Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác Dân số - KHHGĐ huyện Bảo Yên- tỉnh Lào Cai đến năm 2010. - Pdf 32

Chủ nhịêm
-Phục trách chung.
- Tham mư u cho cấp uỷ Đảng, CQ địa phương;
-Tổng hợp chung, xây dựng KH và tổ chức triển khai;
-Định kỳ BC cấp trên theo Q Đ
quy định.
- Một cán bộ phụ trách c ông tác DS-KHHGĐ;
- Tổng hợp báo cáo;
- Hướng dẫn đôn đốc cơ sở;
- Định kỳ báo cáo, kiêm thủ quỹ cơ quan……
Một cán bộ phụ trách công tác gia đình và sự nghiệp bảo vệ chăm sóc trẻ em;
- Tổng hợp báo cáo
- Hướng dẫn đôn đốc cơ sỏ;
- Định kỳ báo cáo, kiêm kế toán cơ quan…
Trưởng ban
phụ trách chung
Cán bộ chuyên trách
- Tham mưu cho cấp uỷ Đảng, CQ;
- Xây dựng kế hoạch;
- Tổng hợp báo cáo;
- Đôn đốc và hướng dẫn các CTV triển khai các hoạt động;
- Báo cáo định kỳ.
CTV
Cộng tác viên
- Phụ trách cơ sở; thăm hộ GĐ; phân phát các biện pháp tránh phi lâm sàng;
- Vào sổ hộ gia đình, làm công tác tuyên truyền
CTV
Đặt vấn đề
1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài:
Dân số đóng vai trò hai mặt trong quá trình phát triển. Một mặt dân số là
lực lượng tạo ra của cải vật chất và các dịch vụ cho xã hội. Mặt khác, dân số là

1
Đề tài phải đảm bảo tính lý luận và thực tiễn cao, đánh giá đứng thực
trạng công tác Dân số - KHHGĐ ở huyện và đề ra được những giải pháp phù
hợp có thể áp dụng vào trong điều kiện của huyện trong giai đoạn hiện nay.
4.Phương pháp nghiên cứu:
* Phương pháp luận chung: Vận dụng những nguyên lý, quan điểm
phương pháp luận của chủ nghĩa Mac-Lê Nin của đảng ta vào qúa trình phân
tích, đánh giá các mặt hoạt động cụ thể của công tác Dân số -KHHGĐ ở địa
phương.
* Phương pháp cụ thể: Sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, phương
pháp quan sát, phương pháp thống kê số liệu; Đặc biệt là phương pháp tổng
hợp- phân tích so sánh để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu.
5.Kết cấu chuyên đề:
Ngoài phần đặt vấn đề và kết luận, đề tài gồm 3 chương.
Chương I: Một số vấn đề lý luận chung.
Chương II: Thực trạng công tác DS-KHHGĐ.
Chương III: Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác DS-
KHHGĐ huyện Bảo Yên đến năm 2010.
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
I. Dân số và kế hoạch hoá gia đình(DS&KHHGĐ):
1. Khái niệm Dân số và KHHGĐ:
* Dân số: Là dân cư được xem xét dưới đặc tính quy mô, cơ cấu thì đây
chính là dân số.(1)
* Kế hoạch hoá gia đình: (KHHGĐ) theo định nghĩa của tổ chức y tế thế
giới(WHO): Bao gồm những thực hành giúp cho những cá nhân hay các cặp vợ
chồng để đạt được những mục tiêu: Tránh những trường hợp sinh không mong
muốn; Đạt được những trường hợp sinh theo ý muốn; Điều hoà khoảng cách
giữa các lần sinh; Chủ động thời điểm sinh con cho phù hợp với tuổi của bố,
mẹ. (2)

