Thực trạng và Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập - Pdf 11

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính tất yếu
Ngành thủy sản là một ngành kinh tế quan trọng đóng vai trò thiết yếu trong việc
cung cấp thực phẩm cho con người. Đối với Việt Nam đây được coi là ngành kinh tế
chiến lược của đất nước, ngành đã có nhiều đóng góp to lớn trong lĩnh vực xuất khẩu,
giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động và góp phần đáng kể trong việc tăng
thêm nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia. Đặc biệt từ khi Việt Nam gia nhập WTO để đảm
bảo cho ngành thủy sản hội nhập với nền kinh tế thế giới thì Đảng và Nhà Nước đã có
chương trình, chính sách hỗ trợ lớn cho việc chuyển đổi, phát triển ngành thủy sản.
Ngành đã có nhiều chuyển biến tích cực và đạt được nhiều thành tựu. Đến nay trung
bình mỗi năm ngành thủy sản đóng góp khoảng 18% trong tổng kim ngạch xuất khẩu
của đất nước và là một trong những ngành có kim ngạch xuất khẩu cao nhất. Với tốc độ
tăng trưởng ổn định, cơ cấu mặt hàng đa dạng, chất lượng ngày càng được nâng cao,
quy mô không ngừng mở rộng ngành thủy sản đã và đang khẳng định vị thế của mình
trong nền kinh tế quốc dân. Trong điều kiện tự do hóa thương mại đang diễn ra mạnh
mẽ thì Đảng và Nhà Nước chú trọng phát triển ngành thủy sản là điều tất yếu.
Mặt hàng thủy sản của Việt Nam đã xuất hiện trên 160 quốc gia, các sản phẩm thủy
sản của Việt Nam đang được ưa chuộng trên thị trường thế giới. Sự kiện Việt Nam
chính thức là thành viên của WTO đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng thị
trường xuất khẩu thủy sản của Việt Nam ra thế giới, đồng thời kèm theo những khó
khăn mà ngành thủy sản Việt Nam phải đối mặt trong quá trình hội nhập kinh tế. Đứng
trước những thời cơ và thách thức đó, vấn đề nâng cao khả năng cạnh Tranh hàng thủy
sản của Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới, mà cụ thể là nâng cao
chất lượng các mặt hàng thủy sản, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm là điều rất quan
trọng. Vì vậy em đã chọn đề tài “Thực trạng và Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu thủy
sản của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập” nhằm nghiên cứu hoạt động xuất khẩu thủy
sản của Việt Nam, tìm ra những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân gây ra, từ đó đưa ra
giải pháp hữu ích nhằm khắc phục những khó khăn, thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng thủy
sản, thực hiện phát triển thủy sản theo hướng bền vững trong bối cảnh hội nhập Kinh tế
quốc tế.
Trong quá trình nghiên cứu để tài em đã nhận được sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình

- Chương 3 : Định hướng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu thủy sản của Việt
Nam trong thời kỳ hội nhập
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
2
WTO: “Word trade organization”- Tổ chức thương mại thế giới
CNH: Công nghiệp hóa
HĐH: Hiện đại hóa
GDP: “Gross Domestic Product”-Tổng sản phẩm quốc nội
FAO: Tổ chức lương thực và nông nghiệp thế giới
HACCP: “Hazard Analysis and Critical Control Points”- Điểm kiểm soát trọng yếu và
phân tích mối nguy"
VJEPA: hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản
BNN&PTNT: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
WWF:Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên
DOC:
ICCAT: Ủy ban quốc tế về bảo tồn cá Ngừ vây xanh Đại Tây Dương
BRC: Hiệp hội Bán lẻ Anh
VASEP: Hiệp hội chế biến thủy sản Việt Nam
IUU: Quy định về nguồn gốc xuất xứ của EU
3
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM
1.1 Quá trình phát triển ngành thủy sản
Nghề cá Việt Nam đã ra đời từ rất sớm nhưng hoạt động nghề cá chỉ được coi như
một nghề phụ trong sản xuất nông nghiệp. Đến trước năm 1950, nghề cá vẫn mang đậm
dấu ấn của một loại hình hoạt động kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc, trình độ sản xuất còn
lạc hậu, mang tính chất thủ công.
