LUẬN VĂN: Giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Châu Thành, tỉnh An Giang - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp huyện Châu Thành,
tỉnh An Giang MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất của nền kinh tế quốc dân và là một
bộ phận trọng yếu của tái sản xuất xã hội. Phát triển nông nghiệp luôn giữ một vị trí
quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, nhất là đối
với nước ta khi sản xuất nông nghiệp hiện còn đang chiếm 20,9% GDP, thu hút 56,8%
lực lượng lao động xã hội và đóng góp hơn 30% giá trị xuất khẩu của cả nước.
Để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, đạt hiệu quả cao và bền vững,
việc hoàn thiện và xác định một cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý, phù hợp với xu
hướng phát triển chung của nền kinh tế không chỉ là yêu cầu có tính khách quan, mà
còn là một trong những nội dung chủ yếu của quá trình CNH, HĐH đất nước. Nghị
quyết 5 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về đẩy nhanh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 - 2010 đã chỉ rõ:

khai thác tối đa tiềm năng và lợi thế, tăng sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá
trên thị trường trong nước và quốc tế, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp,
nâng cao đời sống của nông dân, đóng góp tích cực vào quá trình CNH, HĐH của
tỉnh là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong bối cảnh hiện nay.
Với lý do đó, tác giả chọn đề tài:
Giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp huyện Châu Thành, tỉnh An Giang
để viết luận văn thạc sĩ Kinh doanh
và quản lý, chuyên ngành Quản lý kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp nói riêng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Dưới đây là
một số công trình nghiên cứu tiêu biểu:
- Bùi Tất Thắng, 1994:
Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ công
nghiệp hoá của NIEs Đông Nam Á và Việt Nam
, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Nguyễn Văn Thạo:
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở An Giang
, tạp chí
Nghiên cứu lý luận, số 2-1995.

- Bùi Tất Thắng, 1996:
Những nhân tố ảnh hưởng tới sự chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hoá của Việt Nam,
Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội.
- Lê Đình Thắng, 1998:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn - Những vấn đề
lý luận và thực tiễn

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu:

Đề xuất giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp huyện Châu Thành, tỉnh An Giang giai đoạn từ nay đến năm 2010 và
2015.
Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để thực hiện mục đích nghiên cứu nói trên, luận văn
tập trung giải quyết một số nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp trên địa bàn cấp huyện;

- Phân tích, đánh giá một cách hệ thống thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp huyện Châu Thành, tỉnh An Giang, chỉ ra những thành công, hạn chế và
nguyên nhân;
- Đề xuất phương hướng và giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp huyện Châu Thành trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu
của luận văn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp huyện Châu Thành, tỉnh An Giang giai đoạn 1995-2007. Các
giải pháp và kiến nghị mà luận văn dự kiến đề xuất chủ yếu thuộc phạm vi quản lý nhà
nước của chính quyền huyện Châu Thành, tỉnh An Giang và cơ quan quản lý nhà nước
các cấp có liên quan.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, luận văn dựa trên

VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
1.1.1. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Để hiểu khái niệm cơ cấu kinh tế, trước hết cần làm rõ khái niệm cơ cấu.
Theo quan điểm triết học duy vật biện chứng, cơ cấu là một khái niệm dùng để chỉ
cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối
quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của nó. Trong khi chỉ rõ mối quan hệ
biện chứng giữa bộ phận và tổng thể, cơ cấu biểu hiện ra như là một thuộc tính của
sự vật, hiện tượng và biến đổi cùng với sự biến đổi của sự vật, hiện tượng. Như
vậy, có thể thấy có nhiều trình độ, nhiều kiểu tổ chức cơ cấu của khách thể và các
hệ thống [29, tr.28].
Nền kinh tế quốc dân là một hệ thống phức tạp, được cấu thành bởi nhiều bộ
phận khác nhau. Đồng thời giữa chúng luôn có quan hệ biện chứng với nhau trong quá
trình vận động và phát triển. Sự vận động và phát triển của nền kinh tế còn chứa đựng
sự thay đổi của chính bản thân các bộ phận và cách thức quan hệ giữa chúng với nhau
trong mỗi thời điểm và trong mỗi điều kiện khác nhau. Do đó, có thể khái quát cơ cấu
kinh tế là tổng thể các bộ phận hợp thành cùng với những mối quan hệ về chất lượng
và số lượng giữa các bộ phận cấu thành nền kinh tế trong không gian, thời gian và
điều kiện kinh tế, xã hội nhất định.
Cơ cấu kinh tế là kết quả của sự phân công lao động xã hội, được bắt đầu từ
việc tăng năng suất lao động và sự phát triển của các mối quan hệ trao đổi hàng hóa,
tiền tệ.
Cơ cấu kinh tế phản ánh sự tương tác sống động giữa các yếu tố của lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất, trong đó vai trò quyết định là sự phát triển của lực lượng
sản xuất.