Tán thành với quan điểm của chủ nghĩa Mac, Ph Ăng Ghen cho rằng: “
theo quan điểm duy vật nhân tố quyết định trong lịch sử, suy cho cùng là sản
xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp, nhưng bản thân sự sản xuất có hai loại.
Một mặt sản xuất ra tư liệu trong sinh hoạt, ra thức ăn, quần áo, nhà ở và những
dụng cụ cần thiết để sản xuất ra những thứ đó. Mặt khác là sản xuất ra chính bản
thân con người; là sự truyền giống nòi. Những thiết chế xã hội trong đó những
con người của một thời đại lịch sử nhất định và của một nước nhất định đang
sống là do hai loại sản xuất đó quyết định. Một mặt là do trình độ phát triển của
lao động và mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình” (2).
1,2 C.Mác-Ph Ănghen tuyển tập, tập 6
3
Theo Lê Nin thì “ lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công
nhân, là người lao động”(1)
Như vậy theo quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lê Nin, dân số phát triển có
mối quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau. Sự phát triển của mỗi quốc
gia phụ thuộc vào rất nhiều vào chính qúa trình dân số của quốc gia ấy. Các
hành vi dân số của mọi cộng đồng dân cư lại tương hợp với một trình độ phát
triển kinh tế - xã hội( cả về kinh tế, văn hoá- xã hội, giáo dục y tế, tâm lý, phong
tục tập quán lối sống ….) của chính cộng đồng dân cư ấy.Ph Ăng Ghen chỉ rõ:
Xã hội nào làm được việc điều chỉnh sự sinh sản ra con người như đã điều chỉnh
kinh tế thì mới có thể lãnh đạo chủ động xã hội.(2)
3.2.Quan điểm của các hôị nghị quốc tế:
Cho đến nay, thế giới đã trải qua 5 kỳ hội nghị quốc tế về vấn đề dân số.
Trong đó hai kỳ họp vào năm 1954 tại RoMa(ItaLia) và năm 1965 tại
Beôgrat(Nam Tư cũ) mang tính trất chao đổi khoa học chuyên nghành. Ba kỳ
họp tiếp theo được Liên Hiệp Quốc tổ chức vào các năm 1974 tại
BCucaret(Rumani), năm 1984 tại Mêhicô CiTy(Mêhicô) và năm 1994 tại
Cairo(Ai Cập), các hội nghị này đã chuyển hướng từ việc trao đổi thông tin
khoa học sang thiết lập các chính sách và chương trình nhằm giải quyết vần đề
gia tăng dân số quá nhanh và coi sự bùng nổ dân số như hiện tượng toàn cầu.

phụ nữ, loại bỏ tình trạng bạo lực chống lại phụ nữ. Đảm bảo cho phự nữ có khả
năng kiểm soát vấn đề sinh đẻ của mình, đây chính là hòn đá tảng của chương
trình dân số và phát triển. Các nước cần tiến hành các biện pháp thích hợp để
đảm bảo tiếp cận rộng rãi với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ nói chung, trong
đó có sức khoẻ sinh sản-KHHGĐ và sức khoẻ tình dục dựa trên cơ sở bình đẳng
nam, nữ. Các nguyên tắc cũng khẳng định lại quyền của các cặp vợ chồng và cá
nhân được quyền tự quyết định số lần sinh và khoảng cách giữa các lần sinh,
đồng thời có quyền được yêu cầu cung cấp các thông tin và các phương tiện
KHHGĐ để họ thực hiện điều này. Các nguyên tắc cũng nhấn mạnh gia đình là
đơn vị cơ bản của xã hội, nên cần thường xuyên được củng cố, đồng thời công
nhận các hình thức khác nhau, tuỳ thuộc theo các nền văn hoá, kinh tế, chế độ
chính trị - xã hội khác nhau.
3.3.Quan điểm của đảng và nhà nước ta:
Nghị quyết IV, ban chấp hành TW Đảng khoá VII chỉ rõ “ sự gia tăng dân
số qúa nhanh là một trong những nguyên nhân quan trọng cản trở tốc độ phát
triển kinh tế - xã hội, gây khó khăn lớn cho việc cải thiện đời sống, hạn chế điều
kiện phát triển về mặt chí tuệ, văn hoá và thể lực của giống nòi. Nếu xu hướng
này cứ tiếp tục cứ diễn ra thì trong tương lai không xa đất nước ta sẽ đứng trước
những khó khăn rất lớn, thậm chí những nguy cơ về nhiều mặt”.
Vì vậy làm tốt công tác Dân số-KHHGĐ, thực hiện gia đình ít con giảm
nhanh tỷ lệ phát triển dân số, tiến tới ổn định quy mô dân số là vấn đề rất quan
trọng và bức xúc đối với nước ta. Đảng và Nhà nước ta thể hiện rõ quan điểm
chỉ đạo như sau.
5
Công tác dân số- KHHGĐ là bộ phận quan trọng của chiến lược phát
triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế-xã hội hàng đầu của nước ta,
là một yếu tố cơ bản để nâng cao nâng cao chất lượng cuộc sống của từng
người, từng gia đình và của toàn xã hội.
Giải pháp cơ bản thực hiện công tác Dân số-KHHGĐ là vận động, tuyên
truyền và giáo dục gắn liền với đưa dịch vụ KHHGĐ đến tận người dân; Có

