Một số giải pháp đấy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế VKTTĐPN trong thời kỳ hội nhập WTO - Pdf 10

MỤC LỤC
2.6.2.1. Phân tích SWOT 67
MỞ ĐẦU
Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (VKTTĐPN, sau đây gọi tắt là Vùng),
theo quyết định phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ số 44/1998/QĐ-TTg, ngày
23/2/1998 bao gồm TP.HCM và các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương và Bà Rịa – Vũng
Tàu. Trong Hội nghị các tỉnh VKTTĐPN ngày 20-21/6/2003, Thủ tướng Chính phủ
đã quyết định mở rộng ranh giới VKTTĐPN, sau đó Văn phòng Chính phủ đã ra
thông báo số 99/TB-VPCP này 2/7/2003 về kết luận của Thủ tướng Chính phủ,
trong đó quyết định bổ sung vào VKTTĐPN thêm 3 tỉnh: Tây Ninh, Bình Phước,
Long An. Năm 2005, VKTTĐPN được mở rộng tới Tiền Giang (tại Thông báo số
4973/VPCP-ĐP ngày 03/9/2005). Đến nay VKTTĐPN bao gồm 8 tỉnh, thành phố:
Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa –
Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang với diện tích gần 30 nghìn km
2
, dân số năm 2005
có khoảng 14,7 triệu người, chiếm 9,2% diện tích tự nhiên và khoảng 17,7% dân số
so với cả nước. Tỷ lệ đô thị hóa của vùng đạt 48%, bằng 1,8 lần trung bình cả nước.
VKTTĐPN có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển
kinh tế - xã hội của cả nước; là vùng duy nhất hiện nay hội đủ các điều kiện và lợi
thế để phát triển công nghiệp, dịch vụ, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa; đặc biệt phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp điện tử, tin học,
công nghiệp dầu khí và sản phẩm hóa dầu; phát triển dịch vụ cao cấp, dịch vụ du
lịch, dịch vụ viễn thông, tài chính, ngân hàng; nghiên cứu, ứng dụng và triển khai
khoa học và công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao…Bộ Chính trị đã có
Nghị quyết số 53/NQ-TW ngày 29/8/2005 và Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết
định số 146/QĐ-TTg ngày 13/8/2004 đối với VKTTĐPN. Để góp phần thực hiện
mục tiêu chung của cả nước về tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng của VKTTĐPN giai
đoạn 2005-2010 gấp 1,2 lần, giai đoạn 2011-2020 gấp 1,1 lần mức bình quân của cả
nước. Tỷ trọng đóng góp trong GDP cả nước tăng từ 36% năm 2005 lên khoảng 40-
41% năm 2010 và 43-44% năm 2020; tăng mức đóng góp của Vùng trong thu ngân

Tổ Chức Thương mại Thế giới (WTO). Điều này đem đến những cơ hội và thách
thức đan xen nhau đối với cơ cấu kinh tế Vùng và việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Vùng. Cụ thể, hội nhập WTO có thể tác động đến chuyển dịch cơ cấu trên các nội
dung sau:
- Việt Nam có cơ hội tham gia ngày càng sâu hơn và rộng hơn vào phân công
lao động và hợp tác kinh tế quốc tế trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh. Điều này sẽ
ảnh hưởng sâu sắc đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Hội nhập WTO tạo áp lực thúc đẩy cải cách kinh tế trong nước, đáng chú ý
là cải cách về thể chế kinh tế cho phù hợp với luật chơi quốc tế và trình độ phát
triển của nền kinh tế, cải cách về cơ chế quản lý kinh tế cho phù hợp với cơ cấu
kinh tế đang chịu áp lực thay đổi dưới tác động của hội nhập WTO.
- Hội nhập WTO tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam thu hút vốn đầu tư trực
tiếp của nước ngoài, tiếp thu công nghệ và kinh nghiệm quản lý. Những điều này có
tác động mạnh đến cơ cấu nguồn lực đầu vào của quá trình tăng trưởng và phát triển
kinh tế.
Vì thế, có thể thấy rằng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ hội nhập
WTO càng trở nên vô cùng quan trọng và mang tính thời sự trong quá trình phát
triển kinh tế Vùng hướng đến mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế nhanh, hiệu
quả và bền vững.
Với ý nghĩa đó, đề tài “Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam trong thời kỳ hội nhập WTO” trở nên cấp thiết hơn bao giờ
hết.
Mục tiêu chung của đề tài là xây dựng những luận cứ khoa học, căn cứ thực
tiễn của chuyển dịch cơ cấu kinh tế của VKTTĐPN trong tăng trưởng và phát triển
kinh tế, về ảnh hưởng của WTO đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Vùng, và
4
về những vấn đề mấu chốt đặt ra cần giải quyết trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Vùng. Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất hệ thống quan điểm, định hướng và giải pháp
giải quyết các vấn đề nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế Vùng trong thời
kỳ hội nhập WTO.