Sự cân đối, đồng bộ giữa các bộ phận trong cơ cấu kinh tế xét trên quan điểm
hệ thống với các cấp độ khác nhau, gắn với thời gian, không gian và đặc điểm chính
trị, kinh tế - xã hội nhất định có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm tái sản xuất và
phát triển cả về kinh tế và xã hội.
Như vậy, bản chất của cơ cấu kinh tế là sự biểu hiện của các mối quan hệ giữa

dưới tác động của quy luật tự nhiên, kinh tế - xã hội. Trong nền kinh tế thị trường, cơ
cấu kinh tế nói chung, cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng chịu tác động của quy luật
cung cầu, giá trị và cạnh tranh. Do vậy, xây dựng cơ cấu kinh tế nông nghiệp không
thể duy ý chí, mà phải nhận thức đúng đắn sự vận động của quy luật khách quan, vận
dụng sáng tạo trong điều kiện cụ thể.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp hình thành, biến đổi gắn liền với sự phát triển của
cơ chế thị trường, từ kinh tế tự nhiên dần dần chuyển thành kinh tế hàng hóa, quá trình
này tác động và thúc đẩy ngành nông nghiệp phát triển đa dạng và năng động theo
hướng tiên tiến.
1.1.2. Các cách tiếp cận cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau:
Cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp:
Được thể hiện ở những mối quan
hệ, tỷ lệ giữa các phân ngành trong ngành nông nghiệp (nông-lâm-ngư-diêm
nghiệp…). Trong quá trình phát triển, tương quan giữa các phân ngành trong cơ cấu
kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp sẽ có những chuyển biến quan trọng theo hướng đa
dạng hoá sản xuất. Đó chính là sự phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động
xã hội trong sản xuất nông nghiệp.
Cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp phản ánh sự phân công lao động theo
hướng chuyên môn hóa sản xuất, được hình thành dựa trên mối quan hệ giữa các đối
tượng khác nhau của nền sản xuất, sản xuất càng phát triển thì tập hợp ngành kinh tế
càng đa dạng. Xem xét cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp không chỉ dựa trên
chỉ tiêu giá trị, mà còn phải phân tích chỉ tiêu lao động, chỉ tiêu vốn đầu tư… Tổng
hợp các chỉ tiêu đó phản ánh thực trạng cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp.
Cơ sở của cơ cấu ngành là sự phân công lao động xã hội; phân công lao động
xã hội càng sâu sắc thì cơ cấu ngành càng được phân chia đa dạng. Tiền đề của sự
phân công lao động trong nông nghiệp là năng suất lao động nông nghiệp. Trước hết,
năng suất lao động của khu vực sản xuất lương thực phải đạt tới một giới hạn nhất
định, đảm bảo đủ lương thực cần thiết cho xã hội. Đây là cơ sở quan trọng cho sự phân
công giữa những người sản xuất lương thực với những người chăn nuôi và các ngành

hình thức hợp tác và hợp tác xã cung ứng dịch vụ, vật tư và tiêu thụ sản phẩm cho
kinh tế hộ gia đình và trang trại; mở rộng các hình thức kinh tế hỗn hợp, liên kết, liên
doanh giữa các hợp tác xã với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; kinh tế
tập thể cùng với kinh tế nhà nước phải vươn lên nắm vai trò chủ đạo và trở thành nền
tảng của nền kinh tế quốc dân.
Kinh tế cá thể và tiểu chủ
: Kinh tế cá thể và tiểu chủ được khuyến khích phát
triển ở cả thành thị, nông thôn, trong các ngành nghề không bị hạn chế, có thể tồn tại