6
được triển khai trong phạm vi cả nước, với xu hướng đẩy mạnh hơn nữa cuộc
vận động sinh đẻ có kế hoạch thông qua hai chỉ thị của Chính phủ.
- Chỉ thị số 265/CP ngày 12-8-1981 của Hội đồng Chính phủ về đẩy
mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch trong phạm vi cả nước.
- Chỉ thị số 29/HĐBT ngày 12-8-1-1981 của Hội đồng Bộ trưởng về đẩy
mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch trong 5 năm (1981-1985).
Sau một thời gian tạm lắng, cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch lại được
phát động sôi nổi và được triển khai rộng khắp trên toàn quốc để chuẩn bị cho
sự phục hưng nền kinh tế thông qua Đại hội lần thứ IV và thứ V của Đảng.
Thời kỳ từ năm 1984 đến nay.
Trong thời kỳ này, đặc biệt là năm 1993 đến nay, công tác DS-KHHGĐ
có bước phát triển vượt bậc và đạt đến đỉnh cao về nội dung, cách làm, kinh phí
và tổ chức bộ máy thực hiện. Nhiều văn bản quan trọng về công tác DS-
KHHGĐ đã được ban hành, trong đó có các văn bản chủ yếu sau:
- Quyết định số 162/HĐBT ngày 18-10-1988 của Hội đồng Bộ trưởng về
chính sách DS-KHHGĐ.
- Nghị định số 193/HĐBT ngày 19-6-1991 của Hội đồng Bộ trưởng về
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy và chế độ làm việc của Uỷ
ban quốc gia Dân số-KHHGĐ.
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá
VII tháng 1-1993 về chính sách DS-KHHGĐ.
-Quyết định số 270/TTg ngày 3-6-1993 của Thủ tướng Chính phủ về về
phê duyệt chiến lược DS-KHHGĐ đến năm 2000.
-Nghị định 42/CP ngày 21-6-1993 của Chính phủ về chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy và lề nối làm việc của Uỷ ban quốc gia DS-
KHHGĐ.
Chỉ thị số 50-CT/TW ngày 6-3-1995 của Ban bí thư Trung ương Đảng về
đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về chính sách DS-KHHGĐ.
- Chỉ thị số 37/TTg ngày 17-1-1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy

của người phụ nữ trong gia đình và xã hội, việc sử dụng các biện pháp tránh
thai…
1.2. Nhóm nhân tố ảnh hưởng tới mức chết:
Chết là hiện tượng tự nhiên, là điều không thể tránh khỏi đối với mỗi cơ
thể sống. Tuy nhiên mức chết phụ thuộc rất nhiều vào trình độ phát triển kinh tế
- xã hội; đặc biệt là trình độ đạt được về mặt y học.
Trong lĩnh vực dân số, sinh và chết là hai yếu tố chủ yếu của quá trình tái
sản xuất dân số. Sinh và chết có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau; thông
thường đối với các nước chậm phát triển, giai đoạn đầu tỷ lệ chết tỷ lệ thuận với
tỷ lệ sinh ( mức sinh cao và mức chết cũng cao). Mức chết có ảnh hưởng rất lớn
tới quy mô, cơ cấu dân số/
1.3. Nhóm nhân tố ảnh hưởng tới di dân:
8
Cùng với sinh và chết, di dân cũng ảnh hưởng đến quy mô, tốc độ phát
triển dân số và những đặc trưng về cấu trúc của dân số. Di dân là hiện tượng rất
phức tạp, chịu sự tác động bởi nhiều yếu tố, như văn hoá, kinh tế, chính trị - xã
hội.
1.4. Nhóm chính sách dân số:
Trong bốn nhóm nhân tố ảnh hưởng tới công tác dân số - KHH GĐ thì
nhóm chính sách có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nó có tác động trực tiếp đến tất
cả các nhân tố của ba nhóm trên nhằm quản lý dân số, điều tiết mức sinh, giảm
nhanh mức chết và ổn định dân cư.
+ Chính sách tác động tới mức sinh: chính sách này được chia thành hai
loại: khuyến khích và hạn chế sinh.
Chính sách khuyến khích sinh: Trong thời xa xưa, khi mức chết còn quá
cao, hầu hết các nước đều khuyến khích sinh. Coi dân số đông là sức mạnh của
quốc gia, kích thích sản xuất phát triển, tăng của cải vật chất cho xã hội. Hiện
nay, những nước phát triển dân số tăng chậm, khả năng phát triển sản xuất lớn
nên thường khuyến khích sinh.
Việt Nam là nước có nhiều tộc người, trong đó có những tộc người chỉ có