Khung phân tích vấn đề
Đề tài sử dụng cách tiếp cận hệ thống, triển khai theo nguyên tắc từ hệ thống
chung đến các bộ phận. Trước hết, đề tài phân tích quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế dưới tác động của hội nhập
WTO. Kế đến, đề tài phân tích mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu các đầu vào
5
với chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế cũng như mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ
cấu nội bộ ngành với tăng trưởng kinh tế dưới tác động của hội nhập WTO. Cụ thể
trong Hình 1 dưới đây:
Hình 1: Khung phân tích của đề tài
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phân tích thống kê, phương
pháp chuyên gia, và phương pháp phỏng vấn sâu. Trong đó, phương pháp nghiên
cứu chủ yếu là phân tích thống kê và phương pháp chuyên gia.
a. Phân tích thống kê: Sử dụng các số liệu thống kê để so sánh
tìm ra các kết luận khoa học.
6
b. Phương pháp chuyên gia: Tổ chức hội thảo trong quá trình thực
hiện nhằm tìm kiếm sự thống nhất trong các phân tích, đánh giá cũng như đề xuất
các giải pháp, kiến nghị. Chuyên gia là các cán bộ chỉ đạo thực tiễn của tỉnh và một
số nhà nghiên cứu trong và ngoài tỉnh.
c. Phương pháp phỏng vấn sâu: Tiến hành một số cuộc phỏng vấn
sâu một số cán bộ chủ chốt của các tỉnh trong Vùng.
d. Phương pháp nghiên cứu chọn điểm kết hợp nghiên cứu theo
diện rộng: Thực hiện các nghiên cứu theo một số địa phương trọng điểm với các nội
dung có liên quan song song với nghiên cứu Vùng trong một thể thống nhất. Cụ thể:
Nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu công nghiệp và dịch vụ của Thành phố Hồ Chí
Minh, công nghiệp của Đồng Nai, Bình Dương, nông nghiệp của Tiền Giang, Tây
Ninh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của Thành phố Hồ Chí Minh trong hội nhập
WTO.

vùng là các bộ phận hợp thành vùng lớn hơn.
Vùng kinh tế là một bộ phận hợp thành hệ thống nền kinh tế quốc dân, với
những đặc trưng như: chuyên môn hóa những chức năng kinh tế quốc dân cơ bản;
tính tổng hợp trong phát huy lợi thế phát triển của các địa phương thông qua các
mối quan hệ liên kết; tính thống nhất, vùng kinh tế được coi như một hệ thống toàn
vẹn, có hệ thống quản lý riêng nằm trong hệ thống quản lý nền kinh tế quốc dân.
Cơ sở hình thành và phát triển vùng là các yếu tố tạo vùng, trong đó yếu tố
tiền đề là phân công lao động theo lãnh thổ. Sự phân công lao động theo ngành làm
xuất hiện quá trình phân công lao động theo lãnh thổ. Phân công lao động theo lãnh
thổ đã hình thành nên các vùng kinh tế. Vùng kinh tế là một bộ phận cấu thành nên
hệ thống nền kinh tế quốc dân, trên phạm vi lãnh thổ có nhiều vùng kinh tế từ đó
hình thành nên cơ cấu vùng kinh tế của nền kinh tế quốc dân.
Phân vùng là việc chia lãnh thổ đất nước ra những đơn vị đồng cấp, phục vụ
cho mục đích nhất định trong một khoảng thời gian nhất định, nên khó có thể có
một sự phân vùng khách quan “tuyệt đối và vĩnh viễn”. Nếu chúng ta hiểu vùng là
một thực thể khách quan thì phân vùng là sản phẩm của tư duy khoa học dựa trên
một số chỉ tiêu và phương pháp mà người nghiên cứu, người quản lý lựa chọn để
phân định vùng.
8
Khi tiến hành phân vùng kinh tế, người ta thường nghiên cứu sự xuất hiện và
quy luật vận động của các yếu tố tạo vùng khách quan. Từ đó, xác định những
nguyên tắc, quan điểm nhất định để đưa ra hệ thống các vùng với cơ cấu sản xuất và
cơ cấu lãnh thổ nhất định. Trong thực tế có nhiều cách phân vùng khác nhau, các
vùng được phân chia theo tiêu chí kinh tế như nguồn lực kinh tế, tổng hợp thể kinh
tế, tổ chức các ngành/các hoạt động, chức năng và năng lực kinh tế,… thành vùng
kinh tế ngành và cùng kinh tế tổng hợp.
Vùng kinh tế ngành là một vùng mà trong giới hạn của nó phân bổ tập trung
một ngành sản xuất nhất định, chẳng hạn như vùng nông nghiệp, vùng công nghiệp,
…Vùng kinh tế ngành cũng có tính chất tổng hợp của nó. Trong vùng kinh tế ngành
không chỉ có các ngành sản xuất chuyên môn hóa của nó, mà còn có cả một cơ cấu

