Thực trạng công tác Dân số-KHHGĐ huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai
I.Tình hình thực hiện chiến lược DS-KHHGĐ ở Việt Nam.(*)
1. Tình hình thực hiện chiến lược DS-KHHGĐ đến năm 2000
1.1 Kết quả đạt được
Chiến lược DS-KHHGĐ đến năm 2000, được Thủ tướng chính phủ phê
duyệt ngày 03 tháng 6 năm 1993, đã được triển khai có hiệu qủa. Đảng và Nhà
nước cũng như cộng đồng quốc tế đánh giá cao những thành tựu mà chương
trình Dân số Việt Nam đã đạt được trong những năm qua. Uỷ ban quốc gia Dân
số-KHHGĐ được Chủ tịch Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tặng
huân chương lao động hạng nhất. Tổ chức Liên Hiệp Quốc trao giải thưởng dân
số 1999 cho Việt Nam. Thành tích nổi bật nhất sau 7 năm thực hiện chiến lược
là:
1.1.1. Kết quả giảm sinh đã đạt được sớm hơn so với mục tiêu đề ra:
Mục tiêu chiến lược Dân số-KHHGĐ đến năm 2000 là “ giảm cho được
tổng tỷ suất sinh xuống 2,9 con hoặc thấp hơn, quy mô dân số dưới mức 82
triệu người vào giữa năm 2000 để đạt mức sinh thay thế chậm nhất vào năm
2015”. Thực tế cho thấy trong giai đoạn từ 1989 đến 1992, tỷ lệ không giảm,
nhưng từ khi thực hiện chiến lược Dân số - KHHGĐ đến năm 2000, tức là từ
năm 1993 đến nay, tổng tỷ suất sinh đã giảm khá nhanh, từ 3,8 con năm 1989
xuống còn 2,67 con trong thời kỳ 1992-1996 và còn khoảng 2,3 con vào năm
1999. Quy mô Dân số ở mức khoảng 78 triệu người vào năm 2000. Kết quả
* Tham khảo và trích dẫn chiến lược dân số VN 2001-2010.
này đã tạo điều kiện để đạt mức sinh thay thế vào năm 2015, sớm hơn 10 năm
so với mục tiêu mà nghị quyết hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành TW Đảng
khoá VII đề ra. Tốc độ gia tăng dân số quá nhanh về cơ bản đã được khống chế,
nhờ đó mà áp lực của quy mô dân số đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đã bắt
đầu được giảm nhẹ. Do giảm tốc độ gia tăng dân số, chúng ta đã tiết kiệm được
một khối lượng các nguồn lực mà lẽ ra phải chi cho ăn, mặc, ở, đi lại, giáo dục,
chữa bệnh và việc làm.
1.1.2 Nhận thức hành động của toàn xã hội về DS-KHHGĐ được nâng lên rỡ
rệt.
các chức sắc tôn giáo, già làng, trưởng bản, đội ngũ cán bộ chuyên trách, cộng
tác viên dân số, cán bộ y tế…..Các mô hình truyền thông đã được xây dựng và
từng bước tiếp cận được với các nhóm đối tượng. Các sản phẩm truyền thông đã
đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung. Giáo dục dân số được đưa vào
các cấp học phổ thông, các trường đại học, trung học chuyên nghiệp, trường dậy
nghề, trường chính trị và các trường của lực lượng vũ trang.
1.1.5 Vịêc cung cấp các dịch vụ KHHGĐ đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu của
người sử dụng.
Hệ thống cung cấp các dịch vụ KHHGĐ công cộng được củng có và phát
triển từ trung ương đến cơ sở. Các nhu cầu cơ bản về dịch vụ KHHGĐ đã được
đáp ứng; Có 100% cơ sở dịch vụ KHHGĐ cấp tỉnh và 93% cở sở y tế cấp huyện
làm được thủ thuật đình sản; 100% cơ sở dịch vụ y tế cấp huyện và 68,7% trạm
y tế xã đặt được vòng tránh thai. Hệ thống y tế tư nhân và các tổ chức phi chính
phủ được huy động và tạo điều kiện tham gia vào việc cung cấp các dịch vụ
KHHGĐ. Các mô hình cung cấp dịch vụ tránh thai lâm sàng dựa vào cộng
đồng tiếp thị xã hôị, đội dịch vụ lưu động …. được triển khai với mục đích đưa
dịch vụ KHHGĐ đến tận người sử dụng.