- Phối hợp với các cơ quan, ban, ngành xây dựng và trình Huyện Uỷ,
HĐND,UBND ban hành các Nghị quyết, Chỉ thị, Quyết định nhằm chỉ đạo
thống nhất và triển khai đồng bộ các nội dung công tác Dân số-KHHGĐ trên
địa bàn; Đồng thời huy động được đông đảo lực lượng xã hội tham gia vào các
hoạt động Dân số-KHHGĐ.
2.2. Về tổ chức thực hiện:
- Căn cứ vào hướng dẫn của nghành dọc cấp trên, UBDS,GĐ&TE huyện
tổ chức xây dựng kế hoạch 5 năm, hàng năm, kế hoạch phối hợp hoạt động với
các ban, ngành, đoàn thể trình UBND huyện và tổ chức thực hiện sau khi đã
được phê duyệt.
- Đề xuất ý kiến với UBDS,GĐ&TE tỉnh, UBND huyện củng cố, kiện
toàn bộ máy làm công tác Dân số-KHHGĐ từ huyện đến cơ sở, đảm bảo đủ
biên chế và từng bước nâng cao chất lượng để đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ
công tác.
- Chủ động phối hợp với các ngành, các cấp hướng dẫn chỉ đạo các cơ sở
thường xuyên làm tốt các nhiệm vụ sau:
+ Thường xuyên làm tốt công tác quản lý về biến động dân số:
Định kỳ tháng, quý thu thập các thông tin về sinh, tử, chuyển đi chuyển
đến, các biến động về tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai của các đối
tượng để cập nhật đầy đủ vào sổ hộ gia đình; Đồng thời nhập thông tin vào
phiếu thu tin gửi cho huyện, để huyện cập nhật thông tin vào kho dữ liệu điện tử
của huyện.
+ Xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền
vận động nhân dân thực hiện KHHGĐ. Sau tuyên truyền tổ chức cho các đối
tượng đang ký và lập danh sách những đối tượng đăng ký thực hiện các biện
pháp KHHGĐ để phối hợp với ngành y tế tổ chức cung ứng các dịch vụ
KHHGĐ cho đối tượng.
10
+ Định kỳ giao ban hàng tháng để đánh giá công tác tháng, đề ra phương
hướng nhiệm vụ cho tháng sau và cùng nhau hoàn thiện hệ thống báo cáo gửi

không đạt, nhưng nếu tính theo giai đoạn thì tất cả các chỉ tiêu đều đạt so với kế
hoạch giao.
Tuy nhiên để đạt được so với mực tiêu chính sách dân số đề ra là một
việc hết sức khó khăn, bởi vì xuất phát điểm thực hiện chương trình DS-
11
KHHGĐ, các chỉ tiêu này đểu ở mức rất cao. Đến năm 2006 tỷ suất sinh vẫn
còn ở mức 16,63‰; Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên là 14,14%; Tỷ lệ phát triển dân
số tự nhiên là 1,3%. Để đạt được mực tiêu theo chính sách đề ra, công tác DS-
KHHGĐ huyện Bảo Yên cần có nhiều cố gắng và tìm ra được các giải pháp phù
hợp, đồng thời phải đảm bảo được các điều kiện cần thiết để triển khai tốt các
giải pháp đề ra.
CHƯƠNG II
Thực trạng công tác Dân số-KHHGĐ
huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai.
I.Tình hình thực hiện chiến lược DS-KHHGĐ ở Việt Nam.(*)
1. Tình hình thực hiện chiến lược DS-KHHGĐ đến năm 2000
1.1 Kết quả đạt được
Chiến lược DS-KHHGĐ đến năm 2000, được Thủ tướng chính phủ phê
duyệt ngày 03 tháng 6 năm 1993, đã được triển khai có hiệu qủa. Đảng và Nhà
nước cũng như cộng đồng quốc tế đánh giá cao những thành tựu mà chương
trình Dân số Việt Nam đã đạt được trong những năm qua. Uỷ ban quốc gia Dân
số-KHHGĐ được Chủ tịch Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tặng
huân chương lao động hạng nhất. Tổ chức Liên Hiệp Quốc trao giải thưởng dân
số 1999 cho Việt Nam. Thành tích nổi bật nhất sau 7 năm thực hiện chiến lược
là:
1.1.1. Kết quả giảm sinh đã đạt được sớm hơn so với mục tiêu đề ra:
Mục tiêu chiến lược Dân số-KHHGĐ đến năm 2000 là “ giảm cho được
tổng tỷ suất sinh xuống 2,9 con hoặc thấp hơn, quy mô dân số dưới mức 82
triệu người vào giữa năm 2000 để đạt mức sinh thay thế chậm nhất vào năm
2015”. Thực tế cho thấy trong giai đoạn từ 1989 đến 1992, tỷ lệ không giảm,