lĩnh vực hoạt động có trên lãnh thổ trong mối quan hệ ảnh hưởng và phụ thuộc lẫn
nhau giữa chúng và quan hệ với các điều kiện phát triển của các vùng, quan hệ với
9
các lãnh thổ khác cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Vùng kinh tế tổng hợp là
một bộ phận quan trọng cấu thành nên cơ cấu kinh tế nền kinh tế quốc dân. Sự
chuyên môn hóa của các vùng được quy định bởi các vùng kinh tế ngành tồn tại
trong vùng kinh tế tổng hợp mà sự chuyên môn hóa của nó có ý nghĩa quan trọng
đối với quá trình phát triển vùng kinh tế tổng hợp khác (tính liên vùng). Khi lực
lượng sản xuất càng phát triển, phân công lao động theo lãnh thổ ngành càng sâu
sắc sẽ làm cho cơ cấu kinh tế của vùng kinh tế tổng hợp trở thành sự chuyên môn
hóa của nhiều ngành kinh tế trong vùng. Số ngành chuyên môn hóa trong vùng kinh
tế tổng hợp tăng lên không đồng nghĩa với trình độ chuyên môn hóa của từng ngành
giảm xuống, bởi vì trong quá trình phát triển của vùng kinh tế tổng hợp làm xuất
hiện mối liên kết trong sản xuất của các ngành trong nội vùng cũng như đối với các
vùng kinh tế khác. Vùng kinh tế tổng hợp gồm 2 loại cơ bản:
Thứ nhất, Vùng kinh tế cơ bản: là vùng kinh tế có diện tích rộng, bao gồm
nhiều vùng kinh tế - hành chính cấp tỉnh. Vùng kinh tế cơ bản có thể có nhiều
ngành sản xuất chuyên môn hóa và sự phát triển tổng hợp của vùng cũng phức tạp
hơn so với vùng kinh tế hành chính. Vùng kinh tế cơ bản chỉ có ý nghĩa và chức
năng kinh tế. Tác dụng chủ yếu của vùng kinh tế cơ bản là giúp cho việc nghiên cứu
lập các chương trình kế hoạch dài hạn về phát triển kinh tế - xã hội, từ đó phân bổ
hợp lý lực lượng sản xuất trên phạm vi cả nước và giữa các vùng, hình thành nên
mối liên kết vùng, tạo nên sự cộng hưởng về lợi thế, cùng phát triển nhằm khai thác
hiệu quả tiềm năng của từng vùng và cả nước, góp phần phát triển cân đối lãnh thổ
và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Việc phân vùng kinh tế cơ bản là nhằm hoạch định chiến lược, xây dựng các
kế hoạch phát triển, xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách vĩ mô thực hiện chức
năng quản lý nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân. Các vùng kinh tế cơ bản
thường bao gồm nhiều đơn vị hành chính (các tỉnh, thành phố), nhưng bản thân
vùng kinh tế cơ bản lại không thành lập bộ máy quản lý hành chính mà đây là

tập trung quá mức vào các đô thị lớn.
Phát triển mạnh cây công nghiệp (cao su, cà phê, điều, mía đường, bông ),
cây ăn quả, chăn nuôi công nghiệp, chăn nuôi đại gia súc, hình thành các vùng
chuyên canh tập trung gắn với công nghiệp chế biến, tạo điều kiện thu hút thêm lao
động từ Đồng bằng sông Cửu Long.
Nâng cấp các tuyến quốc lộ nối với các vùng và quốc tế; nâng cấp và xây
dựng mới một số cảng biển, sân bay. Xây dựng đô thị trên các trục phát triển gắn
với khu công nghiệp. Giải quyết tốt hệ thống giao thông đô thị, cấp và thoát nước,
khắc phục ô nhiễm môi trường.
3- Bắc Trung bộ, Duyên hải Trung bộ và vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
Phát huy lợi thế biển và ven biển, khai thác có hiệu quả các tuyến đường trục
Bắc - Nam, các tuyến đường ngang, các tuyến đường Xuyên Á, các cảng biển. Hình
thành các KCN ven biển, các khu công nghiệp - thương mại tổng hợp và phát triển
kinh tế trên các cửa khẩu và hành lang dọc các tuyến đường. Phát triển các ngành
công nghiệp lọc, hoá dầu, vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến và chế tạo khác,
các loại hình dịch vụ. Xây dựng theo quy hoạch một số cảng nước sâu với tiến độ
hợp lý. Đẩy nhanh việc xây dựng khu kinh tế Dung Quất - Chu Lai. Phát triển mạnh
du lịch biển và ven biển, gắn liền với các khu di tích, danh lam thắng cảnh của cả
vùng, đặc biệt là trên tuyến Huế - Đà Nẵng - Hội An - Nha Trang.
Phát triển nông nghiệp phù hợp với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, tăng
nhanh sản xuất cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc, kết hợp với công
nghiệp chế biến, đẩy mạnh trồng rừng. Có giải pháp hạn chế tác hại của thiên tai lũ
lụt, hạn hán nặng, kết hợp với bố trí lại sản xuất và dân cư. Phát triển kinh tế - xã
hội gắn với bảo vệ và cải thiện môi trường toàn dải ven biển. Khai thác có hiệu quả
vùng đất phía Tây, chú ý xây dựng các hồ chứa nước chống lũ và làm thủy điện.
Từng bước tạo điều kiện để vùng Bắc Trung bộ, Duyên hải Trung bộ liên kết với
11
Tây Nguyên tham gia có hiệu quả việc hợp tác kinh tế với Lào, Campuchia, nhất là
các tỉnh biên giới.
4- Trung du và miền núi Bắc bộ (Tây bắc và Đông bắc)

