Biện pháp quản lý đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên trung học cơ sở huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai - Pdf 30

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế kỷ 21 với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, sự phát
triển năng động của các nền kinh tế, quá trình hội nhập và toàn cầu hoá đang
làm cho việc rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các nước trở
nên hiện thực hơn và nhanh hơn. Khoa học - công nghệ trở thành động lực cơ
bản của sự phát triển kinh tế - xã hội. Giáo dục là nền tảng của sự phát triển
khoa học - công nghệ, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội
hiện đại và đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần
trách nhiệm và năng lực của các thế hệ hiện nay và mai sau.
Đổi mới giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu. Bối cảnh trên đã tạo
nên những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, từ quan niệm về chất lượng giáo
dục, xây dựng nhân cách người học đến cách tổ chức quá trình và hệ thống
giáo dục. Nhà trường từ chỗ khép kín chuyển sang mở cửa rộng rãi, đối thoại
với xã hội và gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa học - công nghệ và ứng
dụng; nhà giáo thay vì chỉ truyền đạt tri thức, chuyển sang cung cấp cho
người học phương pháp thu nhận thông tin một cách hệ thống, có tư duy phân
tích và tổng hợp. Đầu tư cho giáo dục từ chỗ được xem là phúc lợi xã hội
chuyển sang đầu tư cho phát triển.
Bối cảnh quốc tế và trong nước vừa tạo thời cơ lớn vừa đặt ra những
thách thức không nhỏ cho giáo dục nước ta. Sự đổi mới và phát triển giáo dục
đang diễn ra ở quy mô toàn cầu tạo cơ hội tốt để giáo dục Việt Nam nhanh
chóng tiếp cận với các xu thế mới, tri thức mới, những cơ sở lý luận, phương
thức tổ chức, nội dung giảng dạy hiện đại và tận dụng các kinh nghiệm quốc
tế để đổi mới và phát triển.
Nghị quyết hội nghị lần thứ 9 BCH TƯ khoá X đã khẳng định: Tập trung
nâng cao chất lượng giáo dục- đào tạo toàn diện, phát triển nguồn nhân lực
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng XHCN. Tiến
hành cải cách giáo dục theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X và Nghị quyết
1
trung ương 4 (khoá X). Tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp

lượng đội ngũ giáo viên hiện nay, để từ đó đưa ra cơ chế, chính sách phù hợp.
Với tầm quan trọng đó, tôi chọn vấn đề: “Biện pháp quản lý đánh giá chất
lượng giảng dạy của giáo viên trung học cơ sở huyện Bảo Yên, tỉnh Lào
Cai” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn công tác đánh giá chất lượng giảng dạy
của giáo viên THCS huyện Bảo yên, tỉnh Lào Cai, đề xuất một số biện pháp
quản lý của hiệu trưởng về đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên
THCS huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên THCS.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý của hiệu trưởng về đánh giá chất lượng giảng dạy của
giáo viên các trường THCS huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
4. Giả thuyết khoa học
Công tác đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên THCS huyện Bảo
Yên, tỉnh Lào Cai thời gian qua đã làm tương đối tốt, mang lại những ý nghĩa
thiết thực trong việc nâng cao chất lượng dạy học. Tuy nhiên, trong thực tế
tiến hành công tác này không tránh khỏi những tranh luận, ý kiến chưa thống
nhất. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới thực trạng này, song một nguyên nhân
rất quan trọng đó là biện pháp quản lý của hiệu trưởng về đánh giá chất lượng
giảng dạy của giáo viên THCS còn có những hạn chế nhất định. Nếu đề xuất
được các biện pháp quản lý của hiệu trưởng về đánh giá chất lượng giảng dạy
của giáo viên THCS một cách khoa học, khách quan, công bằng và dân chủ
thì sẽ tác động tích cực đến chất lượng giảng dạy của giáo viên và chất lượng
dạy học của nhà trường.
3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu một số vấn đề lý luận có liên quan đến đánh giá chất