đặt vòng, thuốc tiêm, thuốc cấy dưới da… ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong
cơ cấu các biện pháp tránh thai hiện đang được sử dụng.
1.1.3 Hệ thống tổ chức làm công tác Dân số-KHHGĐ bước đầu được kiện toàn.
Tổ chức bộ máy làm công tác Dân số-KHHGĐ được hình thành từ trung
ương đến cơ sở và từng bước được hoàn thiện về chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và phương thức hoạt động. Cơ quan DS-KHHGĐ các cấp đã thực sự trở
thành một tổ chức tham mưu tích cực cho lãnh đạo Đảng và chính quyền các
cấp về công tác Dân số-KHHGĐ. Đội ngũ cán bộ chuyên trách Dân số-KHHGĐ
trong toàn hệ thống được tăng cường về cả số lượng và chất lượng. Mạng lưới
cộng tác viên dân số được bố trí đến tận thôn, bản, tổ dân phố theo phương thức
quản lý tới tận hộ gia đình.
1.1.4 Công tác thông tin, giáo dục, truyền thông được mở rộng và đẩy mạnh.
Huy động được đông đảo lực lượng xã hội và các cá nhân tham gia vào
tuyên truyền, vận động thực hiện Dân số-KHHGĐ dưới nhiều hình thức, như
truyền thông đại chúng, truyền thông trực tiếp của đội ngũ tuyên truyền viên,
các chức sắc tôn giáo, già làng, trưởng bản, đội ngũ cán bộ chuyên trách, cộng
13
tác viên dân số, cán bộ y tế…..Các mô hình truyền thông đã được xây dựng và
từng bước tiếp cận được với các nhóm đối tượng. Các sản phẩm truyền thông đã
đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung. Giáo dục dân số được đưa vào
các cấp học phổ thông, các trường đại học, trung học chuyên nghiệp, trường dậy
nghề, trường chính trị và các trường của lực lượng vũ trang.
1.1.5 Vịêc cung cấp các dịch vụ KHHGĐ đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu của
người sử dụng.
Hệ thống cung cấp các dịch vụ KHHGĐ công cộng được củng có và phát
triển từ trung ương đến cơ sở. Các nhu cầu cơ bản về dịch vụ KHHGĐ đã được
đáp ứng; Có 100% cơ sở dịch vụ KHHGĐ cấp tỉnh và 93% cở sở y tế cấp huyện
làm được thủ thuật đình sản; 100% cơ sở dịch vụ y tế cấp huyện và 68,7% trạm
y tế xã đặt được vòng tránh thai. Hệ thống y tế tư nhân và các tổ chức phi chính
phủ được huy động và tạo điều kiện tham gia vào việc cung cấp các dịch vụ

bất cập, đặc biệt là ở tuyến quận, huyện.
1.2.3 Việc phối hợp trong xây dựng chính sách chưa được chú trọng.
Việc lồng ghép các chính sách dân số vào qúa trình lập kế hoạch và xây
dựng chính sách kinh tế-xã hội chưa được chú trọng và thực hiện có hiệu quả.
Đầu tư cho chương trình Dân số-KHHGĐ chưa đáp ứng nhu cầu kinh phí cho
mở rộng nội dung hoạt động.
1.3. Những nguyên nhân dấn đến thành công của chương trình.
* Nghị quyết Ban chấp hành TW lần thứ 4 (khoá VII) về chính sách Dân
số-KHHGĐ phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, thực sự đem lại lợi ích
kinh tế, tinh thần và sức khoẻ cho mỗi cá nhân, gia đình và xã hội, nên được
đông đảo các gia đình, xã hội và các tầng lớp nhân dân đồng tình hưởng ứng và
tích cực thực hiện. Đảng và chính quyền các cấp đã trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo,
đầu tư nguồn lực và kiện toàn bộ máy làm công tác Dân số-KHHGĐ các cấp,
nhất là đội ngũ cộng tác viên dân số cơ sở. Chính phủ đã cam kết mạnh mẽ đối
với chương trình Dân số-KHHGĐ và tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai
các chính sách và nghị quyết về Dân số-KHHGĐ xuống tận cơ sở.
* Chiến lược Dân số-KHHGĐ được triển khai trong bối cảnh đất nước
đang phát triển mạnh mẽ nhờ công cuộc đổi mới toàn diện của Đảng và Nhà
nước đang thực hiện. Sự tăng trưởng kinh tế phát triển xã hội trong những năm
qua đã tạo tiền đề cơ bản cho việc cải thiện đời sống, chăm sóc sức khoẻ và
nâng cao trình độ dân trí cho nhân dân ở hầu hết các khu vực trong cả nước, đặc
biệt là những vùng khó khăn. Đây là tiền đề khách quan cho việc thực hiện
thắng lợi các mục tiêu của chương trình Dân số-KHHGĐ.
* Mục tiêu và các giải pháp đề ra trong chiến lược Dân số-KHHGĐ đến
năm 2000 phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước. Cơ cấu quản lý
thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia về nâng cao năng lực quản lý,
thông tin – giáo dục - truyền thông và cung cấp dịch vụ kế hoạch hoá gia đình
đã tỏ ra có hiệu qủa, tạo được sự tập trung nguồn lực cho cơ sở và đảm bảo sự
phối hợp, ủng hộ của các ngành, các cấp. Công tác Dân số-KHHGĐ bước đầu
được xã hội hoá với sự tham gia của nhiều ngành, đoàn thể và đông đảo tổ chức