Từ sau những năm 1950, đánh giá được vị trí quan trọng và sự đóng góp mà nghề cá
có thể mang lại cho nền kinh tế quốc dân, cùng với quá trình khôi phục và phát triển
kinh tế ở miền Bắc, Đảng và Nhà nước ta đã bắt đầu quan tâm phát triển nghề cá đồng

sản phẩm, đánh giá kết quả theo khối lượng hàng hoá, không chú trọng giá trị sản phẩm.
Điều này đã làm giảm động lực thúc đẩy sản xuất thủy sản làm cho kinh tế thủy sản sa
sút nghiêm trọng vào cuối những năm 1970.
1.1.3. Giai đoạn 1981 đến nay
Giai đoạn này được coi là thời kỳ tích lỹ và xây dưng. Năm 1981, Bộ Hải sản
được tổ chức lại thành Bộ Thủy sản, ngành Thủy sản bước vào giai đoạn phát triển toàn
diện cả về khai thác, nuôi trồng, hậu cần dịch vụ, chế biến và xuất khẩu, đẩy mạnh
nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ KHCN vào sản xuất, mở rộng hợp tác quốc tế để giữ
vững nhịp độ tăng trưởng. Trước những khó khăn, thách thức sau thời kỳ sa sút, sự ra
đời của Công ty xuất nhập khẩu thuỷ sản Seaprdex Việt Nam, được Nhà nước cho phép
áp dụng thử nghiệm cơ chế “tự cân đối, tự trạng trải”, mà thực chất là chú trọng nâng
cao giá trị của sản phẩm làm ra nhằm tạo nguồn đầu tư để tái sản xuất mở rộng, đã tạo
nguồn động lực mới cho sự phát triển. Ngành thuỷ sản có thể được coi là một ngành đi
tiên phong trong quá trình đổi mới, chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường theo định
hướng XHCN ở nước ta. Việc áp dụng thành công cơ chế mới, gắn sản xuất với thị
trường đã tạo ra bước ngoặt quyết định cho sự phát triển của kinh tế thuỷ sản, mở
đường cho sự tăng trưởng liên tục của ngành trong suốt hơn 27 năm qua.
Qua thành công bước đầu của cơ chế mới, năm 1993, Hội nghị BCH Trung ương
Đảng lần thứ 5 khoá VII đã xác định xây dựng thuỷ sản thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Phát huy các nguồn lực, đổi mới để phát triển, trong xu thế mở cửa và hội nhập đất
nước, ngành Thủy sản luôn coi xuất khẩu là động lực và ưu tiên đầu tư cho lĩnh vực
này. Thế mạnh của nghề cá nhân dân được phát triển mạnh qua các mô hình kinh tế
ngoài quốc doanh, thu hút các thành phần kinh tế đầu tư để phát triển. Việc ngành thuỷ
5
sản chú trọng đầu tư ngày một nhiều hơn và đúng hướng đã hình thành tiền đề quan
trọng cho sự phát triển kinh tế thuỷ sản, tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất
kinh doanh, nâng cao năng lực, mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh, tạo ra nhiều việc
làm và tăng thu nhập cho lao động nghề cá cả nước, tạo nguồn thu lớn cho ngân sách
Nhà nước.
Trong chiến lược phát triển của ngành, các lĩnh vực khai thác và nuôi trồng thuỷ

từng bước đáp ứng những đòi hỏi cao nhất về lĩnh vực này của các thị trường lớn, nhờ
đó sản phẩm thủy sản của Việt Nam đã tạo được uy tín và đứng vững trên các thị trường
thuỷ sản lớn nhất trên thế giới. Từ các giải pháp đúng đắn đó, trong những năm cuối thế
kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, ngành thuỷ sản đã thu được những kết quả quan trọng. Tổng sản
lượng thủy sản đã lần lượt vượt qua ngưỡng 1 triệu tấn vào năm 1990, đứng vào hàng
ngũ những nước có sản lượng khai thác hải sản trên 1 triệu tấn kể từ năm 1997, đạt 2
triệu tấn vào năm 2000, 3 triệu tấn vào năm 2004 và qua mốc 4 triệu tấn vào năm 2007.