độc lập hoặc tham gia vào các hợp tác xã, liên kết với doanh nghiệp bằng nhiều hình
thức. Trong lĩnh vực nông nghiệp ở nước ta hiện nay, kinh tế hộ gia đình - một bộ
phận của kinh tế cá thể, tiểu chủ - đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Nhà nước khuyến
khích phát triển trang trại hộ gia đình nhằm khai thác đất trống, đồi núi trọc, mặt nước
và đất hoang hóa để phát triển sản xuất.
Kinh tế tư bản tư nhân
: Kinh tế tư bản tư nhân được khuyến khích phát triển
không hạn chế về quy mô trong những ngành nghề, lĩnh vực và địa bàn mà pháp luật
không cấm; được khuyến khích hợp tác, liên doanh với nhau và liên doanh với doanh
nghiệp nhà nước, chuyển thành doanh nghiệp cổ phần và bán cổ phần cho người lao
động.
Kinh tế tư bản nhà nước
: Kinh tế tư bản nhà nước tồn tại dưới các hình thức
liên kết giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư nhân trong và ngoài nước, hình thức này
phát triển ngày càng đa dạng.
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
: Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận
của nền kinh tế Việt Nam, được khuyến khích phát triển, hướng mạnh vào sản xuất -
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, hàng hóa và dịch vụ có công nghệ cao, xây
dựng kết cấu hạ tầng.
Cơ cấu kinh tế vùng, lãnh thổ:

trình độ công nghệ chung trong sản xuất nông nghiệp còn lạc hậu. Tuy nhiên, sự phát
triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ đã làm cho kỹ thuật về giống, phân bón, tưới
tiêu, bảo vệ thực vật… từng bước được đổi mới và áp dụng ngày càng có hiệu quả vào
sản xuất nông nghiệp. Quá trình cơ giới hoá nông nghiệp đã thâm nhập vào các khâu
làm đất, gieo cấy, chăm sóc, thu hoạch, vận chuyển sản phẩm… làm cho năng suất lao
động ngày càng tăng. Đặc biệt, sự tác động của công nghiệp vào khâu chế biến đã làm
tăng chất lượng và giá trị hàng hoá của sản phẩm nông nghiệp, từ đó mang lại thu
nhập cao hơn cho người sản xuất nông nghiệp.

Cơ cấu kinh tế theo hình thức tổ chức sản xuất:

Sự tồn tại của các thành phần
kinh tế trong nông nghiệp luôn gắn liền với các hình thức tổ chức sản xuất - kinh
doanh nhất định như kinh tế hộ nông dân tự chủ, hợp tác xã, trang trại, doanh nghiệp,
trạm giống, trạm kỹ thuật, các tổ chức khuyến nông… Việc lựa chọn các hình thức tổ
chức sản xuất trong nông nghiệp phải dựa trên cơ sở sự phát triển của lực lượng sản
xuất và các điều kiện thực tế cụ thể khác.
Ngoài các cách tiếp cận nói trên, cơ cấu kinh tế nông nghiệp còn được xem xét
dưới các góc độ khác như lao động, thị trường, sản phẩm dưới hình thái hiện vật và
giá trị, trình độ xã hội hoá, trình độ phân công, hiệp tác trong nước và quốc tế…

1.1.3. Quan niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Nông nghiệp là một hệ thống phức tạp gồm nhiều bộ phận có mối quan hệ hữu
cơ với nhau. Những bộ phận này được coi như là các phần tử trong một cấu trúc có sự
quan hệ mật thiết mà sự thay đổi của phần tử này hay sự biến đổi của một yếu tố làm
cho phần tử này thay đổi thì cũng làm cho các yếu tố khác của phần tử khác thay đổi
và kéo theo đó là những biến đổi của cấu trúc. Làm thay đổi các phần tử bên trong một
cấu trúc chính là làm thay đổi cơ cấu hay là chuyển dịch cơ cấu. Như vậy, có thể hiểu
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là quá trình làm biến đổi cấu trúc và các mối
quan hệ tương tác trong hệ thống theo những định hướng và mục tiêu nhất định, nghĩa