Xây dựng các phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp các đối tượng: Ban
giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn và giáo viên bộ môn.
7.2.2. Phương pháp quan sát
Quan sát thực tế về đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên ở các
trường THCS trên địa bàn huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai.
7.2.3. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Thông qua các cuộc trao đổi, toạ đàm, tổ chức chuyên đề, hội thảo, thảo
luận với các cán bộ QLGD từ Phòng GD&ĐT đến các cán bộ quản lý là
BGH, tổ trưởng tổ chuyên môn và giáo viên ở các nhà trường, để tìm ra các
phương pháp đánh giá phù hợp với đội ngũ giáo viên trong địa bàn huyện và
trong tình hình hiện nay.
7.2.4. Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến đánh giá của các chuyên gia có kinh nghiệm về lĩnh vực này
gồm: Các thầy cô giáo khoa QLGD, trường Cao Đẳng sư phạm Lào Cai, các
phòng thanh tra chuyên môn từ sở GD&ĐT đến phòng GD& ĐT.
8. Nhóm phương pháp xử lý số liệu
Dùng phương pháp thống kê toán học để phân tích, tổng hợp các số liệu
mà đề tài đã nghiên cứu.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác đánh giá chất lượng giảng dạy của
giáo viên THCS
Chương 2: Thực trạng công tác đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo
viên THCS huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai
Chương 3: Một số biện pháp quản lý công tác đánh giá chất lượng giảng
dạy của giáo viên THCS ở huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai
5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ
CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY CỦA GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề

người nghiên cứu trong đó những nhà giáo dục học, tâm lý học đã đi sâu
nghiên cứu vấn đề đổi mới nội dung dạy học theo phương pháp nâng cao tính
hiện đại và gắn khoa học với thực tiến sản xuất và đời sống, vấn đề lấy học
sinh làm trung tâm trong hoạt động dạy học (Trần Hồng Quân, Phạm Minh
Hạc, Phan trọng luận, Đỗ Đình Hoan, Phạm Viết Vượng, Đặng Thành
Hưn,...).
Ở một số nước, người ta chỉ giao việc kiểm tra - đánh giá chất lượng
giảng dạy cho đội ngũ có năng lực. Thí dụ ở Hoa kỳ, đó là hiện tượng “đấu
thầu”, uỷ thác đánh giá hay làm dịch vụ kiểm tra Test về giáo dục.
Như vậy, vấn đề nâng cao chất lượng dạy học từ lâu đã được các nhà
nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm trong những năm cuối thế kỷ XX
khi mà xã hội sắp bước vào giai đoạn phát triển mới thì hơn bao giờ hết, vấn
đề này được quan tâm nhiều hơn nó đã trở thành mối quan tâm của toàn xã
hội, đặc biệt là các nhà nghiên cứu giáo dục, ý kiến của các nhà nghiên cứu có
thể khác nhau nhưng điểm chung mà ta thấy trong các công trình nghiên cứu
của họ là: Khẳng định vai trò quan trọng của công tác quản lý trong việc nâng
cao chất lượng dạy và học ở các cấp học, bậc học. Đây cũng chính là một
trong những tư tưởng mang tính chiến lược và phát triển giáo dục của đảng ta:
“Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương pháp và quản lý giáo dục đào tạo”.
Huyện Bảo Yên trong nhiều năm gần đây đã quan tâm nhiều đến chất
lượng giảng dạy của giáo viên. Ngành GD&ĐT đã tổ chức bồi dưỡng thường
xuyên về chuyên môn nghiệp vụ nhằm nâng cao trình độ, năng lực sư phạm
cho giáo viên. Tuy nhiên để nâng cao chất lượng dạy học tốt cho giáo viên thì
công tác quản lý của hiệu trưởng có vai trò hết sức quan trọng.
7
Quản lý đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên là một trong những
hoạt động trung tâm của người hiệu trưởng, đồng thời cũng là quản lý cơ bản,
quan trọng nhất trong công tác quản lý trường học. Chính vì lẽ đó, vấn đề
quản lý đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên luôn được các nhà
nghiên cứu, các nhà quản lý giáo dục đề cập trong các công trình nghiên cứu