Thực hiện đường lối CNH, HĐH, ngành thủy sản đã triển khai có hiệu quả các
Chương trình mục tiêu : Chương trình phát triển nuôi trồng thủy sản, Chương trình phát
6
triển xuất khẩu thủy sản và Chủ trương phát triển khai thác xa bờ và ổn định khai thác
vùng ven bờ. Cơ cấu sản phẩm của kinh tế thuỷ sản được thay đổi mạnh mẽ theo hướng
tăng tỷ trọng nuôi trồng, tăng tỷ trọng sản phẩm có giá trị cao, đặc biệt là sản phẩm xuất
khẩu. Sự tăng trưởng ổn định của ngành Thủy sản trong giai đoạn này đã giữ vững vị
thế của Việt Nam là một cường quốc thủy sản trên thế giới, đứng thứ 12 về sản lượng
khai thác thủy sản, thứ 7 về giá trị xuất khẩu thủy sản năm 2007 và thứ 3 về nuôi các
loài thủy sản.
1.2 . Vị trí-vai trò của ngành thủy sản trong nền Kinh tế quốc dân
Từ một lĩnh vực sản xuất nhỏ bé, nghèo nàn và lạc hậu, ngành thủy sản đã trở
thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, có tốc độ tăng trưởng cao,
có tỷ trọng trong GDP ngày càng lớn và chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế
quốc dân. Nếu năm 1995 thuỷ sản Việt Nam chiếm 2,9% GDP toàn quốc và 12% GDP
toàn ngành nông, lâm nghiệp thì đến năm 2008 vươn lên chiếm 4% GDP toàn quốc và
21,79% GDP toàn ngành nông, lâm nghiệp). Phát triển thủy sản có vai trò to lớn trong
nền kinh tế nước ta thể hiện ở các mặt:
1.2.1 . Ngành thủy sản cung cấp những sản phẩm, thực phẩm quý cho tiêu dùng
của dân cư và cung cấp nguyên liệu cho phát triển một số ngành khác.
Các kết quả nghiên cứu của các chuyên gia về dinh dưỡng đã khẳng định hầu hết
các loại thủy sản đều là những sản phẩm giàu đạm, dễ tiêu hóa, phù hợp với sinh lý dinh
dưỡng ở mọi lứa tuổi. Càng ngày thủy sản được tin tưởng như một loại thực phẩm ít gây

Nguyên nhân chính là do tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản trong cơ cấu GDP giảm.
8
Biểu đồ 1.1: Cơ cấu của khu vực I, II, III trong GDP thực tế
Đây là xu hướng phù hợp với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Trong
khi tỷ trọng đóng góp của ngành nông, lâm, thủy sản giảm thì tỷ trọng đóng góp vào tăng
trưởng của ngành thủy sản lại tăng lên, trung bình giai đoạn 1995-2008 ngành thuỷ sản
tăng trưởng bình quân 13,62%/năm, cao gấp 1,2 lần so với mức tăng trưởng kinh tế toàn
quốc và cao ngấp 1,4 lần so với mức tăng trưởng của ngành nông, lâm nghiệp (giai đoạn
2000-2008 GDP toàn quốc tăng bình quân 11,6%/năm, nông, lâm nghiệp tăng
9,7%/năm. Đó là kết quả của chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong khu vực nông, lâm, thủy
sản theo hướng tiến bộ để khai thác có hiệu quả thế mạnh mặt nước và nguồn lợi thủy sản
ở nước ta.
1.2.3 . Ngành thủy tham gia vào xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ cho đất nước, góp
phần xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho người dân
Với những tiềm năng và lợi thế sẵn có việc phát triển ngành thủy sản tạo ra
nguồn
hàng xuất khẩu có giá trị góp phần quan trọng trong việc tăng thu ngoại tệ cho đấy
nước. Trong nhiều năm liền, Ngành Thuỷ sản luôn giữ vị trí thứ 3 hoặc thứ 4 trong bảng
danh sách các ngành có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn nhất đất nước. Ngành Thuỷ sản
còn là một trong 10 ngành có kim ngạch xuất khẩu đạt trên một tỷ USD.