chế, đó là cơ cấu bó hẹp, khép kín, không phải là cơ cấu để sản xuất hàng hoá, do vậy
sản xuất chậm phát triển, thu nhập thấp, đời sống khó khăn
Nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường đòi hỏi phải có sự thay đổi cơ cấu kinh
tế phù hợp, từ cơ cấu sản xuất tự cung, tự cấp, phải chuyển sang cơ cấu sản xuất nhằm
mục đích để bán. Nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường đòi hỏi mọi ngành, mọi
vùng, mọi tổ chức kinh tế phải hoạt động theo yêu cầu của thị trường, theo mệnh lệnh
và tiếng gọi của thị trường, thị trường cần hàng hoá gì thì sản xuất hàng hoá đó, chỉ
sản xuất và bán những cái mà thị trường cần. Cơ cấu kinh tế kiểu cũ mang tính tự
cung, tự cấp nay phải được đổi mới phù hợp với sự phát triển kinh tế thị trường. Đó là
cơ cấu kinh tế có phân công và hiệp tác lao động, có phân công chuyên môn hoá sản
xuất, có mối liên hệ kinh tế giữa các đơn vị, các ngành, các vùng, trong nước với nước
ngoài, dựa trên thế mạnh của từng ngành, từng vùng để bổ sung, hỗ trợ cho nhau trong
quá trình phát triển.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp còn là yêu cầu khách quan bắt nguồn
từ nhu cầu khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng tự nhiên, kinh tế, kỹ thuật và lao động
hiện có trong nông nghiệp để chuyển sang kinh tế hàng hoá, mở rộng thị trường và
phát triển kinh tế nông thôn. Để khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng trong nông
nghiệp, phát triển sản xuất hàng hoá, mở rộng thị trường và phát triển kinh tế nông
thôn thì một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu là phải đẩy mạnh chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, gắn phát triển nông nghiệp với kinh tế nông thôn,
đây là nhiệm vụ có tầm chiến lược trong toàn bộ sự nghiệp đổi mới của đất nước.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế để khai thác mọi tiềm năng mở rộng sản xuất hàng
hoá, phát triển kinh tế nông thôn còn là con đường giảm dần khoảng cách về trình độ
phát triển về mọi mặt giữa nông thôn và thành thị, cải thiện và nâng cao từng bước đời
sống vật chất, văn hoá, tinh thần cho nông dân, khắc phục cảnh đói nghèo đã bao đời
đè nặng lên cuộc sống của họ.

Quan điểm phát triển kinh tế của Đảng ta tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X là:

phẩm để có hiệu quả kinh tế. Từng bước phát triển thuỷ sản trở thành thế mạnh, kết
hợp nuôi thả những giống cá có hiệu quả kinh tế cao với việc phát triển hệ thống
tiêu thụ, đưa giá trị thu nhập ở khu vực này tăng cao hàng năm.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng
thể hiện sự tái phân công lao động theo vùng lãnh thổ. Dựa trên những lợi thế về điều
kiện tự nhiên, địa lý, kinh tế - xã hội của mỗi vùng mà hình thành các vùng kinh tế.
Các vùng kinh tế này có những đặc điểm khác nhau nhưng có điểm chung là dựa vào
những lợi thế đó để khai thác có hiệu quả các nguồn lực và tiềm năng kinh tế trong
vùng nhằm tạo ra sự phát triển.
Kinh tế vùng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng nhằm khai thác những lợi thế
từ lao động, từ vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên để xây dựng một chiến lược phát triển
sản xuất - kinh doanh theo hướng chuyên môn hoá, đa dạng hoá.
Chuyển dịch cơ cấu vùng còn làm cho những diện tích đất trước đây chưa sử
dụng, hoặc sử dụng chưa hiệu quả, hoặc chưa chuyển đổi được sang hướng sản xuất
phù hợp được sử dụng có hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, khi có một cơ cấu kinh tế vùng
hợp lý sẽ thu hút được vốn đầu tư từ bên ngoài nhằm duy trì và phát triển kinh tế vùng
đó.
Trong nền kinh tế thị trường, ở mỗi vùng, ngành nào có ưu thế cạnh tranh sẽ
phát triển nhanh. Từ đó, kéo theo các ngành khác có liên quan cùng phát triển cả về
qui mô và tốc độ theo một quan hệ, tỷ lệ nhất định, qua đó đạt hiệu quả kinh tế cao
nhất của vùng.
Xác định cơ cấu kinh tế vùng hợp lý sẽ tạo cơ sở để khai thác và sử dụng có
hiệu quả hơn những tiềm năng về tài nguyên, sức lao động, cơ sở vật chất hiện có của
từng vùng. Điều này quyết định tốc độ phát triển kinh tế hàng hoá ở nông thôn mỗi
vùng cũng như cả nước. Khi có biến đổi lớn trong vùng kinh tế về kết cấu hạ tầng và