mỗi định nghĩa đều nhấn mạnh hơn vào khía cạnh nào đó của lĩnh vực cần
đánh giá [21;7].
Có những định nghĩa phán ánh việc đánh giá ở cấp độ chung nhất và
nhấn mạnh vào khía cạnh giá trị, coi đánh giá là sự thu thập và lý giải một
cách có hệ thống những bằng chứng dẫn tới sự phán xét về mặt giá trị, như
định nghĩa của C.E. Beeby (1997): “Đánh giá là sự thu thập và lý giải một
cách có hệ thống những bằng chứng dẫn tới sự phán xét về giá trị theo quan
điểm hành động” [21;8].
Một số định nghĩa lại nhấn mạnh đến khía cạnh cần phải đi đến quyết
định nào đó, có thể quyết định về người học, về người dạy, về chương trình,
v.v,..như định nghĩa của Marger: Đánh giá là việc miêu tả tình hình của học
sinh và giáo viên để quyết định công việc cần phải tiếp tục và giúp học sinh
tiến bộ.
Nhiều định nghĩa về đánh giá nhấn mạnh đến sự phù hợp giữa mục tiêu
và việc thực hiện, đây là định nghĩa được quan tâm nhiều nhất. Theo R. Tiler:
“Quá trình đánh giá chủ yếu là quá trình xác định mức độ thực hiện các mục
tiêu của chương trình giáo dục” [21;8].
Trong giáo dục, một quá trình đánh giá được thực thi là nhằm chủ yếu đo
xem những mục tiêu giáo dục đã đạt được đến đâu, là quá trình thu thập và lý
giải kịp thời, có hệ thống những thông tin. Đánh giá thể hiện ở sự xem xét
mức độ thích đáng giữa toàn bộ các thông tin với toàn bộ các tiêu chuẩn
tương ứng với mục tiêu xác định, nhằm đưa ra một quyết định.
Có thể đưa ra khái niệm chung về đánh giá trong giáo dục là quá trình
tiến hành có hệ thống để xác định mức độ mà đối tượng đạt được các mục tiêu
9
giáo dục nhất định [21;9]. Nó bao gồm sự mô tả về định tính hay định lượng
những kết quả đạt được và so sánh với mục tiêu giáo dục đã xác định. Sự
đánh giá cho phép xác định mục tiêu giáo dục đặt ra có phù hợp hay không
phù hợp, nó xác định mức độ đạt được mục tiêu giáo dục cũng như tiến trình
thực hiện mục tiêu như thế nào.

của phương pháp đánh giá; nguyên tắc bảo đảm sự thống nhất giữa đánh giá
và tự đánh giá.
1.2.1.4. Các mức độ đánh giá
Đánh giá toàn diện, từng mặt, từng quá trình, từng bước, từng khâu, từng
công đoạn; đánh giá thường xuyên và đánh giá định kỳ.
Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết
quả công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối với những
mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải
thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc.
Như vậy đánh giá không đơn thuần là sự ghi nhận thực trạng mà còn là
đề xuất, những quyết định làm thay đổi thực trạng. Vì thế, đánh giá được xem
như là một khâu rất quan trọng, đan xen với các khâu lập kế hoạch và triển
khai công việc, thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa đánh giá với lập kế hoạch và triển khai thực
hiện
11
Kế
hoạch
Triển
khai
Đánh
giá
Các định nghĩa chung về đánh giá đã nói trên cũng được áp dụng vào
trong QLGD, vào việc đánh giá ở nhiều cấp độ khác nhau, trên những đối
tượng khác nhau, với những mục đích khác nhau: Đánh giá hệ thống giáo dục
của một quốc gia; đánh giá một đơn vị giáo dục; đánh giá giáo viên và đánh
giá học sinh,...
Học sinh là đối tượng, là sản phẩm giáo dục đồng thời là chủ thể của quá
trình giáo dục, do đó việc đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên giữ
một vị trí đặc biệt quan trọng trong đánh giá giáo dục.