1.1.6 Một số chính sách đã được ban hành và được thực hiện có hiệu qủa:
Chính sách khuyến khích lợi ích trực tiếp cho những người tự nguyện
chấp nhận KHHGĐ và người cung cấp dịch vụ KHHGĐ đã thúc đẩy sự tham
gia của cán bộ và nhân dân vào chương trình kế hoạch hoá gia đình. Nhiều
chính sách kinh tế-xã hội được ban hành phục vụ sự nghiệp đổi mới đã tạo môi
trường thuận lợi và tác động mạnh mẽ tới việc thực hiện mục tiêu Dân số-
KHHGĐ.
1.2. Hạn chế tồn tại:
1.2.1 Chương trình Dân số-KHHGĐ còn có sự mất cân đối:
Do quá bức súc về sự gia tăng dân số quá nhanh ảnh hưởng tới sự phát
triển kinh tế-xã hội và cải thiện đời sống của nhân dân, chương trình Dân số-
KHHGĐ trong thời gian này mới chỉ tập chung vào giảm mức sinh thông qua
KHHGĐ nhằm hạn chế tốc độ gia tăng quy mô dân số, chưa chú trọng đến
đang phát triển mạnh mẽ nhờ công cuộc đổi mới toàn diện của Đảng và Nhà
nước đang thực hiện. Sự tăng trưởng kinh tế phát triển xã hội trong những năm
qua đã tạo tiền đề cơ bản cho việc cải thiện đời sống, chăm sóc sức khoẻ và
nâng cao trình độ dân trí cho nhân dân ở hầu hết các khu vực trong cả nước, đặc
biệt là những vùng khó khăn. Đây là tiền đề khách quan cho việc thực hiện
thắng lợi các mục tiêu của chương trình Dân số-KHHGĐ.
* Mục tiêu và các giải pháp đề ra trong chiến lược Dân số-KHHGĐ đến
năm 2000 phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước. Cơ cấu quản lý
thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia về nâng cao năng lực quản lý,
thông tin – giáo dục - truyền thông và cung cấp dịch vụ kế hoạch hoá gia đình
đã tỏ ra có hiệu qủa, tạo được sự tập trung nguồn lực cho cơ sở và đảm bảo sự
phối hợp, ủng hộ của các ngành, các cấp. Công tác Dân số-KHHGĐ bước đầu
được xã hội hoá với sự tham gia của nhiều ngành, đoàn thể và đông đảo tổ chức
xã hội và các tổ chức phi chính phủ.
1.4. Những nguyên nhân chính làm hạn chế kết quả chương trình.
* Phong tục tập quán và những yếu tố tâm lý về quy mô gia đình lớn và
giới tính của con cái còn nặng nề. Tư tưởng (phải có con trai) vẫn còn tồn tại ở
nhiều người và nhiều vùng, đặc biệt là ở vùng sâu vùng xa, vùng nghèo.
* Chưa có cơ chế chính sách toàn diện về dân số và phát triển. Việc
chuyển hướng mở rộng nội dung của chương trình và việc xây dựng hệ thống
chính sách thích hợp chưa được tiến hành kịp thời, chưa có chính sách và các
giải pháp phù hợp để để giải quyết hài hoà các nội dung về quy mô dân số, chất
lượng dân số và phân bổ dân cư. Một số chính sách kinh tế xã hội còn chưa
đồng bộ và tạo sự đồng thuận với chính sách dân số.
* Đầu tư nguồn lực chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Cơ chế quản lý
nguồn lực còn một số nội dung chưa phù hợp.
2. Tình hình thực hiện chiến lược Dân số Việt Nam 2001-2010(giai đoạn
2001-2005).