tình hình kinh tế - xã hội như hệ thống giao thông, thuỷ lợi, trình độ dân trí, vốn đầu
tư, thị trường tiêu thụ, đặc biệt là sự xuất hiện của những tiến bộ mới trong công nghệ
sinh học, nhu cầu mới của thị trường… sẽ xuất hiện những ngành sản xuất - kinh

sở kế hoạch, chiến lược qui hoạch đội ngũ cán bộ, công nhân, nông dân… theo một cơ
cấu hợp lý để từ đó phát huy được thế mạnh về lao động.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo trình độ công nghệ:

Trình độ công nghệ trong
sản xuất nông nghiệp nước ta từng bước được nâng cao, cơ sở vất chất kỹ thuật của
nông nghiệp ngày càng hiện đại, khai thác có hiệu quả hơn những tiềm năng to lớn của
nền nông nghiệp nhiệt đới phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội.
Tuy nhiên, bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế trong điều
kiện khoa học công nghệ trên thế giới phát triển cao, nhất là công nghệ tin học, công
nghệ sinh học, đòi hỏi phải đẩy mạnh hơn nữa quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo trình độ công nghệ trong sản xuất nông nghiệp. Xu hướng chung hiện nay là phải
tăng tỷ trọng công nghệ sản xuất và quản lý hiện đại kết hợp với khai thác lợi thế của
công nghệ truyền thống.
1.2.2. Yêu cầu đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Một là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp gắn với tăng trưởng:
Tăng
trưởng kinh tế là sự gia tăng hay mở rộng về sản lượng hàng hóa và dịch vụ của nền
kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định. Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu quan
trọng trong phát triển kinh tế, được phản ánh qua sự tăng lên về quy mô sản lượng và
sản lượng bình quân đầu người của một nền kinh tế. Như vậy, có thể hiểu tăng trưởng
nông nghiệp là sự tăng lên về sản lượng hàng hóa và dịch vụ trong lĩnh vực nông
nghiệp. Nguồn gốc của tăng trưởng nông nghiệp là sự gia tăng và/hoặc sử dụng hiệu
quả hơn các nguồn lực đầu vào cơ bản đối với quá trình sản xuất nông nghiệp là đất
đai, vốn, lao động và công nghệ. Mặt khác, để đảm bảo cung cấp đủ lương thực, thực
phẩm thiết yếu cho nhu cầu tiêu dùng của dân cư ngày càng tăng, nguyên liệu cho phát
triển công nghiệp, vốn và ngoại tệ cho tái sản xuất mở rộng và tích lũy ban đầu để đầu
tư phát triển các ngành kinh tế khác, các ngành, các lĩnh vực trong nông nghiệp phải
không ngừng gia tăng quy mô sản lượng, nghĩa là tăng trưởng. Tuy nhiên, mức tăng
sản lượng giữa các ngành, giữa các lĩnh vực là không giống nhau, nhờ đó tạo tiền đề

kinh tế nhanh đi đôi với nâng cao chất lượng tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế.
Ba là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải xuất phát từ tín hiệu của thị trường:

Phát triển nông nghiệp toàn diện với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững nhất thiết
phải dựa trên cơ sở kinh tế hàng hóa gắn với thị trường. Chỉ có như vậy mới khắc

phục được xu hướng tự phát, tự cung, tự cấp, phân tán nhỏ lẻ trong sản xuất nông
nghiệp và phát triển nông thôn nước ta hiện nay. Sản xuất hàng hóa đặt ra yêu cầu sản
xuất sản phẩm nào, số lượng bao nhiêu, chất lượng và chủng loại ra sao phải do thị
trường quyết định, không phải do khả năng đất đai, lao động, khí hậu, kinh nghiệm
của người sản xuất quyết định.
Bốn là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải gắn với hiệu quả kinh tế và xã hội:
Một
cơ cấu kinh tế hợp lý phải là cơ cấu đảm bảo đạt hiệu quả kinh tế và xã hội cao. Trong
điều kiện kinh tế thị trường, sản xuất chỉ có thể tồn tại được khi sản phẩm có khả năng
cạnh tranh, hay nói cách khác sản xuất phải đạt hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, hiệu quả
kinh tế không phải bao giờ cũng thống nhất với hiệu quả xã hội. Do vậy, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp không chỉ tính đến hiệu quả về mặt kinh tế mà còn phải
tính đến hiệu quả về mặt xã hội, phải được đo lường bằng các chỉ tiêu tổng hợp, cả về
kinh tế và xã hội.
Năm là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải gắn với nền kinh tế mở và hội nhập
quốc tế:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn phải phù hợp với xu
hướng hội nhập và mở cửa với thế giới và khu vực. Yêu cầu trên còn là cơ sở để hình
thành các giải pháp xây dựng cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn hợp lý trong giai
đoạn hiện nay.
Sáu là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải gắn với công bằng xã hội:
Chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH trong thế kỷ XXI ở

Nông
nghiệp trên địa bàn huyện là một bộ phận của nền nông nghiệp cũng như nền kinh tế
nói chung của tỉnh, của vùng và cả nước. Do đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp trên địa bàn phải gắn kết với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, của vùng và
của cả nước về mục tiêu, phương hướng và giải pháp.
Mười là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp gắn với công nghiệp hóa, đô
thị hóa và xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn:
Xu hướng và tốc độ chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp phải phù hợp với xu hướng và tốc độ công nghiệp hóa, đô thị
hóa và phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn trong từng giai đoạn. Mối tương quan xuất
phát từ thực tế ở nước ta và kinh nghiệm của các nước: Công nghiệp hóa, đô thị hóa
và xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn vừa tạo ra điều kiện vật chất, vừa thu hút lao
động dư thừa của khu vực này trong quá trình CNH, HĐH.
1.3. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ XU HƯỚNG CHUYỂN DỊCH CƠ
CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
1.3.1. Các yếu tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Thứ nhất, điều kiện tự nhiên:

Theo FAO, các yếu tố tự nhiên có vai trò quan trọng trong việc hình thành các
hệ sinh thái nông nghiệp khác nhau. Các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc
hình thành các cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên một vùng lãnh thổ gồm có: Khí hậu,
nguồn nước, đất đai và hệ sinh vật.
Sản xuất nông nghiệp diễn ra trên địa bàn rộng lớn và đối tượng khai thác là
sinh vật nuôi trồng gắn liền với vị trí địa lý, thổ nhưỡng, khí hậu, chế độ thuỷ văn, ánh
sáng, hệ sinh thái, tài nguyên thiên nhiên… Đây là các yếu tố tiền đề cực kỳ quan
trọng đối với quá trình xây dựng và hoàn thiện cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
Vấn đề căn bản là lựa chọn được cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu nghề
nghiệp để huy động và khai thác có hiệu quả nhất những lợi thế so sánh về tự
nhiên, tránh và hạn chế rủi ro cũng như những tác động bất lợi của tự nhiên để tăng
năng suất cây trồng, vật nuôi, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm, góp

