Kinh tế nông nghiệp lý thuyết và thực tiễn. TS. Đinh Phi Hổ. NXB thống kê - 2003 tr 71). Giáo trình Kinh tế nông nghiệp. Trường ĐH Kinh tế quốc dân. NXH thống kê HN-2004, tr 5
1 Nguồn: Từ kế hoạch sử dụng đất huyện Bảo Yên giai đoạn 2006 - 2010.(1) Trích từ Báo cáo Đại hội Đảng bộ huyện Bảo Yên khoá XII (nhiệm kỳ 2000 – 2010)
(Nguồn: Báo cáo Đại hội Đảng bộ huyện Bảo Yên khoá XIII (nhiệm kỳ 2005-2010)(Nguồn : Tính toán từ số liệu thống kê tỉnh Lào Cai năm 2006).
(1)Nguồn : Báo cáo số 55/BC-KT ngày 23-12-2006 của Phòng Hạ tầng kinh tế huyện Bảo Yên. (Nguồn : Niên giám thống kê huyện Bảo Yên năm 2006)
(Nguồn: tính toán theo số liệu niên giám thống kê huyện Bảo Yên năm 2006).
(Nguồn : Báo cáo đại hội Đảng bộ huyện Bảo Yên lần thứ XIII nhiệm kỳ 2005 – 2010)
(1) Giáo trình quản lý học KTQD I, trường Đại học Kinh tế quốc dân, NXB khoa học và kỹ
thuật Hà Nội - 2001, trang 305.
(1) Tạp chí bảo hiểm xã hội, số ra tháng 7/2002, trang 6(1,2) Báo cáo Đại hội Đảng bộ huyện Bảo Yên khoá XIII (nhiệm kỳ 2005 - 2010).(1) tham khảo và trích một số nội dung trong cuốn kinh tế nông nghiệp TS. Đinh Phi Hổ. NXBTK-2000 tr 239-245)
(1) Huy động và sử dụng các nguồn lực trong phát triển kinh tế nông thôn thực trạng và giải pháp : TS Chu Tiến Quang, NXB chính trị quốc gia Hà Nội - 2004, trang 239.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự phát triển và thịnh vượng của mỗi quốc gia đều được lấy kinh tế
làm thước đo tiêu chuẩn với mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội phồn vinh.
Trong cơ cấu kinh tế, nông nghiệp là một ngành quan trọng trong quá trình
phát triển kinh tế không chỉ đối với nước ta mà với nhiều nước trên thế giới.
Muốn phát triển kinh tế thì nông nghiệp là một trong những lĩnh vực cần đặc
biệt quan tâm và “Nhận thức đúng vai trò của nó trong chiến lược phát triển
kinh tế và thực hiện đồng bộ hàng loạt những vấn đề liên quan đến nông
nghiệp”.
(1)
Một trong những vấn đề nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế đó là
sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung,
cơ cấu phát triển kinh tế nông nghiệp nói riêng là vấn đề quan trọng hiện nay
của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển
trong đó có Việt Nam. Mấu chốt là tìm các giải pháp có hiệu quả khả thi đưa
vào thực tiễn để chuyển dịch cơ cấu đạt kết quả nhanh và có tính bền vững
cao nhằm tăng giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích đất canh tác. Việt
Nam là một nước nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp. Năm 2005
“Trong GDP tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản còn 20,9%”
(2)

%. Để khai thác một cách triệt để lợi thế của huyện, nhanh chóng thay đổi bộ
mặt nông nghiệp nông thôn, từng bước hình thành các vùng chuyên canh và
nguyên liệu phù hợp với điều kiện của từng tiểu vùng kinh tế trên địa bàn
huyện thì chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế nông nghiệp là một vấn đề quan
trọng mang tính cấp thiết. Xuất phát từ những yêu cầu trên nhằm giúp kinh tế
nông nghiệp huyện Bảo Yên tìm ra những giải pháp, bước đi trong những
năm tới đạt hiệu quả cao nhất. Em đã chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài :
“Một số giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai”.
Đây là một vấn đề có ý nghĩa trong việc nghiên cứu khoa học và giải
quyết những vấn đề thực tiễn cấp bách đang được đặt ra trong phát triển kinh
tế nông nghiệp ở nước ta nói chung và ở huyện Bảo Yên - Lào Cai nói riêng.
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp, phân tích đánh giá về thực trạng cơ cấu và chuyển dịch
cơ cấu nông nghiệp ở huyện Bảo Yên, đánh giá những mặt đã đạt được,
những hạn chế và những vấn đề đặt ra cần giải quyết. Trên cơ sở đó đưa ra
những quan điểm, phương hướng, mục tiêu và các giải pháp nhằm chuyển
dịch cơ cấu và phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Bảo Yên trong
những năm tiếp theo. Nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông
thôn rất đa dạng, nhưng xuất phát từ tình hình cụ thể của huyện Bảo Yên và
nguồn tài liệu để nghiên cứu tham khảo. Vì vậy đề tài chỉ tập trung nghiên
cứu các nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và sự chuyển đổi
của nội dung này trong 3 năm (2004- 2006) và những giải pháp chuyển dịch
cơ cấu và phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Bảo Yên trong giai đoạn
2007 - 2010. Để hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu trên đề tài tập trung vào
các phương pháp nghiên cứu : phương pháp duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử; phân tích hệ thống, thống kê kinh tế; tổng hợp, kế thừa những kết
quả đã nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến chuyên đề ở các cơ quan
trung ương và địa phương.