2.1.Tình hình thực hiện
Từ sau năm 2000 đến nay, kết qủa thực hiện chính sách DS-KHHGĐ
- Đất phi nông nghiệp: 4.449,2 ha;
- Sông, suối, núi đá không có rừng cây: 3.204,5 ha.
Huyện được chia thành 18 đơn vị hành chính ( 17 xã, 1 thị trấn), xã xa
trung tâm huyện nhất là 42 km . Độ cao trung bình so với mặt nước biển 300
-400m, với đặc điểm khí hậu nhiệt đới, độ ẩm cao rất thuận lợi cho cây trồng
phát triển.
Bảo Yên có hai con sông lớn chảy qua, đó là sông Hồng và sông Chảy.
Hệ thống sông suối đã tạo nên những bãi bằng nằm hai bên lưu vực, đất đai màu
mỡ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển cây lúa và cây hoa màu.
2.2. Tình hình kinh tế - xã hội.
2.2.1 Tình hình kinh tế:
Sản xuất nông, lâm nghiệp:
- Về trồng trọt: Bảo Yên với gần 90% dân số sống ở vùng nông thôn, chủ
yếu là sản xuất nông nghiệp. Trong khi đó đất có khả năng đưa vào sản xuất
nông nghiệp thấp có khoảng 11.950,3 ha, chiếm 14,5% diện tích đất tự nhiên.
Nếu tính bình quân đầu người chỉ đạt 0,16 ha/ người. Việc áp dụng các tiến bộ
khoa học -kỹ thuật vào thâm canh còn chậm. Hệ thống thủy lợi trong những
năm qua đã được đầu tư xây dựng tương đối tốt cơ bản chủ động được tưới tiêu
cho đồng ruộng. Tuy nhiên việc quản lý khai thác chưa được chú trọng, dẫn đến
nhiều công trình đã xuống cấp và hư hỏng nặng. Ngoài ra, thời tiết, dịch bệnh
cũng gây ảnh hưởng lớn tới năng suất cây trồng. Năm 2005 năng suất lúa trung
bình chỉ đạt khoảng 48 tạ/ ha. Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 29.058 tấn
(1); Tính bình quân đầu người đạt xấp xỉ 400 kg/người/năm.
- Về chăn nuôi: Với điều kiện khí hậu tự nhiên và diện tích rừng, ao, hồ,
sông, suối khá lớn, chăn nuôi cũng được coi là một thế mạnh của huyện Bảo
Yên. Chăn nuôi gia xúc, gia cầm và thuỷ sản được nhân dân coi trọng và phát
triển, các loại giống có chất lượng, có giá trị kinh tế được đưa vào nuôi trồng và
bước đầu mang lại hiệu quả, đặc biệt là chăn nuôi đại gia xúc. Hàng năm tổng
đàn tăng từ 5-8 %, đến năm 2005, tổng đàn trâu, bò, đạt trên 22.000 con (2) và
xuất bán hàng nghìn con ra các tỉnh bạn.
Năm 2005, Bảo Yên có 15.046 hộ với 75.220(3) khẩu, mật độ dân số là
91 người/km
2
, gồm 16 dân tộc, sống đan xen trong cộng đồng dân cư. Trong đó
dân số sống ở nông thôn chiếm 87,7 %; dân tộc thiểu số chiếm 71,3%. Để thấy
rõ sự biến động dân số của huyện, ta so sánh tình hình dân số 3 năm từ 2003-
2005 ở bảng 1.
1 Phòng Tài Chính Kế Hoạch huyện;
2 Phòng Nội Vụ Lao Động- TBXH
3 Phòng Thống Kê huyện
Bảng số 1.
S
T
T
Nội dung chỉ tiêu Đơn vị
tính
2003 2004 2005 Ghi
chú
1 Dân số (31/12) Người
72.137 73.818 75.520
2004-
2005
quy
hoạch
thêm 2
thị tứ
(5)
2 Tổng số nữ Người
36.934 37.868 38.354
3 Nữ từ 15 -49 Người
những năm qua đã có nhiều cố gắng, tuy nhiên một số chỉ tiêu, như số phự nữ
15-49 tuổi có chồng, số trẻ em dưới 14 tuổi, dân số sống ở vùng nông thôn vẫn
còn rất cao, do vậy nó vẫn tiềm ẩn mức sinh cao trong những năm tới.