nghiệp.
Quy mô, cơ cấu và động thái của thị trường chi phối rất lớn và có thể nói là yếu
tố quyết định đối với người sản xuất - kinh doanh, chi phối quá trình chuyển dịch cơ
cấu cây trồng, vật nuôi.
Trong nền kinh tế thị trường, cả 3 vấn đề cơ bản là sản xuất cái gì, sản xuất như
thế nào, sản xuất cho ai đều do thị trường quyết định. Thị trường không chỉ quyết định
về số lượng mà còn về chất lượng, cơ cấu, mẫu mã sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Thị
trường tác động trực tiếp đến quy mô, trình độ phát triển của cơ sở kinh tế, đến xu
hướng phân công lao động, vị trí, tỷ trọng các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế quốc
dân. Do vậy, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp có hiệu quả phải căn cứ vào nhu cầu thị trường để làm định hướng chuyển
dịch. Thị trường có vai trò là động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đồng thời
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là điều kiện thúc đẩy thị trường nông nghiệp
phát triển. Tuy nhiên, nếu để thị trường phát triển tự phát sẽ dẫn đến mất cân đối, do
đó cần phải có sự quản lý của Nhà nước để điều tiết thị trường.
Vốn đầu tư
: Vốn đầu tư cũng là yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Có vốn mới giải quyết được vấn đề tăng
cường cơ sở kỹ thuật, ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ, nâng cao chất lượng
nguồn lao động. Vì vậy, để tăng trưởng kinh tế nông nghiệp cao và ổn định, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp có hiệu quả phải tăng cường đầu tư vốn cho phát triển
sản xuất và kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn cũng như các yếu tố kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội liên quan khác.

Trình độ, kỹ năng của người lao động, tập quán canh tác, ngành nghề truyền
thống
: Trình độ, kỹ năng của người lao động, tập quán canh tác, ngành nghề truyền
thống cũng chi phối mạnh mẽ đến bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu sản phẩm ở
mỗi vùng, mỗi địa phương. Các nghề tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ cũng tác động tích
cực tới việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Muốn chuyển dịch cơ cấu kinh tế

nghiệp…
Thứ năm, yếu tố quốc tế:
Trong điều kiện nền kinh tế mở, mỗi biến động về chính trị, quân sự, biến động
về tài chính, tiền tệ, thị trường quốc tế… cũng gây ảnh hưởng nhất định đến chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong nước và trên địa bàn.
Các biến động về tài chính, tiền tệ, giá cả, thị trường quốc tế ảnh hưởng rất lớn
đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Bởi lẽ, quy mô, cơ cấu, động thái tăng,
giảm của thị trường thế giới đều tác động mạnh mẽ đến tốc độ và cơ cấu nông sản xuất
khẩu của nước ta.
Nhìn chung, xu thế chính trị - xã hội của khu vực và thế giới, xu thế toàn
cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, xu hướng quốc tế hóa lực lượng sản xuất, hình
thành các cam kết của đất nước đối với khu vực và thế giới, tạo sự phát triển đan
xen nhau, khai thác thế mạnh của nhau, hợp tác cùng phát triển trong sản xuất và
trao đổi hàng hóa, dịch vụ đều tác động đến sự hợp tác và phân công lại lao động
trong nông nghiệp, tác động mạnh mẽ đến tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn ở phạm vi cả nước cũng như ở từng địa
phương.
Thứ sáu, sự phát triển của khoa học – công nghệ:

Sự phát triển của khoa học - cộng nghệ tác động mạnh mẽ đến chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp. Tiến bộ khoa học - công nghệ được ứng dụng vào sản xuất
nông nghiệp cho phép tạo ra những sản phẩm mới, chất lượng và năng suất cao hơn.
Những thành tựu và kiến thức về khoa học xã hội và nhân văn cũng tác động tích cực
đến việc nâng cao trình độ văn hoá, kiến thức kinh tế cho nông dân trong chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới.
Khoa học - công nghệ phát triển đã tạo cho người nông dân nhiều giống mới
với phẩm chất tốt, cho phép đổi mới công nghệ sản xuất, bảo quản, chế biến, cho phép

Trích đoạn Những mặt tích cực Phương hướng đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Châu Thành Đổi mới và hoàn thiện các chính sách kinh tế liên quan để đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên nông nghiệp Mở rộng quy mô đất sản xuất của các chủ thể kinh tế trong nông nghiệp, tăng cường liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản hàng hóa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status