Hoạt động xuất khẩu thủy sản phát triển mạnh đã tạo cơ hội công ăn việc làm
cho nhiều cộng đồng nhân dân, đặc biệt ở những vùng nông thôn và vùng ven biển và có
9
vai trò tích cực trong hoạt động xóa đói giảm nghèo, thông qua viêc lập và phát triển các
mô hình nuôi trồng thuỷ sản đến cả vùng sâu, vùng xa. Những năm gần đây, công tác
khuyến ngư đã tập trung vào hoạt động xây dựng các mô hình khai thác và nuôi trồng
thuỷ sản, hướng dẫn người nghèo làm ăn. Hiện tại, mô hình kinh tế hộ gia đình được
đánh giá là đã giải quyết cơ bản công ăn việc làm cho ngư dân ven biển. Bên cạnh đó,
mô hình kinh tế tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân đã góp phần giải quyết việc làm cho
nhiều lao động ở các vùng, nhất là lao động nông nhàn ở các tỉnh Nam Bộ và Trung Bộ.

và 4000 hòn đảo lớn nhỏ tạo thành nhiều
eo vịnh, đầm phá đảm bảo nguồn tài nguyên phong phú. Tiềm năng phát triển nuôi trồng
thủy sản nước ta rất lớn với 1,4 triệu ha mặt nước nội địa, 300.000 ha bãi triều, 400.000 ha
hồ chứa, sông suối, 600.000 ha ao hồ nhỏ ruộng trũng, có thể đưa vào sử dụng để nuôi
trồng thủy sản. Theo Bộ Thủy sản, Việt Nam có trên 2000 loài cá, trong đó có khoảng 100
loài có giá trị kinh tế cao. Tổng trữ lượng hải sản Việt Nam được đánh giá khoảng 4 triệu
tấn trong đó lượng thủy sản ở tầng nổi chiếm 62,7%, tầng đáy chiếm 37,3%, đảm bảo khả
năng khai thác hàng năm khoảng 1,67 triệu/năm. Tình hình cụ thể của các loài cá: Cá tầng
đáy: 856.000 tấn, chiếm 51,3%; Cá nổi nhỏ: 694.000 tấn, chiếm 41,5%; Cá nổi đại dương
(chủ yếu là cá ngừ): 120.000 tấn, chiếm 7,2%.
Trong đó, phân bố trữ lượng và khả năng khai thác giữa các vùng như sau: Vịnh
Bắc Bộ: trữ lượng: 681.166 tấn, khả năng khai thác: 271.467 tấn (chiếm 16,3%); Biển
Trung Bộ: trữ lượng: 606.399 tấn, khả năng khai thác 242.560 tấn(chiếm 14,3%); Biển
Đông Nam Bộ: trữ lượng: 2.075.889 tấn, khả năng khai thác: 830.456 tấn (chiếm
49,3%); Biển Tây Nam Bộ: trữ lượng: 506.679 tấn, khả năng khai thác: 202.272 tấn
(chiếm 12,1%).
1.3.2. Hoạt động nuôi trồng thủy sản phát triển ngày càng mạnh
Với lợi thế sẵn có về điều kiện tự nhiên hoạt động nuôi trồng thủy sản của Việt
Nam đã xuất hiện từ rất sớm và phát triển rộng khắp đất nước, từ vùng núi tới miền
biển. Nuôi trồng thủy sản là nguồn chính cung cấp nguyên liệu cho chế biến thủy sản
xuất khẩu. Hoạt nuôi trồng thủy sản ở nước ta mang tính mùa vụ rõ rệt. Từ năm 2000
trở lại đây hoạt động nuôi trồng thủy sản đã có bước phát triển mạnh cả về diện tích
nuôi, phương pháp nuôi, và đối tượng nuôi. Cùng với sự hỗ trợ từ phía Nhà Nước và sự
nỗ lực của ngư dân nhiều phương thức nuôi trồng mới, các kỹ thuật nuôi trồng hiện đại
đã được áp dụng đem lại hiệu quả cao cho người dân. Năm 2000 sản lượng nuôi trồng
11
thủy sản của Việt Nam là 481,800 nghìn tấn với 79,768 nghìn chiếc thuyền, tới năm
2009 sản lượng nuôi trồng tăng 2569 nghìn tấn, số tàu thuyền tăng là 130 nghìn chiếc,
năm 2010 sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng 5,5% so với năm 2009 đạt 2.706,8 nghìn
tấn. Hiện nay, trong nuôi trồng thủy sản đã và đang phát triển nhiều mô hình với các

Đối tượng của ngành thủy sản là các động thực vật sống trong môi trường nước mặt.