6- Đồng bằng sông Cửu Long
Tiếp tục phát huy vai trò của vùng lúa và nông sản, thủy sản xuất khẩu lớn
nhất cả nước; đẩy mạnh sản xuất và nâng cao chất lượng lương thực, rau quả, chăn
nuôi, thủy sản hàng hoá. Phát triển công nghiệp chế biến, cơ khí phục vụ nông
nghiệp, các ngành, nghề tiểu, thủ công nghiệp và các dịch vụ. Triển khai xây dựng
các cụm công nghiệp sử dụng khí Tây Nam. Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, tăng
tỷ trọng lao động công nghiệp, dịch vụ.
12
Hoàn chỉnh mạng lưới đường bộ và mạng giao thông thủy. Nâng cấp và mở
rộng quốc lộ 1A, mở thêm một số tuyến trục để phát triển giao thông phía Tây Nam.
Nâng cấp các quốc lộ đến các tỉnh lỵ. Xây dựng cầu qua sông Hậu và có đủ cầu trên
các tuyến này. Phát triển mạng đường liên huyện và giao thông nông thôn, xây cầu
kiên cố thay "cầu khỉ". Hoàn chỉnh các cảng sông, nâng cấp các sân bay. Quy hoạch
và xây dựng khu dân cư, kết cấu hạ tầng phù hợp với điều kiện chống lũ hàng năm
và ngăn mặn. Tiếp tục thực hiện các định hướng phát triển vùng của Chiến lược 10
năm 2001 - 2010 và các nghị quyết của Bộ Chính trị khoá IX về phát triển các
vùng, Văn kiện Đại hội X nhấn mạnh:
Thứ nhất, xây dựng các chính sách thích hợp tạo điều kiện cho tất cả các
vùng trong cả nước phát triển nhanh hơn trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh, hình
thành cơ cấu kinh tế hợp lý mỗi vùng và liên vùng; đồng thời, tạo ra sự liên kết giữa
các vùng nhằm đem lại hiệu quả cao, phát triển nhanh và ổn định, có sức cạnh
tranh; khắc phục tình trạng chia cắt, khép kín theo địa giới hành chính.
Thứ hai, tiếp tục xây dựng ba vùng kinh tế trọng điểm thành ba trung tâm
công nghiệp lớn có công nghệ cao, trung tâm tài chính, ngân hàng, viễn thông, đào
tạo và y tế chất lượng cao, trung tâm dịch vụ vận tải và giao thương quốc tế.
1.1.2. Cơ cấu kinh tế vùng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng
Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm cơ cấu kinh tế. Theo quan
điểm duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống, có thể hiểu cơ cấu kinh tế là một
tổng thể hợp thành bởi nhiều yếu tố của nền kinh tế quốc dân; giữa chúng có những
mối liên hệ hữu cơ, tương tác qua lại cả về số lượng và chất lượng, trong những

tố cấu thành cơ cấu kinh tế là không đồng đều.
Sự thay đổi cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp
với môi trường phát triển gọi là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nội dung của chuyển
dịch cơ cấu kinh tế là cải tạo cơ cấu cũ lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ
cấu mới tiên tiến, hoàn thiện và bổ xung cơ cấu cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành một
cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn. Như vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế về thực
chất là sự điều chỉnh cơ cấu trên 3 mặt biểu hiện của cơ cấu kinh tế nhằm hướng sự
phát triển của toàn bộ nền kinh tế theo các mục tiêu kinh tế - xã hội đã xác định cho
từng thới kỳ phát triển. Về mặt lý thuyết, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một
quốc gia vừa là tiêu chí đánh giá chất lựong tăng trưởng kinh tế vừa phản ánh bản
chất của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Xu thế phát triển chung của cơ cấu kinh tế thế giới hiện nay là tỷ trọng các
sản phẩm ngành dịch vụ gia tăng trong khi tỷ trọng các sản phẩm nông nghiệp và
công nghiệp giảm dần. Sự gia tăng tỷ trọng đóng góp của ngành dịch vụ, một ngành
được coi là thị trừong chính của các sản phẩm công nghệ cao, đựoc coi là hệ quả
của sự bùng nổ trong lĩnh vực công nghệ thông tin từ những năm 80 của thế kỷ
trước. Trong các nền kinh tế hiện đại, các hoạt động dịch vụ thừong đóng góp phần
lớn trong tổng giá trị gia tăng của sản phẩm (đóng gói, phân phối, dịch vụ sau bán
hàng…). Vì thế, các nền kinh tế phát triển thường đặc trưng bởi một tỷ trọng đóng
góp lớn của ngành dịch vụ.
Nền kinh tế Việt Nam kể từ khi đổi mới đã đạt được những thành tựu đáng
kể, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, nhưng cơ cấu kinh tế còn xa mới đạt được
trình độ của các nước phát triển. Một trong những mục tiêu trung và dài hạn của nền
kinh tế Việt Nam là dịch chuyển nền kinh tế hướng tới công nghiệp hóa, hiện đại
hóa được đặc trưng bởi tỹ lệ hàm lượng công nghệ cao, chất xám trong sản phẩm
lớn, có giá trị gia tăng cao, được thể hiện bởi tỷ trọng các sản phẩm dịch vụ và công
nghiệp cao.
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và những thành tựu kỳ diệu của
công nghệ thông tin đã tạo điều kiện cho những nước kém và đang phát triển như
Việt Nam có thể tìm thấy cơ hội của mình nhờ vào việc tạo điều kiện và môi trường