cho nó khả năng thoả mãn nhu cầu đã được nêu rõ hoặc tiềm ẩn (ISO 8402-
1986).
* Chất lượng giáo dục
Trong lĩnh vực giáo dục, chất lượng với đặc trưng sản phẩm là “con
người lao động” có thể hiểu là kết quả (đầu ra) của quá trình giáo dục và được
thể hiện cụ thể ở các phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay
năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu của từng
ngành đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân. Với nhu cầu đáp ứng nhu
cầu nhân lực của thị trường lao động, quan điểm về chất lượng đào tạo không
chỉ dừng ở kết quả của quá trình đào tạo trong nhà trường với những điều
kiện đảm bảo nhất định như cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên v.v..., mà còn
phải tính đến mức độ phù hợp và thích ứng của người tốt nghiệp với thị
trường lao động như tỉ lệ có việc làm sau tốt nghiệp, năng lực hành nghề tại
các vị trí làm việc cụ thể ở các doanh nghiệp, cơ quan, các tổ chức sản xuất -
dịch vụ, khả năng phát triển nghề nghiệp [14;258].
Vấn đề chất lượng giáo dục được các cơ quan, các tổ chức chính trị xã
hội và dư luận xã hội hết sức quan tâm. Làm thế nào để đưa nền giáo dục
nước ta hội nhập một cách hiệu quả và thiết thực, trong việc tạo ra nguồn
nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu xã hội và xu thế thời đại. Quá trình
đảm bảo chất lượng giáo dục được thể hiện ở sơ đồ sau:
13
Sơ đồ 1.2. Quá trình đảm bảo chất lượng giáo dục

Vì còn có nhiều ý kiến khác nhau trong diễn giải, bàn luận khái niệm
chất lượng giáo dục nên cần trao đổi để đi đến thống nhất:
- Chất lượng giáo dục theo nghĩa rộng là khả năng thực thi tối đa mục
tiêu giáo dục của cả hệ thống giáo dục, của một kiểu loại nhà trường nhất
định.
- Chất lượng giáo dục là phẩm chất năng lực của thế hệ trẻ (người học)
do giáo dục tạo ra, đáp ứng nhu cầu của xã hội và xu thế thời đại.

các yếu tố đặc trưng cho mối quan hệ này. Có thể phát hiện ra các yếu tố đó
hoặc là bằng những quan sát trực tiếp, hoặc là thông qua các tư liệu, công cụ,
dấu vết còn lại...
Tuy nhiên nếu quan tâm đến học sinh, thầy giáo và tri thức một cách
tách biệt nhau sẽ dẫn đến coi nhẹ các mối quan hệ ba trục tác nhân đó; và
chính nhờ có các mối quan hệ qua lại này mà có thể xem xét chúng một cách
khách quan nhất và tác động đến hứng thú của học sinh. Để làm rõ các mối
quan hệ trên, chúng tôi sử dụng một sơ đồ quen thuộc, đó là tam giác dạy học.
Với sơ đồ này chúng ta có thể nắm bắt được những khía cạnh đa dạng khi
quan sát một lớp học.
Sơ đồ 1.3. Mối quan hệ giữa thày giáo với tri thức
Dưới góc độ của giáo dục học, “Hoạt động dạy học là hoạt động đặc
trưng cho bất cứ loại hình nhà trường nào và dạy học chính là con đường giáo
dục tiêu biểu nhất, hiệu quả nhất. Với nội dung và tính chất của nó, dạy học
luôn được xem là con đường hợp lý, thuận lợi nhất, giúp cho học sinh với tư
cách là chủ thể nhận thức có thể lĩnh hội được một hệ thống tri thức và kỹ
năng hành động, chuyển thành phẩm chất, năng lực trí tuệ của bản thân”
[36;112]; “Cá nhân người học vừa là chủ thể vừa là mục đích cuối cùng của
quá trình đó” [36;113].
15
TRI THỨC
SƯ PHẠM
THÀY GIÁO
QUAN SÁT
HỌC TẬP
HỌC SINH
GIẢNG DẠY
Dựa vào từ điển tiếng việt, có thể xác định “dạy học là hoạt động nâng
cao trình độ văn hoá và phẩm chất đạo đức theo những chương trình và mục
tiêu đào tạo xác định” [29;236].