Bảng 1: Bao gồm số liệu: Phòng Thống Kê Huyện, Phòng Nội Vụ -LĐTB&XH huyện.
2.2.3 Công tác y tế chăm sóc sức khoẻ nhân dân:
Với khí hậu vùng nhiệt đới, nóng, độ ẩm cao rất thuận lợi cho cây trồng
phát triển; Tuy nhiên đây cũng là điều thuận lợi cho các dịch bệnh phát triển,
như bệnh sốt rét, sốt xuất huyết, viêm đường hô hấp, sốt phát ban, viên não…
làm ảnh hưởng lớn tới sức khoẻ lao động sản xuất, phát triển kinh tế của người
dân.
Để thực hiện tốt công tác chăm sóc bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân; Trong
những năm qua, ngành y tế đã có bước phát triển mới, thể hiện trên các mặt cụ
thể sau:
- Xây dựng mạng lưới y tế: Hiện nay trên địa bàn huyện có 1 bệnh viện
đa khoa huyện, 4 phòng khám đa khoa khu vực, 18 trạm y tế cơ sở. Bệnh viện
đa khoa huyện được xây dựng và đưa vào sử dụng năm 2002, tổng diện tích xây
dựng 2.000 m
2,
với quy mô 100 giường bệnh, được bố trí thành 10 khoa, phòng
chức năng. Bốn phòng khám đa khoa khu vực, quy mô 10 giường bệnh/phòng
khám trong đó có 02 phòng khám mới hình thành năm 2005. Các phòng khám
chưa được xây dựng hiện đang làm việc chung với trạm y tế, còn lại 18 trạm y
tế đã được xây dựng từ nhiều năm, bằng những nguồn vốn khác nhau, nay đã
xuống cấp và hư hỏng.
-Về trang thiết bị phục vụ cho khám và chữa bệnh:
Tại bệnh viện đa khoa huyện: Các phương tiện làm việc, phương tiện
phục vụ cho cấp cứu, phục vụ cho chuẩn đoán và điều trị được trang bị tương
đối đầy đủ và đồng bộ, như máy siêu âm, máy điện quang, máy điện tim, máy
xét nghiệm 18 thông số, bàn mổ đa năng…..Ngoài ra các trang thiết bị phục vụ
cho bệnh nhân, như giương tủ, chăn màn và các đồ dùng khác đã được trang bị
ST
T
Nội dung ĐV tính 2003 2004 2005 Ghi chú
I. Y Tế xã
Tổng số: Người 64 68 66
Trong đó:
1 Bác sỹ Người 1 1 3
2 Y sỹ đa khoa Người 12 15 14
3 Y tá TH Người 4 4 4
4 Y tá sơ học Người 18 18 13
5 Nữ hộ sinh
TH
Người 11 12 15
6 Nữ hộ sinh SH Người 03 03 02
7 Khác Người 15 15 15
II. Y tế thôn bản
Tổng số Người 278 278 275 3 Bỏ HĐ
Trong đó:
1 Y tá sơ học Người 277 277 275
ĐT 3 tháng
2 Dược tá SH Người 1 1 0
Bộ máy y tế cơ sở còn gặp nhiều khó khăn, biên chế vừa thiếu lại vừa
yếu. Toàn huyện có 03/18 trạm có bác sĩ hoạt động. Cán bộ có trình độ sơ học
còn chiếm tỷ lệ cao, năm 2005 tỷ lệ này là 22,7%. Đặc biệt là biên chế nữ hộ
sinh quá thấp, mới có 15/18 trạm có nữ hộ sinh. Số cơ sở có thể tự đặt vòng
tránh thai được có ít 6/18 xã, chiếm 33,3% đến nay huyện Bảo Yên chưa có
trạm y tế nào đạt chuẩn quốc gia về y tế.
2.2.4 Giáo dục và đào tạo:
Bảng 4: Số liệu về công tác giáo dục năm (2003 -2005).
ST
các mặt sau:
Bảng 4 số liệu Phòng Giáo Dục huyện.