quả; Tổ chức điều hành chương trình còn nhiều lúng túng, chậm đổi mới việc
ban hành pháp lệnh dân số thiếu chặt chẽ.
II.Thực trạng công tác DS-KHHGĐ ở huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai.
1. Sơ đồ tổ chức UBDS,GĐ&TE huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai
2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện.
16
2.1. Điều kiện tự nhiên:
Bảo Yên là huyện miền núi thấp của tỉnh Lào Cai. Cách trung tâm tỉnh lỵ
Lào Cai 75 Km về phía đông nam. Điạ hình bị chia cắt phức tạp do có nhiều núi
cao hiểm trở và hệ thống sông suối dầy đặc.
- Phía Bắc giáp với huyện Bảo Thắng; Bắc Hà - tỉnh Lào Cai;
- Phía Nam giáp với huyện Lục Yên; Văn Yên - tỉnh Yên Bái;
- Phía Đông giáp với huyện Quang Bình - tỉnh Hà Giang;
- Phía Tây giáp với huyện Văn Bàn - tỉnh Lào Cai.
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là: 82.483 ha:
Trong đó - Đất có khả năng sản xuất nông nghiệp là: 11.950,3 ha;
- Đất có khả năng sản xuất lâm nghiệp là: 62.879 ha;
- Đất phi nông nghiệp: 4.449,2 ha;
- Sông, suối, núi đá không có rừng cây: 3.204,5 ha.
Huyện được chia thành 18 đơn vị hành chính ( 17 xã, 1 thị trấn), xã xa
trung tâm huyện nhất là 42 km . Độ cao trung bình so với mặt nước biển 300
-400m, với đặc điểm khí hậu nhiệt đới, độ ẩm cao rất thuận lợi cho cây trồng
phát triển.
Bảo Yên có hai con sông lớn chảy qua, đó là sông Hồng và sông Chảy.
Hệ thống sông suối đã tạo nên những bãi bằng nằm hai bên lưu vực, đất đai màu
mỡ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển cây lúa và cây hoa màu.
2.2. Tình hình kinh tế - xã hội.
2.2.1 Tình hình kinh tế:
Sản xuất nông, lâm nghiệp:
- Về trồng trọt: Bảo Yên với gần 90% dân số sống ở vùng nông thôn, chủ

thấp. Năm 2005 tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 7.644 triệu đồng. Tổng thu
ngân sách huyện đạt 54.854 triệu đồng. Tổng chi ngân sách huyện: 54.854 triệu
đồng (1) như vậy tổng thu ngân sách trên điạ bàn chỉ đạt 13,94% tổng chi ngân
sách huyện
- Tình hình lao động và việc làm:
Năm 2005, số lao động trong độ tuổi của huyện Bảo Yên chiếm tỷ trọng
cao 35.667 người, chiếm 47,4% tổng dân số trong toàn huyện (2). Trong đó số
lao động có việc làm ổn định là: 18.000 người. Số người có việc làm không ổn
định là 2.991 người, số người thiếu việc làm là 8.000 người. Đáng quan tâm là
tình trạng thất nghiệp theo mùa vụ ngày càng cao, đặc biệt là ở khu vực nông
thôn.
Tóm lại tình hình kinh tế huyện Bảo Yên tuy có những lợi thế nhất định,
như khí hậu, thời tiết, đất đai màu mỡ, hệ thống đường giao thông tương đối
phát triển vẫn còn gặp nhiều khó khăn, như diện tích đất canh tác bình quân đầu
người đạt thấp. Các ngành nghề chưa phát triển; Đặc biệt là ngành công nghiệp
18
Tỷ lệ thất nghiệp cao, người dân vẫn còn mang nặng thói quen tự cung tự cấp;
Một số mặt hàng sản xuất ra chưa tìm được thị trường tiêu thụ.
2.2.2 Tình hình về dân số:
Năm 2005, Bảo Yên có 15.046 hộ với 75.220(3) khẩu, mật độ dân số là
91 người/km
2
, gồm 16 dân tộc, sống đan xen trong cộng đồng dân cư. Trong đó
dân số sống ở nông thôn chiếm 87,7 %; dân tộc thiểu số chiếm 71,3%. Để thấy
rõ sự biến động dân số của huyện, ta so sánh tình hình dân số 3 năm từ 2003-
2005 ở bảng 1.
1 Phòng Tài Chính Kế Hoạch huyện;
2 Phòng Nội Vụ Lao Động- TBXH
3 Phòng Thống Kê huyện
Bảng số 1.