Môi trường nước mặt cho sản xuất thủy sản gồm có biển và các mặt nước trong nội địa.
Những sinh vật sống trong môi trường nước với tính cách là đối tượng của ngành thủy
sản có một số đặc điểm sau:
- Các sinh vật thủy sản di chuyển tự do trong môi trường sống, nhất là ở các mặt
nước rộng lớn, chúng có thể di chuyển từ vùng này sang vùng khác không phụ thuộc
vao ranh giới hành chính. Hướng di chuyển của chúng phụ thuộc nhiều vào yếu tố tự
nhiên như: khí hậu, dòng chảy, nguồn thức ăn tự nhiên. Để tái tạo, bảo vệ và khai thác
có hiệu quả các nguồn lợi thủy sản cần phải phân chia ranh giới mặt nước, mặt biển,
vùng biển giữa các vùng, các địa phương đồng thời có sự hợp tác chẽ giữa các vùng, địa
phương trong nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản. Tránh phương pháp khai thác lạc hậu
làm hủy diệt các sinh vật trong nước có thể dẫn tới hủy diệt nguồn thức ăn tự nhiên dẫn
tới thay đổi nơi cư trú của cá, tôm hay hướngdi chuyển của các loài thủy sản khác gây ra
cạn kiệt nguồn lợi thủy sản
- Các loài thủy sản sinh trưởng và phát triển chịu sự tác động nhiều nhân tố như:
thời tiết, khí khậu, dòng chảy, địa hình, thủy văn… vì vậy trong nuôi trồng cần phải tạo
điều kiện thuận lợi để các loài thủy sản sinh trưởng và phát triển cao như: tạo ôxy bằng
quạt sục nước, tạo dòng chảy bằng máy bơm.
- Các sản phẩm thủy sản sau khi thu hoạch do bị tách khỏi môi trường sống nên rất
dễ bị hư hỏng, ươn thối. Để nâng cao chất lượng và tránh tổn thất trong sản xuất đòi hỏi
phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các khâu từ khai thác, nuôi trồng đến chế biến, kinh
doanh tiêu thụ sản phẩm, từ khai thác đến đầu tư tái tạo nguồn lợi, đầu tư cơ sở hạ tầng
dịch vụ một cách đồng bộ.
1.4.2 . Thủy vực là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế
Thủy vực sử dụng vào nuôi trồng đánh bắt thủy sản bao gồm: sông, hồ, ao, mặt
nước, ruộng, cửa sông, biển. Giống như ruộng đất sử dụng vào sản xuất nông nghiệp,
thủy vực là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế của ngành thủy sản. Không có
thủy vực sẽ không có sản xuất thủy sản.
13
Thủy vực được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau của con người như điều hò

biến thủy sản, có nhiệm vụ khai thác nguồn lợi thủy sản và chế biến chúng để cung cấp
sản phẩm cho tiêu dùng và xuất khẩu
1.4.4 . Ngành thủy sản là ngành sản xuất vật chất có tính hỗn hợp mang tinh liên
ngành.
Hầu hết các hoat động nuôi trồng, khai thác, chế biến thủy sản đều đòi hỏi lượng
vốn đầu tư ban đầu rất lớn. Vì vậy để phát triển ngành thủy sản thì nhà Nước phải có
chính sách cho vay, hỗ trợ vốn cho các hộ gia đình theo từng chương trình phát triển
riêng của ngành. Bên cạnh đó hoạt động nuôi trồng và đánh bắt phụ thuộc nhiều vào
điều kiện tự nhiên nhất là điều kiện thủy văn, bão, lũ. Đặc biệt nước ta có đường bờ
biển dài, diễn biến bão, lũ phức tạp, nhiều trận bão lũ gây thiêt hại nặng nề cho nghề
nuôi trồng thủy sản của một vùng hay địa phương nên mức độ rủi ro cao.