trọng trong trồng trọt trong nông nghiệp chiếm rất cao, đại bộ phận nông dân
chủ yếu tham gia lao động trồng trọt chỉ có số ít là kết hợp và chăn nuôi.
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và tiến bộ khoa học - kỹ thuật
đặc biệt sự phát triển của nông nghiệp hiện đại, cơ cấu KTNN được cải biến
nhanh chóng theo hướng sản xuất hàng hóa, công nghiệp hoá, hiện đại hoá
(CNH, HĐH.)
3
2.1. Cơ cấu kinh tế theo ngành.
Hiện nay trong nông nghiệp không chỉ bao gồm ngành trồng trọt và
chăn nuôi nó còn gồm cả ngành lâm nghiệp và dịch vụ nông nghiệp. Do vậy
trong cơ cấu ngành còn phải xét tới sự chuyển dịch của ngành lâm nghiệp và
ngành dịch vụ. Cơ cấu ngành của KTNN bao gồm các nhóm ngành trồng
trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp và lâm nghiệp. Trong mỗi nhóm ngành
lại được chia thành những ngành hẹp hơn. Trong trồng trọt lại chia thành cây
lương thực, cây công nghiệp, cây thực phẩm, cây ăn quả, cây dược liệu…
Trong lĩnh vực chăn nuôi được phân chia thành : đại gia súc, tiểu gia súc, gia
cầm… Kinh nghiệm trong nước và thế giới cho thấy chuyển dịch cơ cấu
KTNN mang tính qui luật: từ trồng trọt mở ra lâm nghiệp, ngư nghiệp, chăn
nuôi, sản xuất hàng hóa. Trong một thời gian khu vực kinh tế nước ta chậm
chuyển biến, nông nghiệp chiếm vị trí chủ yếu, cơ cấu chậm chuyển dịch
nguyên nhân chủ yếu là lực lượng sản xuất kém phát triển, năng suất lao
động thấp, phân công lao động chưa cụ thể sâu sắc nên tình trạng thiếu
lương thực kéo dài. Từ 1990 trở lại đây sản xuất lương thực đạt được thành
tựu to lớn, đưa giống lúa có năng suất và chất lượng cao vào gieo trồng đã
tạo thành sản phẩm hàng hoá để xuất khẩu; do vậy làm cho cơ cấu KTNN
chuyển dịch nhanh chóng theo hướng có hiệu quả. Những nước có trình độ
kém phát triển nông nghiệp chiếm đại bộ phận trong nền kinh tế thì sự phát
triển của lực lượng sản xuất đặc biệt là tiến bộ khoa học kỹ thuật ứng dụng
vào làm cho cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh chóng theo hướng CNH,
HĐH.

chuyên môn hóa và tập trung hóa hình thành những vùng sản xuất hàng hóa
lớn tập trung có hiệu quả cao với các vùng chuyên môn hóa khác, gắn cơ cấu
của từng khu vực với cơ cấu kinh tế của cả nước. Trong từng vùng lãnh thổ
coi trọng chuyên môn hóa kết hợp với phát triển tổng hợp đa dạng. Để hình
thành cơ cấu vùng lãnh thổ hợp lý thì cần bố trí các ngành trên vùng hợp lý,
để khai thác đầy đủ tiềm năng của từng vùng. Đặc biệt cần bố trí các ngành
chuyên môn hóa dựa trên những lợi thế so sánh từng vùng đó là những vùng
có đất đai tốt, khí hậu phù hợp, đường giao thông thuận lợi và các khu công
nghiệp có sẵn.
II. CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ.
1. Khái niệm:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là giành một phần tài nguyên của một bộ
phận kinh tế này cho một bộ phận kinh tế khác theo hướng có lợi hơn, đáp
ứng nhu cầu sản phẩm xã hội và tăng thu nhập của người lao động.
1. 1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Lực lượng sản xuất phát triển gắn liền với phân công lao động xã hội,
chi phối sự hình thành và biến đổi của cơ cấu kinh tế. Khi nền kinh tế tự cấp
tự túc thì lực lượng sản xuất trì trệ kém phát triển dẫn đến cơ cấu KTNN
chậm chuyển biến. Chuyển nền kinh tế thuần nông sang sản xuất hàng hóa
thì lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội mới phát triển ở trình độ
cao. Mặt khác sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã
hội là xu thế tất yếu khách quan của sự phát triển xã hội. Vì vậy chuyển dịch
cơ cấu KTNN cũng là một tất yếu khách quan. Trong điều kiện nước ta hiện
nay, điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi, nguồn lao động trẻ dồi dào
nhưng vẫn ở dạng tiềm năng chưa được huy động và khai thác đầy đủ, hợp
lý. Bởi vậy rất cần thiết để chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Mục tiêu của chuyển
dịch cơ cấu phải dựa trên cơ sở tiềm năng sẵn có hình thành cơ cấu mới
5
nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng đó tạo ra một tỷ suất hàng hóa lớn
hơn, hiệu quả kinh tế ngày càng cao, bền vững góp phần đắc lực vào quá