trình phát triển là một vấn đề hết sức quan trọng bởi nó có thệ tạo ra những động
lực mới thúc đẩy quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế có thể tạo ra những tiền đề cho sự phát
triển và hoàn thiện các loại thị trường của các yếu tố sản xuất và chính sự hoàn
thiện, phát triển các loại thị trường này sẽ thúc đẩy quá trình tăng trưởng và phát
triển kinh tế và quá đó lại làm sâu sắc thêm quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Các thị trường như: thị trường lao động, thị trường tài chính, khoa học công nghệ
với các yếu tố như lao động, vốn, tiến bộ cong nghệ có sự liên hệ chặt chẽ với quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Không thể có được một chiến lược chuyển dịch cơ
cấu kinh tế hiệu quả nếu không có các điều kiện hỗ trợ cần thiết về các nguồn lực
tài chính, công nghệ và con người…Việc phát triển thị trường lao động cả về số
lượng và chất lượng là yếu tố không thể thiếu được cho cả quá trình tăng trưởng và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế; không có sự phát triển của nguồn nhân lực thì quá trình
tăng trưởng và phát triển không thể bền vững. Tương tự, việc thiếu vắng một thị
15
trường tài chính sẽ không thể tạo ra một sự di chuyển vốn hiệu quả giữa các
ngành…
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế có mối quan hệ mật thiết với các nguồn
lực của nền kinh tế. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý cũng sẽ góp phần nâng
cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực này và do đó sẽ thúc đẩy tăng trưởng và phát
triển kinh tế. Đồng thời việc phân bổ các nguồn lực của nền kinh tế một cách hợp lý
sẽ tác động đến hiệu quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng có lợi
nhất để có được một cơ cấu kinh tế phù hợp với mục tiêu trong từng thời kỳ phát
triển.
1.1.3. Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế với chuyển dịch cơ cấu đầu vào
1.1.3.1. Mối quan hệ giữa mô thức đầu tư và chuyển dịch cơ cấu
Trước hết, đầu tư là cốt yếu cho phát triển kinh tế và tăng trưởng kinh tế bởi
nó là kênh chính cho thay đổi công nghệ và gia tăng năng suất. Nó cũng đóng vai
trò cốt lõi trong phát triển kết cấu hạ tầng và xây dựng của các trung tâm đô thị nơi
công nghiệp và dịch vụ tập trung cao. Cùng với các yếu tố khác, tích lũy vốn cũng

chính và ngành dịch vụ hướng về kinh doanh. Ví dụ: ở các nước phát triển như Hoa
Kỳ, Nhật Bản, dịch vụ chiếm trên 60% sản lượng, đa số đầu tư hướng vào ngành
dịch vụ. Số liệu Hàn Quốc cho thấy, qua thời gian, đầu tư của nền kinh tế nước này
chuyển từ ngành sơ cấp như nông nghiệp, sang ngành công nghiệp và các hoạt động
kinh tế co giá trị gia tăng cao hơn. Tỷ trọng vốn đầu tư vào nông nghiệp giảm từ
14% trong tổng vốn cố định gộp năm 1972 xuống còn 2% vào năm 2003, trong khi
tỷ lệ của vốn cho công nghiệp tăng từ 16% năm 1970 lên 24% năm 2003. Tỷ lệ của
ngành dịch vụ tương đối ổn định qua từng ấy năm. Tuy nhiên, cần ghi chú rằng từ
đầu những năm 1970, các trung gian tài chính, bất động sản và dịch vụ kinh doanh
là các lĩnh vực có tỷ lệ đầu tư đáng kể. Những điều này cho thấy tầm quan trọng của
phát triển cả dịch vụ kinh doanh và tài chính không chỉ ở giai đoạn cao của phát
triển mà ngay từ lúc bắt đầu của quá trình tăng trưởng bền vững.
1.2.3 Việc làm, năng suất và chuyển dịch cơ cấu
Đối với nền kinh tế nó chung, tăng trưởng năng suất lao động đến từ tiến bộ
công nghệ và bởi di chuyển nguồn lực từ ngành có năng suất thấp sang ngành có
năng suất cao. Như đề cập ở trên, dạng tăng trưởng năng suất thứ hai rất quan trọng
đối với các nước đang phát triển. Việc giới thiệu công nghệ mới và dịch chuyển cơ
cấu của nền kinh tế có thể tạo ra thất nghiệp nều sản lượng không tăng (vì, theo
định nghĩa, ngành có năng suất cao hơn dùng ít lao động trên đơn vị đầu ra hơn). Vì
thế, ngành có năng suất cao cần phải tăng trưởng sao đó để đáp ứng quá trình thay
đổi cơ cấu nếu mong đợi rằng công việc tốt hơn được tạo ra cho tất cả công nhân và
không hề có thất nghiệp.
Theo số liệu của Maddison (2001), quá trình tăng trưởng ở các nước phát
triển cũng đã tạo ra thay đổi ngoạn mục trong cơ cấu lao động, bao gồm việc dịch
chuyển từ khu vực sơ cấp sang công nghiệp và sau đó, sang dịch vụ. Tuy nhiên,
những dịch chuyển lao động này xảy ra chậm hơn so với thay đổi cơ cấu trong sản
lượng vì năng suất lao động trong nông nghiệp và các ngành sơ cấp khác có xu
hướng tăng trưởng chậm hơn so với trong ngành công nghiệp, đặc biệt ở giai đoạn
đầu của sự phát triển.
Ở những nước không có thặng dư lao động và khi ngành nông nghiệp tiếp