16,6 20,8 17,2
10 Tỷ lệ sinh con thứ 3+ %
16,7 20,1 15,8
Qua bảng số liệu trên, ta thấy dân số huyện Bảo Yên giai đoạn 2003
-2005 có những đắc điểm như sau:
- Tỷ suất sinh thô và tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên hàng năm vẫn còn ở mức
cao so với cả nước và của tỉnh; Đặc biệt là năm 2005 tỷ suất sinh thô là 20,88‰
tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 20,1% tương đương với 1.524 trẻ. Như vậy năm
2005 số trẻ sinh trong toàn huyện tương đương với dân số của xã Tân Tiến.
- Số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ( 15-49 tuổi) có chồng còn chiếm tỷ lệ
cao 23,7% so với tổng dân số và chiếm 88,03% so với số nữ 15 – 49 tuổi và vẫn
còn tiếp tục tăng cao trong những năm tới.
19
- Tỷ lệ tăng dân số trung bình hàng năm có xu hướng giảm, nhưng vẫn
còn ở mức cao. Nếu tính trung bình cho cả 3 năm thì tỷ lệ này vẫn còn 2% mỗi
năm.
- Số trẻ em dưới 14 tuổi chiếm tỷ lệ cao trên 36% so với tổng số dân, đây
sẽ là lực lượng hùng hậu bổ sung cho lứa tuổi sinh đẻ ở những năm tiếp theo.
Tóm lại qua các số liệu trên, thấy công tác DS-KHHGĐ huyện trong
những năm qua đã có nhiều cố gắng, tuy nhiên một số chỉ tiêu, như số phự nữ
15-49 tuổi có chồng, số trẻ em dưới 14 tuổi, dân số sống ở vùng nông thôn vẫn
còn rất cao, do vậy nó vẫn tiềm ẩn mức sinh cao trong những năm tới.
Bảng 1: Bao gồm số liệu: Phòng Thống Kê Huyện, Phòng Nội Vụ -LĐTB&XH huyện.
2.2.3 Công tác y tế chăm sóc sức khoẻ nhân dân:
Với khí hậu vùng nhiệt đới, nóng, độ ẩm cao rất thuận lợi cho cây trồng
phát triển; Tuy nhiên đây cũng là điều thuận lợi cho các dịch bệnh phát triển,
như bệnh sốt rét, sốt xuất huyết, viêm đường hô hấp, sốt phát ban, viên não…
làm ảnh hưởng lớn tới sức khoẻ lao động sản xuất, phát triển kinh tế của người
dân.
Để thực hiện tốt công tác chăm sóc bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân; Trong

02/18 trạm có điện thoại, 15/18 xã có điện lưới quốc gia và có 6/18 xã có nguồn
nước đảm bảo cho sinh hoạt.
- Về nhân lực:
Bảng 2: Số liệu cán bộ tại Trung Tâm Y Tế huyện BảoYên ( năm 2003-2005)
STT Nội dung Đv tính 2003 2004 2005 ghi chú
Tổng số Người 105 101 102
1 Bác Sỹ Người 11 12 09
2 Chuyên khoa I Người 01 01 02
3 Y sỹ đa khoa Người 23 24 23
4 Nữ hộ sinh TH Người 15 13 13
5 Y tá TH Người 15 14 15
6 Cán bộ khác Người 40 37 40
Qua bảng số liệu trên ta thấy biên chế cán bộ tại trung tâm y tế huyện vừa
thiếu lại vừa yếu, nếu tính tỷ lệ bác sĩ trên nghìn dân, thì năm 2005 tỷ lệ này là
1/8.357 người dân. cả huyện mới có 02 cán bộ có trình độ chuyên khoa 1, trong
đó 01 là chuyên ngoại sản, còn 01 là chuyên khoa nội. Cán bộ có trình độ trung
học chiếm tỷ lệ cao, năm 2005 là 50% trong tổng số biên chế tại trung tâm. Đặc
biệt là số cán bộ nữ hộ sinh thấp, giao động từ 13-15 người. Đây là khó khăn
lớn trong việc triển khai các hoạt động chăm sóc sức khoẻ và KHHGĐ.
Bảng 3: Số liệu cán bộ y tế xã, thị trấn ( năm 2003-2005) ( Số liệu TT Y Tế huyện)
STT Nội dung ĐV tính 2003 2004 2005 Ghi chú
I. Y Tế xã
Tổng số: Người 64 68 66
Trong đó:
1 Bác sỹ Người 1 1 3
21
2 Y sỹ đa khoa Người 12 15 14
3 Y tá TH Người 4 4 4
4 Y tá sơ học Người 18 18 13
5 Nữ hộ sinh TH Người 11 12 15