nghiệp nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó sự tác động của
con người có ý nghĩa quan trọng. Do vậy chuyển dịch cơ cấu KTNN đến
trạng thái phát triển tối ưu đạt được hiệu quả, thông qua các tác động điều
khiển có ý thức, định hướng của con người, trên cơ sở nhận thức và vận
dụng đúng đắn các qui luật khách quan.
6
2. Vai trò chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đối với sự phát
triển của tỉnh, của nền kinh tế.
2.1 Vai trò chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đối với sự phát
triển của tỉnh Lào Cai
(1)
.
Trong thời gian qua sản xuất nông lâm nghịêp chuyển dich theo hướng
tích cực. Góp phần xoá đói giảm nghèo đạt được nhiều kết quả. Giá trị sản
xuất nông - lâm - ngư nghiệp đạt 1.176 tỷ đồng, tăng bình quân hàng năm
9,51%. Từ năm 2000 đến năm 2005 tỷ trọng ngành trồng trọt giảm từ 72,9%
xuống còn 70,2%; chăn nuôi và dịch vụ tăng từ 27,1% lên 29,9%.
Giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích canh tác tăng từ 8 triệu đồng
lên 14 triệu đồng. Thành tựu vượt trội về nông nghiệp là tăng mạnh về năng
xuất và sản lượng cây lương thực. Việc qui hoạch sản xuất hàng hoá được
quan tâm đã và đang hình thành các vùng chuyên canh lúa, ngô, đạu tương,
rau, quả hàng hoá. Công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, ứng
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất được đẩy mạnh. Trên 85% diện
tích được cấy giống lúa năng xuất cao. Nhiều cây con có năng xuất, chất
lượng và giá trị kinh tế cao được đưa vào sản xuất , thử nghiệm và từng bước
sản xuất đại trà như giống hoa cao cấp, cây ăn quả ôn đới, cây dược liệu.
Chăn nuôi phát triển theo hướng hàng hoá, nhất là chăn nuôi đại gia
súc, bình quân hàng năm đàn trâu tăng 4,5%, đàn bò 5,3%, đàn lợn 6,5%,
đàn gia cầm 5,5%. Công tác tuyển trọn giống được chú trọng như sinh hoá
đàn bò, nạc hoá đàn lợn, phục tráng con giống địa phương có tính vượt trội

(đạt 2.500 tỷ đồng). Đến năm 2003 có 100% số xã có đường ô tô đến trung
tâm xã. Đến năm 2005 có 75% số xã có điện lưới quốc gia, 62% số hộ dân
được sử dụng điện, 70% số hộ dân được sử dụng nước hợp vệ sinh, 12.584
hộ được hỗ trợ tấm lợp, sắp xếp ổn định dân cư 6.970 hộ, số hộ có nhà xây
kiên cố và bán kiên cố nông thôn tăng 5%. Thu nhập bình quân hộ gia đình
nông thôn tăng từ 6,6 triệu đồng lên 13,5 triệu đồng. Có 18.700 hộ sản xuất
kinh doanh giỏi, 30.600 hộ giầu và khá, tỷ lệ hội đói nghèo còn 41,01%...
Mục tiêu trong thời gian tới là chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế nội
ngành nông lâm nghiệp theo hướng nâng cao tỷ trọng chăn nuôi và dịch vụ.
Đặc biệt là chăn nuôi đại gia súc, thuỷ sản và phát triển rừng kinh tế. Đầu tư
khai thác có hiệu quả lợi thế về công nghiệp, du lịch và kinh tế cửa khẩu để
tạo bước đột phá trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế.
2.2. Vai trò chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đối với sự
phát triển của nền kinh tế.
“Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng
của nền kinh tế quốc dân. Hoạt động nông nghiệp không những gắn liền với
các yếu tố kinh tế, xã hội mà còn gắn với các yếu tố tự nhiên. Nông nghiệp
theo nghĩa rộng gồm có : trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thuỷ sản có vị
trí hết sức quan trọng nó đáp ứng vào quá trình tăng trưởng và phát triển
kinh tế xã hội của cả nước và của từng địa phương. Đặc trưng trong nông
nghiệp ruộng đất là tư liệu sản xuất đặc biệt. Đối tượng của sản xuất là
những cây trồng vật nuôi. Trong sản xuất nông nghiệp, sự hoạt động của lao
động và tư liệu sản xuất có tính thời vụ, được tiến hành trên một địa bàn rộng
lớn và mang tính khu vực. Nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong chiến
lược phát triển kinh tế. Đặc biệt là trong giai đoạn đầu quá trình công nghiệp
hóa, tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp ảnh hưởng quyết định đến tốc độ
tăng trưởng chung của nền kinh tế. Do đó nghiên cứu mối quan hệ về vai trò
nông nghiệp đối với phát triển kinh tế có ý nghĩa quan trọng cả khía cạnh lý
8