trước hết vào nguồn nhân lực hiện hữu cả về số lượng và chất lượng.
Một cơ cấu kinh tế hợp lý khi nó có thể khai thác hiệu quả nhất mọi nguồn
lực và lợi thế của đất nước trong đó có nguồn lực về lao động. Chính vì vậy, cơ cấu
của nguồn lao động có ảnh hưởng rất lớn tới việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế của đất nước trong từng giai đoạn nhất định. Sự tác động của nhân tố này
lên quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế được xem xét trên các mặt
chủ yếu sau:
- Số lượng lao động, khả năng, kỹ năng, chất lượng của nguồn lao động là
những cơ sở quan trọng để hoạch định chiến lược phát triển các ngành kinh tế trong
từng giai đoạn, phù hợp với mục tiêu của từng thời kỳ. Nguồn lao động có chất
lượng cao, có khả năng tiếp thu khoa học công nghệ mới là những tiền đề quan
trọng để xây dựng kế hoạch phát triển những ngành công nghiệp kỹ thuật cao và
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các ngành đang hoạt động, thúc đẩy
tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất của các ngành kinh tế quốc dân.
- Qui mô, kết cấu nguồn lao động, thu nhập của người lao động có ảnh
hưởng lớn đến qui mô và cơ cấu của nhu cầu thị trường. Đó là cơ sở để phát triển
các ngành công nghiệp và dịch vụ phục vụ tiêu dùng.
- Sự phát triển các ngành nghề truyền thống trong công nghiệp cũng như
trong các ngành kinh tế khác thường gắn liền với tập quán, truyền thống, phong tục
của một địa phương, một cộng đồng người. Sự phát triển và chuyển hóa các nghề
này gắn chặt với đội ngũ các nghệ nhân. Điều này có ảnh hưởng lớn tới việc qui
18
hoạch phát triển các ngành nghề truyền thống trong cơ cấu kinh tế của mỗi quốc
gia.
Tất cả các yếu tố trên đều là những căn cứ quan trọng để xây dựng chiến
lược phát triển kinh tế và định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý. Tuy nhiên,
quá trình phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng có những tác động nhất định
làm thay đổi những yếu tố này và qua đó làm chuyển dịch cơ cấu lao động trong
nền kinh tế. Sự phát triển không đồng đều của các ngành kinh tế, các khu vực kinh
tế sẽ tạo ra những lực hút khác nhau đối với nguồn lao động. Do vậy, cùng với quá

- Chuyển dịch cơ cấu lao động phải gắn bó hữu cơ và phục vụ mục tiêu
chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cơ cấu lao động hợp lý là cơ sở vững chắc để chuyển
dịch thành công cơ cấu kinh tế, đãm bảo tăng trửong nhanh và phát triển bền vững.
19
- Chuyển dịch cơ cấu nguồn lao động phải vừa đảm bảo yêu cầu phát triển
của các ngành, các lĩnh vực (cơ cấu ngành nghề), yêu cầu lao động kỹ thuật (cơ cấu
trình độ), tạo điều kiện phân bổ và sử dụng lao động hợp lý.
- Chuyển dịch cơ cấu lao động phải nhằm nâng cao chất lượng lao động, chất
lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
hiệu quả…
1.1.3.3. Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế với trình độ khoa học –
công nghệ
Khoa học công nghệ hiện nay đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tạo
nên những tác động to lớn cho sự phát triển, đúng như dự báo của C.Mác cách đây
gần 1,5 thế kỷ. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ những năm cuối thế kỷ XX,
đầu thế kỷ XXI đã và đang làm cho thế giới có những biến đổi khó lường. Tiến bộ
khoa học công nghệ không chỉ tạo ra những khả năng sản xuất mới, đẩy nhanh tốc
độ phát triển ở một số ngành, tăng nhanh tỷ trọng của chúng trong toàn bộ nền kinh
tế, tạo ra những nhu cầu mới, đòi hỏi sự xuất hiện của một số ngành công nghiệp
mới, công nghệ hiện đại…Điều này đang mở ra cơ hội cho nhiều nước tái cấu trúc
lại nền kinh tế theo hướng có lợi nhất, xây dựng lại một cơ cấu kinh tế mới nhằm có
thể phát huy được những lợi thế mới do những thành tựu của cuộc cách mạng khoa
học công nghệ tạo ra. Nói một cách khác, khoa học – tri thức – công nghệ chính là
những yếu tố quyết định sự phồn vinh của một quốc gia, dân tộc. Ngày nay, trên thế
giới không phải những quốc gia chiếm giữ nhiều đất đai, khoáng sản mà chính là
những nước chiếm giữ nhiều tri thức mới trở thành các quốc gia phát triển hàng
đầu. Quyền lực về công nghệ quyết định vị trí thứ bậc phát triển của các quốc gia.
Trong điều kiện mở cửa và hội nhập, tiến bộ khoa học công nghệ cho phép
tạo ra những sản phẩm mới, chất lượng cao, chi phí thấp do vậy sẽ có sức cạnh
tranh cao trên thị trường trong nước và thế giới. Sự chuyển giao công nghệ trong