1.4.5 . Quy trình sản xuất đơn giản
Quy trình chế biến sản phẩm của các DN khá đơn giản chủ yếu sử dụng lao động
phổ thông, không yêu cầu cao về công nghệ thiết bị hiện đại, máy móc chủ yếu sử
dụng là băng chuyền cấp đông và tủ lạnh, có thể mở rộng từng phần tùy theo nhu cầu.
Quá trình sản xuất được biểu thị qua sơ đồ dưới:
Sơ đồ 1: Quy trình sản xuất ngành thủy sản của Việt Nam tại các DN
1.5 . Các nhân tố tác động tới hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam
1.5.1. Nhân tố tác động thuận lợi
- Đường lối của Đảng và Nhà Nước thông thoáng tạo cơ hội thuận lợi cho các DN ở
các thành phần kinh tế phát triển sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh xuất khẩu ra thị trường
15
Cấp
đông
Xếp
khuôn
Cân
Phân
cỡ
Chế

đánh bắt xa bờ; chương trình đầu tư cho nghiên cứu khoa học và công nghệ để phát triển
ngành thuỷ sản; với sự hỗ trợ toàn diện của Nhà nước, Trung tâm kiểm Tra chất lượng
và vệ sinh thuỷ sản ra đời, trở thành cơ quan có thẩm quyền về kiểm soát vệ sinh an
toàn thực phẩm của ngành, hỗ trợ các DN tiếp cận với thị trường. Mới đây chương trình
chuyển đổi một số vùng trồng lúa sang phối hợp nuôi trồng thuỷ sản đã mở ra khả năng
to lớn cho sự phát triển của ngành thuỷ sản Việt nam.
- Thủy vực và nguồn lợi thủy sản Việt Nam đa dạng, phong phú, chủng loại thủy sản
nuôi trồng với nhiều giống loài, đặc biệt có nhiều loài có giá trị xuất khẩu cao.
- Sự ra đời hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt nam 12/6/1998 là một dấu
ấn tạo điều kiện thuận lợi cho các DN ngành thuỷ sản nắm bắt thông tin, nâng cao khả
năng tiếp cận thị trường, quảng bá giới thiệu sản phẩm Trao đổi kinh nghiệm hỗ trợ lẫn
nhau trong phát triển xuất khẩu vào các thị trường.
- Cùng với sự phát triển của ngành đã hình thành một lớp doanh nhân mới am hiểu
về thị trường, kinh nghiệm quản lý kinh doanh được tích luỹ, họ đã xây dựng được các
mối quan hệ thương mại tốt với các đối tác nhập khẩu, đây là tiền đề để duy trì và phát
triển thị trường.
- Nhiều DN xuất khẩu thuỷ sản đã xây dựng được những tiêu chuẩn quản trị chất
lượng quốc tế: HACCP, GMT, ISO 9000...đây là những tấm giấy thông hành giúp cho các
DN đưa hàng thuỷ sản vào những thị trường khó tính như EU, Nhật Bản, Mỹ.
1.5.2. Nhân tố tác động bất lợi
- Năng lực chế biến thuỷ sản đông lạnh hiện tại được đánh giá là dư thừa so với
nguồn nguyên liệu hiện có. Đây là một trong các nguyên nhân dẫn đến việc Tranh mua
nguyên liệu gay gắt giữa các DN, giá nguyên liệu ngày một bị đẩy lên cao, thêm vào đó,
16
các DN chế biến thuỷ sản phát triển nhanh hơn tốc độ đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản
đã làm giảm tính cạnh Tranh về giá của sản phẩm.
- Cơ sở vật chất phục vụ cho đánh bắt, bảo quả và chế biến thuỷ sản đã được cải
thiện đáng kể nhưng tỷ lệ các cơ sở bảo quản, chế biến thuỷ sản mới đạt ở mức trung
bình và yếu còn chiếm tỷ trọng cao, đây là nhân tố tác động đến chất lượng và vệ sinh
an toàn của hàng thuỷ sản xuất khẩu.