những sản phẩm tối cần thiết đó là : lương thực, thực phẩm. Những sản
phẩm này cho dù trình độ khoa học - công nghệ phát triển như hiện nay vẫn
chưa có ngành nào có thể thay thế được. Lương thực, thực phẩm là yếu tố
đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước”
(1)
. Qua các vấn đề nêu trên đã
chứng minh vai trò quan trọng của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân,
nó là một ngành không thể thiếu trong cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia và
nhất là đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Vai trò của chuyển dịch cơ cấu KTNN đáp ứng sự phát triển của kinh
tế thị trường, đáp ứng về yêu cầu nông sản phẩm của xã hội, nhu cầu tiêu
dùng của dân cư, là điều kiện để mở rộng thị trường, tạo cơ sở thay đổi bộ
mặt nông thôn nói chung và bộ mặt nông nghiệp nói riêng, đồng thời tạo ra
một nền sản xuất chuyên môn hóa cao, thâm canh tiên tiến và các ngành liên
kết với nhau chặt chẽ hơn.
3. Nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Cơ cấu KTNN là một khái niệm mang tính khách quan, tính lịch sử xã
hội, nó không những vận động mà còn biến đổi và phát triển. Sự chuyển dịch
cơ cấu KTNN là một quá trình do vậy sự hình thành vận động, biến đổi và
phát triển là kết quả sự tác động thường xuyên và tổng hợp các nhân tố ảnh
hưởng tới cơ cấu KTNN, tựu trung lại có 3 nhân tố ảnh hưởng chủ yếu sau :
3.1. Nhân tố điều kiện tự nhiên
Các nhân tố tự nhiên tác động một cách trực tiếp tới sự hình thành, vận động
và biến đổi cơ cấu KTNN, nhóm này gồm vị trí địa lý, điều kiện đất đai, điều
kiện khí hậu, thời tiết, nguồn nước, rừng, biển… tuy tác động ảnh hưởng của
điều kiện tự nhiên đến mỗi nội dung cơ cấu KTNN không giống nhau, trong
đó cơ cấu vùng lãnh thổ chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên nhiều nhất :
trong các điều kiện tự nhiên nêu trên thì điều kiện đất đai, khí hậu, vị trí địa
lý có ảnh hưởng rất rõ nét tới sự phát triển của nông nghiệp ( theo nghĩa rộng

đem lại lợi nhuận thoả đáng và người sản xuất tự xác định khả năng tham gia
cụ thể của mình vào thị trường những loại sản phẩm hàng hóa có lợi nhất, do
đó trên thị trường sẽ xuất hiện các loại hàng hóa dịch vụ với qui mô và cơ
cấu phản ánh cơ cấu kinh tế ở từng vùng từng địa phương.
Ngày nay quá trình hợp tác và giao lưu kinh tế ngày càng mở rộng,
hầu hết các quốc gia đều thực hiện các chiến lược kinh tế mở, thông qua
quan hệ thương mại quốc tế các quốc gia ngày càng tham gia sâu hơn vào
quá tình hợp tác và phân công lao động quốc tế đó là nhân tố hết sức quan
trọng ảnh hưởng tới quá trình biến đổi cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu
KTNN nói riêng; tạo cho các quốc gia khai thác và sử dụng mọi nguồn lực
của mình có lợi nhất trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh. Qua đó có cơ
hội tiếp cận thành tựu khoa học công nghệ, kỹ thuật mới thu hút nguồn đầu
tư… nhằm đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Nhà nước sử
dụng các chính sách kinh tế công cụ quan lý vĩ mô khác để quản lý nền kinh
tế thể hiện sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế thị trường trên cơ sở
đảm bảo các yếu tố của thị trường để các qui luật khách quan của thị trường
phát huy những tác động tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực tạo
điều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng, phát triển với tốc độ cao và ổn định.
Để hình thành hay chuyển đổi một cơ cấu kinh tế nông nghiệp đòi hỏi
phải có điều kiện vật chất nhất định tương ứng với yêu cầu hình thành và
11
chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Để đáp ứng đòi hỏi về các điều kiện vật chất này
nhất thiết phải đầu tư và phải có vốn đầu tư; các nguồn vốn đầu tư chủ yếu
để hình thành và chuyển đổi cơ cấu KTNN gồm : nguồn nước của các chủ
thể kinh tế trong nông nghiệp; nguồn vốn ngân sách; nguồn vốn cho vay của
các ngân hàng; nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng; nguồn vốn đầu tư
trực tiếp hay gián tiếp của nước ngoài. Giải quyết tốt vấn đề vốn là một trong
những điều kiện quan trọng nhất để phát triển KTNN và xây dựng cơ cấu
KTNN hợp lý và phù hợp với yêu cầu khai thác tốt các nguồn lực xây dựng
cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn.