công nghệ cao trong các vùng kinh tế trọng điểm gồm 21 tỉnh thành như Hà Nội, Tp
Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thừa Thiên - Huế, Bà Rịa – Vũng Tàu…
đây là những tỉnh nắm giữ hầu hết tiềm lực về khoa học công nghệ. Tuy nhiên, quá
trình phát triển khoa học công nghệ ở Việt Nam hiện nay chưa phát huy tác dụng
đối với quá trình tăng trưởng và phát triển, hiệu quả của khoa học và công nghệ đối
với phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH, phát
triển các ngành công nghệ cao… là chưa nhiều thậm chí còn nhiều hạn chế. Có rất
nhiều nguyên nhân, có thể kể đến một số nguyên nhân cơ bản sau:
- Ở Việt Nam hiện nay đang chú trọng đầu tư phát triển nghiên cứu lý thuyết
(R) và R & D. Đây là các hình thức nghiên cứu mà kết quả của chúng chỉ là lý
thuyết và “tiền công nghệ”, tức là chỉ có thể gián tiếp phục vụ sản xuất. Đây cũng là
hai hình thức nghiên cứu đòi hỏi phải tập trung nhiều kinh phí và nhiều nhà khoa
học có tài. Việt Nam đều chưa có đủ tiềm lực đối với hai yếu tố này. Để thúc đẩy
sản xuất, đối với các nước nghèo và đang phát triển như Việt Nam, hình thức
nghiên cứu khoa học cần được chú trọng nhất phải là nghiên cứu sản xuất (R&P).
- Chưa có sự gắn kết giữa cung và cầu về công nghệ. Ở Việt Nam chủ thể
của công nghệ thường được coi là các viện, các trường chứ không phải là các doanh
nghiệp. Chính vì thế, loại hình R&P mà kết quả được dùng trực tiếp phục vụ sản
xuất và phù hợp với điều kiện Việt Nam ít được chú trọng và không được coi là
nghiên cứu khoa học (chỉ được coi là sáng kiến cải tiến kỹ thuật…).
- Nguồn lực dành cho phát triển khoa học công nghệ còn thấp (2% tổng chi
ngân sách nhà nước)
- Việc chuyển giao công nghệ trong quá trình đầu tư sản xuất còn nhiều hạn
chế do trình độ thẩm định công nghệ chưa cao…
Những lý do trên phần nào lý giải việc chúng ta rất chú trọng đến phát triển ,
nhưng khoa học công nghệ Việt Nam vẫn chaư thực sự là động lực trực tiếp của sự
phát triển kinh tế đất nước.
Rõ ràng là chỉ có phát triển khoa học, đổi mới công nghệ mới có thể làm cho
một nước phát triển bứt phá và bền vững. Với nguồn lực còn hạn hẹp như hiện nay,
21

nghiệp Việt Nam có mức giá cạnh tranh được với hàng hoá tương tự của các nước
khác. Vì thế, có thể khẳng định, đồng thời với việc mở rộng không gian thương mại,
mở rộng thị trường xuất khẩu, mức thuế nhập khẩu thấp cũng sẽ giúp doanh nghiệp
có cơ hội thúc đẩy sự xâm nhập hàng hoá của mình vào thị trường các nước thành
viên WTO.
Ngoài ra, doanh nghiệp Việt Nam có thể tận dụng cơ hội từ những quy định
của WTO về ưu đãi cho các nước đang phát triển để tăng lượng xuất khẩu, chẳng
hạn, các mặt hàng sơ chế khi xuất khẩu sang các nước phát triển sẽ được hưởng
mức thuế đánh vào hàng nhập khẩu thấp, hoặc không có thuế, hoặc hưởng chế độ
của hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) Khi tham gia WTO, doanh nghiệp
22
Việt Nam cũng được hưởng lợi từ quy chế miễn trừ quy định cấm trợ cấp xuất khẩu
đối với các nước đang phát triển có thu nhập dưới 1.000 USD/người/năm.
c. Tạo cơ hội sản xuất và xuất khẩu cho các doanh nghiệp thuộc các ngành mà Việt
Nam có ưu thế cạnh tranh:
Doanh nghiệp Việt Nam được hưởng cơ hội này từ hai bình diện:
+ Một là do những quy định của WTO.
+ Hai là do ưu thế cạnh tranh về giá cả, chi phí đem lại.
- Ðối với những cơ hội do quy định của WTO đem lại:
Hàng nông sản:
Vốn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của các nước đang phát triển, nơi mà
công nghiệp chế biến chưa phát triển, trình độ chế biến thấp. Ở những nước này, tỷ
trọng hàng nông sản xuất khẩu còn chiếm ở mức cao, do đó, nếu bị đánh thuế cao,
số lượng xuất khẩu sẽ không được nhiều, chắc chắn ảnh hưởng đến tổng sản lượng
xuất khẩu, làm giảm doanh thu xuất khẩu. Nhưng khi vào WTO, các nước đang
phát triển, trong đó có Việt Nam, sẽ được hưởng những thành quả nhờ những vòng
đàm phán đa phương trước đó của WTO về nông nghiệp. Chẳng hạn, tại Vòng đàm
phán Doha, các nước thành viên WTO cam kết đàm phán toàn diện về tất cả vấn đề
của Hiệp định nông nghiệp, bao gồm việc tăng cường tiếp cận thị trường (mở rộng
hạn ngạch thuế quan và giảm leo thang thuế quan đối với sản phẩm chế biến), giảm