Chất lượng giảng dạy là sự tiến bộ của học sinh về kiến thức, kỹ năng,
thái độ...
Chất lượng giảng dạy là sự vận dụng sáng tạo kiến thức lý thuyết vào
thực tiễn cuộc sống của thế hệ trẻ.
Một số quan điểm khác cho rằng có thể dựa trên chất lượng giảng dạy
(các chỉ số đánh giá giảng dạy) để đánh giá chất lượng giáo dục của nhà
trường. Trong thực tế, kết quả giảng dạy của giáo viên phụ thuộc rất nhiều
vào các yếu tố: Sự tích cực, chủ động của học sinh; cơ sở vật chất, thiết bị dạy
học; truyền thống, tình cảm của gia đình, bạn bè, người thân; môi trường xã
hội; bẩm sinh di truyền,...
Bởi cùng một thầy dạy, cùng bộ sách giáo khoa và sách tham khảo như
nhau, nhưng kết quả học tập ở từng học sinh là rất khác nhau. Hay cũng là
một học sinh học tập, nhưng ở mỗi thầy dạy khác nhau thì kết quả học tập của
học sinh cũng khác nhau.
1.2.2.2. Đánh giá chất lượng giảng dạy
* Đánh giá chất lượng giáo dục
Có rất nhiều định nghĩa về đánh giá trong lĩnh vực giáo dục, tuy nhiên
tùy thuộc vào mục đích đánh giá, cấp độ đánh giá và đối tượng đánh giá mà
mỗi định nghĩa đều nhấn mạnh hơn vào khía cạnh nào đó của lĩnh vực cần
đánh giá. Một số định nghĩa nhấn mạnh đến khía cạnh cần phải đi đến quyết
định nào đó chẳng hạn: “Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định,
những phán đoán về thực trạng dựa vào sự phân tích những thông tin thu
được đối chiếu với những tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đi đến quyết định thích
hợp” [22;20].
Nhiều định nghĩa về đánh giá nhấn mạnh đến sự phù hợp giữa mục tiêu
và việc thực hiện, đây là định nghĩa được quan tâm nhiều nhất. Theo R. Tiler:
17
“Quá trình đánh giá chủ yếu là quá trình xác định mức độ thực hiện các mục
tiêu của chương trình giáo dục”. Có thể đưa ra khái niệm chung về đánh giá
trong giáo dục là quá trình tiến hành có hệ thống để xác định mức độ mà đối