phát triển của khoa học kỹ thuật và ứng dụng chúng vào sản xuất có vai trò
ngày càng to lớn, góp phần hoàn thiện các phương pháp sản xuất nhằm khai
thác, sử dụng hợp lý hiệu quả các nguồn lực xã hội và khu vực nông thôn.
Như vậy chúng ta thấy rằng sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chịu ảnh hưởng
của nhiều yếu tố, hơn nữa các yêu tố đó lại tác động theo hai chiều có thể
tích cực hoặc có thể tiêu cực và thay đổi thường xuyên; do vậy cần phải nhận
thức đúng đắn các yếu tố trên để có thể sử dụng một cách hiệu quả nhất phát
huy lợi thế, giảm thiếu bất lợi, tránh sa vào chủ quan, duy ý chí.
4. Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp.
4.1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh cơ cấu kinh tế và hiệu quả cơ cấu
phát triển kinh tế
Để phản ánh cơ cấu kinh tế thường sử dụng các chỉ tiêu như cơ cấu
đầu vào, cơ cấu đầu ra.
Nhóm các chỉ tiêu biểu hiện cơ cấu đầu vào bao gồm :
- Cơ cấu đất đai
- Cơ cấu đầu tư
- Cơ cấu lao động
- Cơ cấu kỹ thuật
Nhóm các chỉ tiêu biểu hiện cơ cấu đầu ra gồm :
- Cơ cấu giá trị các loại sản phẩm
- Cơ cấu giá trị các loại sản phẩm hàng hóa.
Nhóm các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cơ cấu kinh tế :
Hiệu quả cơ cấu kinh tế chính là xem xét việc bố trí cơ cấu đầu vào
(đất đai, vốn, lao động …) đã hợp lý chưa và biểu hiện của nó chính là cơ
cấu đầu ra (cơ cấu giá trị sản phẩm, cơ cấu giá trị hàng hóa. Như vậy phản
ánh hiệu quả cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp sử dụng các chỉ tiêu sau :
- Năng suất đất đai
- Hiệu quả sử dụng vốn
- Năng suất lao động

Như vậy để phản ánh chuyển dịch hay hiệu quả chuyển dịch ta sử
dụng các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu và hiệu quả cơ cấu nhưng xem xét ở trạng
thái động để thấy được sự thay đổi của cơ cấu chính là quá trình chuyển dịch
và sự biến động là hiệu quả của quá trình chuyển dịch. Việc sử dụng các chỉ
tiêu trên để đo lường hiệu quả chuyển dịch cơ cấu KTNN xuất phát từ yêu
cầu nghiên cứu và phụ thuộc vào nội dung CCKT. Ngoài ra có thể sửdụng
phương pháp so sánh theo không gian và thời gian của các chỉ tiêu nói trên,
mức độ khác nhau về hiệu quả kinh tế sẽ phản ánh tính hợp lý hay không
hợp lý CCKT nông nghiệp trong cả nước, từng vùng qua các thời kỳ khác
nhau, với cơ cấu kinh tế khác nhau. Các chỉ tiêu trên được sử dụng trên cả
nước và ý nghĩa so sánh với từng khoảng cách 4 đến 5 năm trở lên. Ngoài
14
những chỉ tiêu nói trên xuất phát từ yêu cầu sản xuất nông nghiệp hiện đại
còn dựa trên một số căn cứ
- Đánh giá hiệu quả của cơ cấu sản xuất trên cơ sở bình quân các loại
nông sản phẩm sản xuất trên đầu người so với nhu cầu tiêu dùng.
- Khả năng cung cấp nguyên liệu của sản xuất nông nghiệp cho công
nghiệp chế biến.
- Cơ cấu nông nghiệp phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng
và giải quyết việc làm cho người lao động.
- Cơ cấu nông nghiệp phải đạt hiệu quả kinh tế cao, giá trị sản lượng
nông sản trên 1 ha phải tăng so với trước, tỷ trọng giá trị sản lượng hàng hóa
cao.
- Cơ cấu nông nghiệp phải nâng cao thu nhập cho các nông dân và
hiệu quả trên 1 đồng vốn bỏ ra đạt tỷ lệ cao.
Khi nền kinh tế phát triển đời sống dần được nâng cao con người
không chỉ hướng tới đời sống vật chất mà còn nhu cầu đời sống tinh thần, từ
khi đổi mới đến nay người nông dân không phải lo ăn lo mặc mà có nhu cầu
tăng lên về văn hóa tinh thần như đi thăm quan nghỉ mát, đi du lịch…, phúc
lợi xã hội được quan tâm phát triển với nhiều cơ sở dịch vụ nâng cao, đáp