1.6. Dự báo thị trường thủy sản thế giới tới năm 2015
1.6.1. Nhu cầu thuỷ sản dùng làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi:
Tổ chức FAO dự báo tổng nhu cầu thuỷ sản và các sản phẩm thuỷ sản trên thế
giới sẽ tăng gần 50 triệu tấn từ 133 triệu tấn năm 1999/2000 lên 183 triệu tấn vào năm
2015, với tốc độ tăng trưởng bình quân 2,1%/năm, chậm lại chút so với tốc độ tăng
3,1% mỗi năm của 20 năm trước đó. Nhu cầu thuỷ sản dùng làm thực phẩm sẽ chiếm
75% tương đương với 137 triệu tấn. Tiêu thụ thuỷ sản tính theo đầu người trên toàn cầu
sẽ tăng bình quân 0,8% trong giai đoạn đến năm 2015, giảm so với mức 1,5% đã đạt
được trong 20 năm trước. Năm 2010, trung bình mỗi người tiêu thụ 18,4 kg thủy sản
mỗi năm, và dự báo 19,1 kg vào năm 2015, so với 16,1 kg năm 1999/2000. Tiêu thụ cá
và sản phẩm cá bình quân đầu người dự báo sẽ đạt 14,3 kg vào năm 2015, trong khi đó
nhu cầu thuỷ sản có vỏ và các sản phẩm nuôi khác sẽ đạt mức tương ứng 4,8 kg/người.
Trong tổng lượng gia tăng nhu cầu thuỷ sản dùng làm thực phẩm (khoảng 40 triệu tấn),
có 46% mức tăng là do dân số tăng, 54% còn lại là do kinh tế phát triển và các nhân tố
khác. Các nước đang phát triển sẽ dẫn đầu về mức tăng nhu cầu tiêu thụ tính theo đầu
người với mức tăng dự kiến là 1,3% trong khi đó tại các nước phát triển mức tăng nhu
cầu tiêu thụ tính theo đầu người bình quân mỗi năm giảm 0,2%.
Nhu cầu bột cá và dầu cá dự kiến mỗi năm sẽ chỉ tăng khoảng 0,5%/năm trong
giai đoạn 2010 - 2015. Trong khi đó nhu cầu bột cá ở các nước phát triển sẽ tăng 1,6%
mỗi năm, ở các nước đang phát triển sẽ tăng 1,4%/năm sau thời gian này. Khối lượng cá
cần thiết để đáp ứng nhu cầu sản xuất bột cá và dùng cho các mục đích phi thực phẩm
khác sẽ đạt khoảng 45 triệu tấn vào năm 2015.
Tiêu thụ thuỷ sản của các nước đang phát triển tăng với nhịp độ cao hơn là do sự
gia tăng nhanh hơn về dân số và thu nhập. Đối với các nước phát triển những yếu tố hạn
chế nhịp độ tăng sản lượng chính là nhịp độ tăng dân số thấp hơn và mức tiêu thụ thuỷ
sản bình quân đầu người đã ở mức cao. Cùng với sự khác biệt về nhịp độ tăng tiêu thụ
thuỷ sản theo nhóm nước phát triển và đang phát triển là sự thay đổi về cơ cấu tiêu thụ
18
theo khu vực trong giai đoạn dự báo. Trong đó, khu vực Đông Bắc á, ngoại trừ Nhật
Bản, sẽ có nhịp độ tăng tiêu thụ thuỷ sản cao nhất (khoảng 30%/năm); tiếp đến là khu

sẽ giảm từ 30,8% trong năm 1999/2001 xuống 24,5% vào năm 2015. Tương tự, phần
của các loại cá tầng đáy sẽ giảm từ 16,2% xuống 12,7%. Trái lại, phần của cá nước
nước ngọt và cá nước lợ sẽ tăng từ 23,7% trong năm 1999/2001 lên 29,3% vào năm
2015, và phần của các loài giáp xác, thân mềm và chân đầu sẽ tăng từ 20,5% lên 25,6%.
So sánh cung cầu dự kiến cho thấy nhu cầu thuỷ sản và các sản phẩm thuỷ sản sẽ
cao hơn lượng cung tiềm năng. Tổng lượng thuỷ sản thiếu hụt sẽ là 10,9 triệu tấn vào
năm 2015. Tình trạng thiếu hụt này sẽ không xảy ra nếu như có sự cân đối giữa một bên
là giá thuỷ sản tăng, cùng với sự dịch chuyển về nhu cầu tiêu thụ các loại thuỷ sản khác
nhau và một bên là sự dịch chuyển nhu cầu nhu cầu sang các loại thực phẩm giàu
protein thay thế khác.