đếm theo đơn vị nhất định hơn là so sánh giữa hai đối tượng. Đánh giá trong
quản lý chất lượng có thể mang nhiều hình thức và phối hợp giữa các chỉ số
thực hiện, tự đánh giá và đánh giá đồng nghiệp. Đánh giá cũng có thể được
chính cơ sở giáo dục tiến hành, cũng có thể do các cơ quan bên ngoài tiến
hành. Kết quả đánh giá có thể được công khai. Có nhiều cuộc đánh giá chỉ
dừng lại so sánh kết quả đạt được với sứ mệnh, mục tiêu và các chuẩn mực
được cơ sở giáo dục đặt ra.
Tóm lại: Đánh giá chất lượng giá dục là quá trình thu thập và xử lý
thông tin nhằm mục đích tạo cơ sở cho những quyết định về mục tiêu, chương
trình, phương pháp dạy học, về những hoạt động khác có liên quan của nhà
trường và ngành giáo dục.
Đánh giá giáo dục có những chức năng sau:
- Xác nhận để cấp bằng hoặc chứng chỉ.
- Là cơ sở để tiên đoán, dự đoán kết quả mới trong tương lai (là cơ sở
căn cứ để nâng cao chất lượng).
- Nó là biện pháp thúc đẩy thầy, trò ý thức tự giác sáng tạo trong dạy và
học để đảm bảo kết quả công tác của mình.
- Đánh giá dựa vào kiểm tra, kiểm soát, thanh tra (quan trọng nhất là
kiểm tra và thi).
Các hình thức đánh giá chất lượng đào tạo ở trường THCS:
- Đánh giá đầu ra (xét lên lớp, xét tốt nghiệp)
- Đánh giá quá trình đào tạo của nhà trường, của giáo viên (tự đánh giá).
- Đánh giá cơ sở đào tạo (trường học) hiện tại là đánh giá của tổ chức
thanh tra giáo dục cấp trên.
- Đánh giá của xã hội, chủ yếu dựa vào dư luận xã hội, dư luận dựa trên
những đánh giá bên trong ngành giáo dục và ý kiến của học sinh.
19
- Đánh giá là công việc phức tạp, trải qua nhiều bước, liên quan đến
nhiều người và bộ phận, đòi hỏi cơ quan quản lý tinh thần trách nhiệm, cách
làm khoa học, biết hạn chế sức ép và tiêu cực.

Có nhiều lí do để thu thập thông tin đánh giá về công tác giảng dạy của
giáo viên. Giáo viên muốn được biết việc giảng dạy của mình có hiệu quả hay
không. Cán bộ quản lí muốn biết các môn học có thu hút được nhiều học sinh
không. Hiệu trưởng muốn có những minh chứng cụ thể trong việc đánh giá
cán bộ của mình. Các dữ liệu từ đánh giá giáo dục sẽ giúp cho giáo viên điều
chỉnh và cải tiến nội dung và phương pháp giảng dạy hay nói cách khác là “tự
điều chỉnh hoạt động giảng dạy”, tạo nên một môi trường học tập tốt hơn cho
học sinh. Các dữ liệu này cũng là cơ sở cho các cấp quản lí tham khảo trong
việc đề bạt, tăng lương.
Về nội dung đánh giá, cần tập trung vào các vấn đề cơ bản như: Nội
dung kiến thức và phương pháp giảng dạy của giáo viên; giáo án, sổ bồi
dưỡng chuyên môn, tài liệu, trang thiết bị phục vụ giảng dạy và thời gian lên
lớp của giáo viên; trách nhiệm và sự nhiệt tình giảng dạy của giáo viên đối
với học sinh; khuyến khích sáng tạo, tôn trọng tư duy độc lập của học sinh
trong học tập; chất lượng ra đề kiểm tra đánh giá học sinh và sự công bằng
trong kiểm tra, đánh giá của giáo viên; tư vấn, hướng dẫn việc tự học cho học
sinh; chất lượng học tập cuối học kỳ, cuối năm học của học sinh.
1.2.3. Quản lý đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên THCS
1.2.3.1. Khái niệm quản lý
Trong quá trình lao động, cải tạo thiên nhiên con người đã biết kết hợp
lại với nhau thành từng nhóm người để sinh tồn và phát triển. Vì thế phải có
người đứng đầu (thủ lĩnh) đứng ra phối hợp hoạt động của các cá nhân, điều
hành, phân công lao động cho từng thành viên. Quản lý là một dạng lao động
xã hội, gắn liền và phát triển cùng với sự phát triển của con người. Quản lý là
lao động đặc biệt, điều khiển các hoạt động lao động, nó có tính khoa học và
nghệ thuật cao nhưng đồng thời cũng là sản phẩm mang tính lịch sử, tính đặc
thù. Khi đề cập cơ sở khoa học của quản lý C.Mác viết: “Bất cứ lao động nào
có tính xã hội, cộng đồng được thực hiện ở quy mô nhất định đều cần ở một
21
chừng mực nhất định. Sự quản lý giống như người chơi vĩ cầm một mình thì