Đối với bậc tiểu học, THCS, lớp học mầm non.
* Về phát triển hệ thống giáo dục:
Trong những năm gần dây, đặc biệt là năm 2005, huyện Bảo Yên đã làm
tốt công tác tuyên truyền vận động, tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt
98,6% bằng 100,82% (1) kế hoạch. Số trường và lớp học đều tăng so với những
năm trước, năm 2003 có 881 lớp, 48 trường; Năm 2005 tăng lên 952 lớp 63
trường (2). Toàn huyện có 820 (3) phòng học, trong đó phòng được kiên cố hoá
là 284; phòng bán kiên cố là 198, số phòng tạm bợ là 338 và hiện nay huyện đã
cơ bản xoá được tình trạng học ca 2, ca 3.
* Về nhân lực:
Để đáp ứng nhu cầu học cho số học sinh liên tục tăng trong những năm
qua, biên chế giáo viên cũng tăng từ 934 người năm 2003 lên 996 người năm
2005( chưa tính cán bộ quản lý và hoạt động khác) tăng 6,22%. Trình độ của
giáo viên bước đầu được quan tâm, hàng năm ngành giáo dục đều có kế hoạch
đào tạo và đào tạo lại, nhằm nâng cao trình độ cho giáo viên. Tuy công tác này
thực hiện còn kém hiệu quả, năm 2005 mới có 54 cán bộ có trình độ đại học
trên tổng số 996 biên chế, chiếm 5,42%.
* Về trang thiết bị phục vụ cho công tác dậy và học.
Các trang thiết bị phục vụ cho công tác dậy và học còn nhiều thiếu thốn,
hầu hết các trường, đặc biệt là các trường ở các xã vùng sâu, vùng cao thiếu các
phòng chức năng, như phòng thực hành, phòng thí nghiệm ….Tỷ lệ lên lớp hàng
năm đạt 99,6%; Thi tốt nghiệp cấp học đạt: 99,7%.
Đối với bậc trung học phổ thông:
Năm 2005 Bảo Yên có 03 trường với 62 lớp học: Trong đó trường PTTH
số III mới thành lập năm 2004, số học sinh liên tục tăng theo năm học. Năm
2003 có 1.558 em, năm 2005 tăng lên 2.651(4) em, tăng 41,2%. Với quy mô như
hiện nay, các trường các trường THPT mới đáp ứng được khoảng trên 82% số
học sinh tốt nghiệp THCS hàng năm. Cả 03 trường được xây dựng kiên cố hoá;
nhiên bên cạnh những kết qủa đạt được, công tác văn hoá còn có những hạn chế
sau:
- Đội thông tin lưu động huyện chưa thực sự cố gắng trong việc tuyên
truyền tại các cơ sở, nội dung, hình thức tuyên truyền còn nghèo nàn chưa đáp
ứng được nhu cầu của nhân dân, do vậy việc giáo dục pháp luật chưa được kịp
thời, chủ trương chính sách của đảng chưa thực sự đi vào cuộc sống của nhân
dân.
- Phong trào văn hoá, văn nghệ trong quần chúng nhân dân chưa thực sự
được chú trọng; Công tác quản lý, khai thác và bảo tồn phát huy bản sắc văn
hoá dân tộc mới được đặt ra, vẫn chưa có giải pháp cụ thể về vấn đề này.
- Việc tuyên truyền vận động nhân dân xoá bỏ các tập tục lạc hậu trong
đời sống, như thách cưới, người chết còn để dài ngày, tệ mê tín dị đoan.. chưa
có sự chuyển biến tích cực.
Nhằm tăng cường công tác tuyên truyền vận động phục vụ cho công cuộc
đổi mới của Đảng và Nhà nước, đồng thời phục vụ nhu cầu giải trí của người
dân. Trong những năm qua, sự nghiệp truyền thanh- truyền hình của huyện
được quan tâm đầu tư xây dựng. Năm 2005 toàn huyện có 07 trạm truyền thanh,
10 trạm tiếp sóng đài truyền hình, nâng tỷ lệ số hộ được nghe đài tiếng nói Việt