2 Bậc trung học cơ
sở
Lớp/T 220/27 259/25 274/24
3 Mầm non Lớp/T 136/7 145/7 156/12
III: Tổng số học sinh Người 20.851 20.317 20.555
1 Mầm non Người 2.533 2.058 2.943
2 Bậc tiểu học Người 11.517 10.601 9.915
22
3 Bậc THCS Người 6.801 7.658 7.697
B. Bậc trung học PT
I: Tổng số giáo viên trực
tiếp giảng dậy
Người 61 70 97
II: Tổng số lớp/trường Lớp/T 38/2 52/3 62/3
III:Tổng số học sinh Người 1.558 2.172 2.651
Công tác giáo dục trong những năm gần đây đã có bước phát triển tốt,
phấn đấu hoàn thành tốt chỉ tiêu kế hoạch đề rà. Kết quả nổi bật thể hiện trên
các mặt sau:
Bảng 4 số liệu Phòng Giáo Dục huyện.
Đối với bậc tiểu học, THCS, lớp học mầm non.
* Về phát triển hệ thống giáo dục:
Trong những năm gần dây, đặc biệt là năm 2005, huyện Bảo Yên đã làm
tốt công tác tuyên truyền vận động, tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt
98,6% bằng 100,82% (1) kế hoạch. Số trường và lớp học đều tăng so với những
năm trước, năm 2003 có 881 lớp, 48 trường; Năm 2005 tăng lên 952 lớp 63
trường (2). Toàn huyện có 820 (3) phòng học, trong đó phòng được kiên cố hoá
là 284; phòng bán kiên cố là 198, số phòng tạm bợ là 338 và hiện nay huyện đã
cơ bản xoá được tình trạng học ca 2, ca 3.
* Về nhân lực:
Để đáp ứng nhu cầu học cho số học sinh liên tục tăng trong những năm

xã, thị trấn; Xoá mù chữ đạt 18/18 xã, thị trấn. Tỷ lệ chuyển lớp, thi tốt nghiệp
cao từ 95-98% năm. Tuy nhiên bên cạnh những thành tích đạt được vẫn còn
những mặt hạn chế, đó là: Việc xây dựng cơ sở vật chất, kiên cố hoá trường lớp
học còn chậm, tỷ lệ phòng học tạm bợ còn cao, chiếm 41,2%. Số giáo viên có
trình độ cao đẳng trở xuống chiếm tỷ lệ cao, năm 2005 là 94,6%. Tỷ lệ học sinh
thi đậu vào các trường đại học, cao đẳng có tăng so với những năm trước, song
vẫn còn ở mức quá thấp(30% năm 2005).
2.5 Văn hoá thông tin- truyền thanh truyền hình:
Phòng văn hoá và trung tâm văn hoá huyện, trong những năm qua đã có
nhiều cố gắng làm tốt công tác quản lý và triển khai các hoạt động của mình,
như tổ chức đội chiếu bóng lưu động, tổ chức các buổi văn hoá văn nghệ tại
trung tâm huyện và tại các cụm xã, thị trấn tổ chức đại hội thể dục, thể thao toàn
huyện nhằm làm tốt công tác đưa thông tin về cơ sở. Làm tốt công tác bảo tồn
và khai thác phát huy bản sắc văn hoá của các dân tộc, đẩy mạnh các hoạt động,
phong trào thể dục thể thao tại các cơ quan, các xã, thị trấn, tại các cơ quan, tổ
dân cư. Phối hợp với các cơ quan, ban, ngành tổ chức phát động phong trào thi
đua “ xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở” và hàng năm tổ chức tốt việc bình xét
gia đình, làng xã đạt chuẩn văn hoá theo hướng dẫn của ban chỉ đạo huyện. Tuy
nhiên bên cạnh những kết qủa đạt được, công tác văn hoá còn có những hạn chế
sau:
24
- Đội thông tin lưu động huyện chưa thực sự cố gắng trong việc tuyên
truyền tại các cơ sở, nội dung, hình thức tuyên truyền còn nghèo nàn chưa đáp
ứng được nhu cầu của nhân dân, do vậy việc giáo dục pháp luật chưa được kịp
thời, chủ trương chính sách của đảng chưa thực sự đi vào cuộc sống của nhân
dân.
- Phong trào văn hoá, văn nghệ trong quần chúng nhân dân chưa thực sự
được chú trọng; Công tác quản lý, khai thác và bảo tồn phát huy bản sắc văn
hoá dân tộc mới được đặt ra, vẫn chưa có giải pháp cụ thể về vấn đề này.
- Việc tuyên truyền vận động nhân dân xoá bỏ các tập tục lạc hậu trong

Trích đoạn Các quan điểm và mục tiêu chiến lược dân số ở Việt Nam 1 Chiến lược DS-KHHGĐ đến năm 2000. Mục tiêu công tác DS-KHHGĐ huyện BảoYên đến năm 2010 1 Mục tiêu chung: Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng, chính quyền đối vớ Kiện toàn, củng cố bộ máy làm việc: 1 Đối với UBDS,GĐ&TE huyện. Tăng cường và đổi mới công tác thông tin giáo dục truyền thông.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status