18.600 ha với sản lượng 8.383 tấn năm 1995.
Các cây: Chè, Mía, Điều đều tăng nhanh so với năm 1990.
Về chăn nuôi: Chủ trương của tỉnh là Sin hoá dàn bò và nạc hoá đàn
lợn. Năm 1991 Gia Lai có 192.000 con trâu, bò nay đa tăng lên 280.000 con.
Về lâm nghiệp: Chủ trương của tỉnh là tập trung vào làm công tác lâm
sinh gắn với các chương trình phủ xanh đất chống, đồi núi trọc. Trồng rừng
năm 1991 là 710 ha tăng lên 2.080 ha năm 1995 và đạt 3.400 ha năm 1997
Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn cùng với việc đẩy mạnh sản
xuất và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp đồng thời công nghiệp chế biến
nông – lâm sản, vật liệu xây dựng ... cũng được phát triển mạnh mẽ. Hiện
nay chủ trương của tỉnh xây dựng hệ thống các nhà máy chế biến Nông - Lân
nghiệp có công nghệ cao gắn liền với địa bàn có vùng nguyên liệu mà chủ
yếu là nông thôn , ven thị trấn.
2. Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiêp ở tỉnh
Quảng Ngãi.
Quảng Ngãi là một tỉnh ở ven biển miền trung, đông dân, bình quân
ruộng đất thấp ( 720m
2
/người), đồi núi dốc, độ sói mòn cao, đất trống, đồi
núi trọc nhiều, lụt bão liên tục, cơ sở hạ tầng nông thôn thấp kém.
Quảng Ngãi đã chủ trương cải tiến cơ cấu kinh tế nông nghiệp xây
dựng nông thôn mới có kinh tế phát triển, đời sống văn hoá phong phú lành
mạnh, có cơ sở hạ tầng đáp ứng được những nhu cầu cơ bản của nông dân
bảo đảm công bằng xã hội, củng cố an ninh - quốc phòng. Cùng với chủ
trương phát triển kinh té nhiều thành phần và xác định hộ xã viên là là đơn vị
kinh tế tự chủ, đã thúc đẩy sự phát triển của sản xuất nông – lâm – ngư –
công nghiệp và dịch vụ một cách toàn diện - kết quả giá trị sản xuất nông
nghiệp tăng trưởng bình quân là 5,1%; công nghiệp 14,5%. So với cả nước
16
thì chậm, nhưng với Quảng Ngãi là bước phát triển tích cực bởi cùng với kết

xuất.
- Sản xuất công nghiệp phát triển để tạo đầu ra cho sản xuất nông
nghiệp theo cơ cấu kinh tế mới.
17
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất
hàng hoá ở Quảng Ngãi đang phát triển theo hướng tích cực, gắn với đầu tư
nâng cấp cơ sỏ hạ tầng nông thôn.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CÁU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP HUYỆN BẢO
YÊN TỈNH LÀO CAI.
I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI.
1. Về điều kiện tự nhiên
(1)
Bảo Yên là một trong 9 huyện, thành phố của tỉnh Lào Cai có tổng
diện tích tự nhiên 82.384 ha, chiếm 12,95% so với diện tích tự nhiên toàn
tỉnh (diện tích tự nhiên toàn tỉnh 635.708 ha) là huyện miền núi phía Bắc
giáp huyện Bảo Thắng, huyện Bắc Hà, phía nam giáp huyện Lục Yên và Văn
Yên tỉnh Yên Bái, phía đông giáp huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang, phía
Tây giáp huyện Văn Bàn. Trung tâm huyện lý cách thành phố Lào Cai 75 km
về phía Tây Nam. Là địa bàn cư trú của 16 dân tộc sinh sống với dân số
75.370 người (tính đến 12/2005) chiếm 13,1% so với dân số toàn tỉnh; mật
độ dân số bình quân 91 người/km
2
. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,5%. Địa giới
được chia thành 18 đơn vị hành chính, trong đó có 17 xã và 1 thị trấn, có 8
xã thuộc diện đặc biệt khó khăn theo chương trình 135 của Chính phủ , mạng
lưới giao thông có trục đường quốc lộ 70 và tuyến đường sắt chạy từ cửa
khẩu quốc tế Lào Cai về Hà Nội. Quốc lộ 279 chạy từ huyện Than Uyên tỉnh
Lai Châu sang huyện Quang Bình - Hà Giang. Có sông Hồng và sông Chảy
chạy qua địa bàn huyện. Độ cao trung bình từ 200 - 450