Khi tham gia vào WTO, doanh nghiệp Việt Nam sẽ tham gia vào sự phân
công lao động, sản xuất trong một thị trường mang tính toàn cầu. Doanh nghiệp
Việt Nam sẽ có ưu thế do giá cả rẻ, chi phí thấp (do lương nhân công thấp). Chẳng
hạn, doanh nghiệp Việt Nam sẽ có nhiều ưu thế về các mặt hàng sử dụng tay nghề
truyền thống, sử dụng lao động rẻ (ví dụ lao động nông nhàn, lao động học vấn thấp
nên lương công nhân thấp), nguyên liệu sẵn có trong nước như hàng mây tre, thủ
công mỹ nghệ, đồ gỗ ; hoặc các mặt hàng tận dụng được ưu đãi của thiên nhiên
(mặt nước, biển, sông, hồ, ao, đầm để nuôi thuỷ hải sản ); khí hậu nhiệt đới cho
phép trồng được những loại cây cà phê, hạt tiêu, cao su, thanh long, dừa ; hoặc các
mặt hàng mang tính truyền thống, là đặc sản của địa phương, vùng miền (phở, mỳ
tôm, nước chấm, gia vị, khô mực, khô cá ). Một số mặt hàng tuy sử dụng nguyên
liệu nhập khẩu như dệt may, da giày song cũng có thể tận dụng ưu thế chi phí lao
động rẻ, tiền lương thấp. Ðồng thời, đây cũng là những mặt hàng mà đến nay nhiều
nước phát triển không tập trung sản xuất nữa
1.2.1.2. Hưởng lợi từ các chính sách cải cách trong nước
a. Nhờ việc Việt Nam tham gia vào WTO, thực thi chính sách mở cửa thị
trường, tự do hoá thương mại, nền kinh tế trong nước sẽ phải cải cách, mở cửa, tái
cơ cấu. Nền hành chính sẽ được cải cách nhằm đáp ứng các yêu cầu công khai,
minh bạch, dễ dự đoán của “luật chơi quốc tế", bộ máy quản lý hành chính nhà
nước sẽ trở nên gần dân hơn, trở thành một nền hành chính phục vụ dân, phục vụ
doanh nghiệp, làm cho môi trường kinh doanh thông thoáng, tạo thuận lợi tối đa
cho doanh nghiệp, đồng thời giảm thiểu các chi phí tốn kém của doanh nghiệp trong
quá trình gia nhập, tiếp cận và tham gia thị trường.
b. Một khi các cam kết khi gia nhập WTO được thực hiện, một mặt quá trình
mở cửa, tự do hoá, thuận lợi hoá thương mại, đầu tư minh bạch hoá chính sách sẽ
dần đáp ứng yêu cầu của luật chơi quốc tế, mặt khác tạo điều kiện cho chúng ta bổ
sung những nguồn lực mà trong nước còn thiếu, còn yếu như vốn, công nghệ, kỹ
năng quản lý. Các nhà sản xuất, kinh doanh trong nước sẽ được đặt trong môi
trường cạnh tranh, năng động hơn; tiếp cận với công nghệ, trình độ, chất lượng
quốc tế.

công lao động toàn cầu. Trong sự giao lưu và phân công, phân công lại mang tính
thị tưường như vậy, tất yếu thị trường trong nước được tiếp nhận những yếu tố tiên
tiến, vượt trội về khoa học công nghệ, khoa học quản lý, tiếp thị, đồng thời nguồn
nhân lực trong nước được đào tạo, được cọ xát, học hỏi tiếp thu những thành quả,
tinh hoa của các nền kinh tế phát triển hơn.
Trực tiếp hơn, thông qua quá trình đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài (khi
họ đem theo vốn, đem theo bí quyết, công nghệ sản xuất mới, phương thức tổ chức
các kênh phân phối, tiếp thị, cách thức xây dựng thương hiệu, quảng bá nhãn hiệu
hàng hoá, sản phẩm vào Việt Nam), các doanh nghiệp trong nước nói chung và
đội ngũ lãnh đạo, quản lý, nhân viên nói riêng có thể học hỏi, rút tỉa, mô phỏng các
công nghệ sản xuất, dịch vụ của nước ngoài; đồng thời rèn luyện, học hỏi được kỹ
năng, kỹ xảo, bí quyết về quản trị doanh nghiệp, về tiếp thị, xây dựng và quảng bá
thương hiệu
1.2.2. Khó khăn và thách thức
1.2.2.1. Nguy cơ bị mất thị phần, mất thị trường
25
Việc gia nhập WTO không chỉ đem lại thuận lợi, cơ hội cho các doanh
nghiệp Việt Nam mà còn đưa lại những thách thức, khó khăn rất lớn đối với các
doanh nghiệp. Những cơ hội, những điều kiện có thể đem lại thuận lợi cho các
doanh nghiệp Việt Nam thì ngược lại cũng có thể đem lại những cơ hội, điều kiện
cho các doanh nghiệp nước ngoài, từ đó tạo ra những khó khăn, thách thức đối với
các doanh nghiệp Việt Nam. Cụ thể:
Thứ nhất, khi Việt Nam gia nhập WTO, doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội để
thúc đẩy bán hàng, tăng doanh số xuất khẩu vào thị trường các nước thành viên
WTO: nhờ tư cách thành viên của WTO, thị trường xuất khẩu được mở rộng, không
gian thương mại được mở rộng. Ngược lại, khi Việt Nam gia nhập WTO, đương
nhiên các thành viên WTO cũng có thêm một thị trường mới và các thành viên này
cũng có cơ hội thúc đẩy bán hàng, xuất khẩu hàng hoá của họ vào Việt Nam.
Thứ hai, khi gia nhập WTO, việc đầu tiên Việt Nam (cũng như bất kỳ quốc
gia hay vùng lãnh thổ nào muốn gia nhập WTO) phải làm chính là đàm phán với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status