tượng quản lý nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả các tiềm năng và các cơ
hội của đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu quản lý trong một môi trường
biến động.
1.2.3.2. Chức năng quản lý
Quản lý là một dạng lao động đặc biệt điều khiển các hoạt động lao
động. Lao động quản lý có các chức năng cơ bản được quy định một cách
khách quan bởi chức năng hoạt động của các khách thể quản lý.
Quản lý có bốn chức năng cơ bản, bốn chức năng này có mối quan hệ
mật thiết với nhau tạo thành một chu trình quản lý như sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.4. Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý
- Chức năng kế hoạch: Là chức năng hạt nhân quan trọng nhất của quá
trình quản lý. Kế hoạch được hiểu là tập hợp những mục tiêu cơ bản được sắp
xếp theo một trình tự nhất định, lô gíc với một chương trình hành động cụ thể
để đạt được những mục tiêu đã được hoạch định.
- Chức năng tổ chức: Là sắp xếp, bố trí một cách khoa học và phù hợp
với những nguồn lực của hệ thống toàn vẹn nhằm đảm bảo cho chúng tương
ứng với nhau để đạt được mục tiêu của hệ thống một cách tối ưu nhất, hiệu
quả nhất.
- Chức năng chỉ đạo: Chức năng này có tính chất tác nghiệp, điều
chỉnh, điều hành hoạt động của hệ thống nhằm thực hiện đúng kế hoạch đã
định để mục tiêu trong dự kiến thành hiện thực.
Kế hoạch hoá
Quản lý
Kiểm tra
Tổ chức Chỉ đạo
23
- Chức năng kiểm tra đánh giá: Thu thập những thông tin ngược từ đối
tượng quản lý trong quá trình vận hành của hệ thống để đánh giá xem trạng
thái của hệ thống đã đến đâu, xem mục tiêu dự kiến ban đầu đạt đến mức độ
nào. Trong quá trình kiểm tra, kịp thời phát hiện những sai sót để kịp thời sửa

sinh [11; 45].
- Theo Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có
mục đích, có kế hoạch hợp với quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ
thống giáo dục vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực
hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ
là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đạt mục tiêu
dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất [26; 16].
- Theo Đặng Quốc Bảo: “QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều
hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo
thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [2; 63].
Từ các ý kiến của các nhà khoa học trên đây có thể quan niệm quản lý
giáo dục là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý đến đối
tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục ở từng cơ sở và của toàn bộ hệ
thống giáo dục đạt tới mục tiêu giáo dục đã định.
* Đặc điểm của quản lý giáo dục:
Thứ nhất: Quản lý bao giờ cũng chia thành chủ thể quản lý và đối tượng
bị quản lý.
Thứ hai: Quản lý bao giờ cũng liên quan đến việc trao đổi thông tin và
đều có mối liên hệ ngược.
Thứ ba: Quản lý bao giờ cũng có khả năng thích nghi (luôn biến đổi).
Thứ tư: Quản lý vừa là khoa học vừa là một nghệ thuật.
Thứ năm: Quản lý gắn liền với quyền lực, lợi ích và danh tiếng. Người
lãnh đạo có ưu thế quan trọng trong việc tổ chức, họ có khả năng điều khiển
người khác và chi phối các nguồn lực và tài sản của tổ chức. Người lãnh đạo
còn là người có điều kiện thuận lợi nhất để thực hiện các mong muốn của
25

Trích đoạn Số năm làm quản lý:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status