nông lâm nghiệp (đất chưa sử dụng giảm 2.400 ha so với năm 2004).
Tình hình sử dụng đất của các tổ chức và hộ gia đình đã ổn định, đúng
ranh giới và mục đích được giao. Công tác giao đất nông nghiệp và đất ở đã
cơ bản hoàn thành để đảm bảo cho người có đất sản xuất và đất ở ổn định lâu
dài.
- Theo kết quả điều tra của trung tâm khoa học tự nhiêm và công nghệ
quốc gia năm 2005 huyện có 5 nhóm đất chính và 13 loại đất như sau:
* Nhóm đất đỏ vàng: 73.682 ha chiếm 89,79% diện tích tự nhiên,
phân bố khắp địa bàn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quá trình Fe-ra-lít. Trong
điều kiện nóng ẩm nhiều mưa quá trình lý, hoá và sinh học phát triển mạnh
phá huỷ khoáng nguyên sinh và thứ sinh để tạo thành đất, tầng đất trở nên
dầy và ít lẫn đá. Tuỳ theo loại đá mẹ quá trình Fe-ra-lít hình thành nên các
loại đất có màu sắc khác nhau. Trên địa bàn huyện Bảo Yên nhóm đất đỏ
vàng bao gồm:
+ Đất đỏ vàng trên đá biến chất và đá trầm tích(Fs): Trên địa bàn
huyện Bảo Yên loại đất này khá phổ biến( 71.032 ha) chủ yếu được hình
thành trên đá: Gơ-nai, đá Phi-rít, A-pa-tít. Đặc trưng loại đất này là từng dầy
trung bình , lẫn đá, màu sắc không đồng nhất, phân hoá tầng yếu, kết cấu tốt,
thành phần cơ giới nhẹ, các chất dinh dưỡng khá, ít chua.
+ Đất nâu đỏ trên đá vôi(Fv): Loại đất này chiếm tỷ lệ không đáng kể,
phân bố lẻ tẻ ở khu vực Điện Quan. Đất Fv có thành phần cơ giới nặng song
do giầu can xi và mùn nên đất có kết cầu viên, dễ thoát nước.
+ Đất vàng nâu trên đấ trầm tích(Fp): là loại đất phát sinh, phát triển
trên nền phù sa cổ được hình thành nhờ quá trình tích luỹ, trầm tích nê-ô-
gen. Loại đất này khá dầy do qúa trình bồi tích, đất có hàm lượng dinh
dưỡng cao, tơi xốp tuy nhiên lẫn khá nhiều cuội, sỏi, cuội tảng. Loại đất này
được phân bố dọc sông Hồng, sông Chảy địa hình phân bố dạng đồi thấp,liền
dải, lượn sóng.
19
+ Đất vàng nhạt trên đá cát( Fq): Đất này được hình thành trên đá

thuận lợi cho việc phát triển các loại rau, màu.
+ Đất phù sa ngòi, suối(Py): có 800 ha. Phân bố dọc theo các suối lớn
song tập trung chủ yếu ở Nghĩa Đô. Loại đất này được hình thành qua qúa
trình nắng đọng, bồi tụ nâu đời, hoặc sự chuyển dời dòng chảy kết hợp với
quá trình canh tác lâu đời làm biến đổi cơ lý tính đất. Đất (Py) có độ phì
khá , ít chua, tầng đất chung bình, có khả năng thâm canh cao các cây trồng
nông nghiệp.
20
* Đất thung lũng dốc tụ(DL): Trên địa bàn có khoảng 793 ha. Đây là
loại đất thứ sịnh được hình thành và phát triển trên sản phẩm rửa trôi và bồi
tụ của các loại đất ở chân sườn hoặc khe dốc . Đất DL có độ phì phụ thuộc
vào các loại đất vùng lân cận , tầng đất dầy, thành phần cơ giới thịt trung
bình đất chua, phân bố rải rác trên lãnh thổ huyện.
* Đất mùn đỏ vàng trên núi cáo: Có 5.958 ha chiếm 7,25% tổng diện
tích tự nhiên. Trên địa bàn lãnh thổ huyện có hai loại:
+ Đất mùn đỏ vàng trên đá sét và biến chất : có 5.889 ha
+ Đất mùn đỏ vàng trên đá mác-a xít: có 69 ha.
+ Loại đất này được hình thành trên đai cao từ 900m trở lên, chủ yếu
tập trung trên đỉnh cao dãy con voi và dãy Khao Tanh , với quá trình phong
hoá và tích lũy mùn diễn ra khá mạnh trong điều kiện nóng ẩm mưa nhiều.
Với đặc điểm về tài nguyên đất như trên trong quá trình khai thác sử
dụng và sản xuất nông, lâm nghiệp cần phải tập trung triệt để các loại đất
thích hợp với sản xuất nông nghiệp do đó với đất đồi núi có độ dốc trong quá
trình khai thác phải chú ý các biện pháp chống sói mòn đất như các mô hình
ruộng bậc thang, canh tác theo phương thức nông lâm kết hợp và bền vững.
1.2. Về khí hâu
Bảo Yên nằm trong vùng thung lũng sông Hồng và sông Chảy, độ cao
trung bình so vơí mực nước biển không lớn (~ 400 m ) do đó khí hậu mang
tính chất nhiệt đới, nóng ẩm mưa nhiều.
- Một năm có 4 mùa, tuy nhiên chỉ có hai mùa rõ rệt : Mùa nóng từ

mm
/tháng) gây
thiếu nước cho sản xuất và sinh hoạt. Những tháng có lượng mưa lớn tháng
6, 7, 8 đã gây nên sói mòn rửa trôi đất màu ở nơi đồi núi trọc hoặc độ che
phủ ít thảm thực vật. Nhìn chung các yếu tố trên thấp hơn so với các vùng
khác ở phía Bắc, đầy là những yếu tố hình thành các tiểu vùng đất đai, khí
hậu có liên quan đến việc sử dụng giống cây trồng.
1.3. Về thuỷ văn
Hệ thống sông, suối trên địa bàn huyện dầy đặc và phân bố khá đều
trên lãnh thổ. Sông Hồng, sông Chảy là hai dòng chảy lớn chảy qua địa
phận huyện.
- Sông Hồng bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng ( Trung Quốc) chảy
qua thị xã Lào Cai, huyện Bảo Thắng và địa phận huyện Bảo Yên với tổng
chiều dài khoảng 20km theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Sông Hồng lòng
rộng, sâu, độ dốc lớn dòng chảy tương đối thẳng nên nước chảy xiết, mạnh,
đặc biệt về mùa mưa lũ. Lưu lượng nước sông Hồng không điều hoà, mùa
mưa lũ lưu lượng nước lớn ( khoảng 4830m
3
/s) mực nước cao (Độ cao tuyệt
đối 86,85 m) thường gây lũ lụt ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống con
người. Mùa kiệt lưu lượng nước nhỏ ( 70m
3
/s) mực nước thấp ( 74,25m) ảnh
hưởng tới mực nước ngầm trong toàn vùng.
Sông Hồng là nguồn cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của địa
bàn dọc hai bên sông. Nước sông Hồng có hàm lượng phù sa lớn( Mùa lũ
lượng phù sa 6000-8000g/m
3
, nước mùa cạn 50g/m
3

phẩm xã hội (GDP) của huyện tăng từ 307.935triệu đồng năm 2004 lên
438.000 triệu đồng năm 2006 (theo giá cố định năm 1994). Tốc độ tăng
trưởng bình quân GDP hàng năm từ năm 2004 đến năm 2006 đạt 10,6 –
12,43%. GDP bình quân đầu người năm 2006 đạt 5,728triệu đồng,
(GDP bình quân chung toàn tỉnh đạt 5,15triệu đồng). Cơ
cấu kinh tế của huyện có sự chuyển dịch, tăng tỷ trọng cây công nghiệp - xây
dựng cơ bản và dịch vụ thương mại, giảm tỷ trọng nông lâm nghiệp; Tuy vậy
nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao trong GDP, công nghiệp xây dựng cơ
bản, dịch vụ chiếm tỷ trọng còn thấp, quá trình chuyển dịch còn chậm và
chưa ổn định. Cơ cấu tỷ trọng kinh tế thể hiện tỷ trọng nông lâm nghiệp
giảm từ 60,25% năm 2004 xuống còn 58% năm 2006, bình quân giảm
0,75%/năm. Tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng cơ bản tăng từ 15,84%
năm 2004 lên 17% năm 2006. Tỷ trọng ngành thương mại dịch vụ tăng từ
23,91% năm 2004 lên 25% năm 2006. Với thực trạng nền kinh tế như vậy
đòi hỏi ngành nông nghiệp phải có nhiều cố gắng vươn lên để góp phần thực
hiện công nghiệp hóa - hiện đại hoá nền kinh tế của huyện.
Biểu 1 : Tình hình phát triển kinh tế xã hội của huyện Bảo Yên
Giai đoạn 2004 - 2006
23
Số
TT
Chỉ tiêu
Đơn vị
tính
Năm 2004
Năm
2005
Năm
2006
So sánh

7
.
Bình quân lương
thực/người kg/người 384 385 386 100,52
8
.
Tổng thu thuế và phí trên
địa bàn
tr.đồng 9.315 10.235 11.410 122,50
.
2.2. So sánh một số chỉ tiêu kinh tế nông nghiệp của huyện đối với
tỉnh Lào Cai
24
Bảo Yên là huyện cửa ngõ, vùng thấp của tỉnh, có những tiềm năng
thế mạnh nhất định. Tuy nhiên vẫn là địa bàn huyện miền núi, địa hình phức
tạp, khí hậu khắc nghiệt, kinh tế nông lâm nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn, sự
chuyển dịch cơ cấu diễn ra còn chậm. So sánh một số chỉ tiêu của huyện với
tỉnh năm 2006 như sau :
Biểu 2 : So sánh một số chỉ tiêu kinh tế nông nghiệp của huyện
Bảo Yên với tỉnh Lào Cai năm 2006
Số
TT
Chỉ tiêu
Đơn vị
tính
Huyện
Bảo Yên
Tỉnh
Lào Cai
So sánh

. Bình quân sản lượng thịt hơi/người kg 40,0 44,1 91,60
1
1
.
Tỷ trọng diện tích gieo trồng cây lâu
năm/tổng diện tích gieo trồng
% 7,6 13,76 55,23
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status