1.6.3 Triển vọng thương mại thuỷ sản thế giới
Theo dự báo của FAO, thương mại thuỷ sản thế giới đang tăng trưởng rất nhanh
với 38% sản lượng thuỷ sản được giao dịch quốc tế. Kim ngạch xuất khẩu toàn cầu tăng
9,5% vào năm 2006, 7% năm 2007, lên đến con số kỷ lục 92 tỉ USD. Các nước đang
phát triển tiếp tục khẳng định vị trí của mình trong ngành thuỷ sản, chiếm 50% sản
lượng thương mại thuỷ sản toàn cầu, chiếm 27% giá trị, tương đương 25 tỉ USD. Các
nước phát triển chiếm 80% tổng nhập khẩu thuỷ sản toàn cầu. Mức xuất khẩu ròng thuỷ
sản và các sản phẩm thuỷ sản của các nước đang phát triển sẽ đạt 10,3 triệu tấn vào năm
2015, chủ yếu là do nhu cầu nội địa gia tăng. Mỹ La tinh và Caribê sẽ tiếp tục là khu
vực xuất siêu về thuỷ sản lớn nhất, Châu Phi là khu vực nhập siêu về thuỷ sản truyền
thống sẽ trở thành khu vực xuất siêu về thuỷ sản và các sản phẩm thuỷ sản vào năm
2010. Châu Á vẫn là khu vực nhập siêu về thuỷ sản tuy mức nhập siêu sẽ giảm đi do
Trung Quốc - vốn là nước nhập siêu thuỷ sản sẽ lại trở thành nước xuất siêu về thuỷ sản
vào năm 2015, chủ yếu là do sản lượng nuôi tiếp tục mở rộng. Nhập khẩu ròng thuỷ sản
vào châu Á sẽ giảm từ 5,1 triệu tấn năm 1999/2000 xuống 4,8 triệu tấn vào năm 2015.
Trái với xu hướng này, Trung Quốc, dự kiến sẽ là nước nhập ròng với giá tương đối ổn
định, dự kiến sẽ trở thành một nước xuấ khẩu ròng cá vào năm 2015, chủ yếu bởi sản
lượng nuôi thả tăng lên.
Các nước phát triển sẽ giảm lượng nhập siêu thuỷ sản và các sản phẩm thuỷ sản
xuống còn khoảng 10,6 triệu tấn vào năm 2010 và khoảng 10,3 triệu tấn vào năm 2015.

thực phẩm của các thị trường nhập khẩu đưa ra; đặc biệt là những thị trường cao cấp và
khó tính như châu Âu, Nhật, Nga, AusTralia, Mỹ...Dù nhiều khó khăn nhưng năm đầu
hội nhập, tình hình sản xuất của các DN chế biến thuỷ sản xuất khẩu tiếp tục tăng
trưởng khá. Do có nguồn nguyên liệu, thị trường xuất khẩu ổn định và có sự chủ động
hội nhập của các DN nên kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tăng gần 12% so
với năm 2006, đạt 3762 triệu USD, tuy nhiên mức tăng này chưa đạt mức kỳ vọng như
năm đầu tiên gia nhập WTO. Tới năm 2008 khối lượng thủy sản xuất khẩu của cả nước
đạt trên 1930 nghìn tấn, trị giá trên 4509 triệu USD, tăng 33,7% về khối lượng và 19,8%
về giá trị so với năm trước. Mặc dù năm 2008 nền kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn
do khủng khoảng tài chính của Mỹ gây ra nhưng biến động này chưa ảnh hưởng mạnh
tới hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vì vậy mà giá trị xuất khẩu thủy sản vẫn
tăng mạnh, đưa Việt Nam nằm trong tốp 6 nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới.
Sang năm 2009 xuất khẩu thủy sản của cả nước đạt 1216 nghìn tấn trị giá 4250 triệu
USD, giảm 1,6% về lượng và 5,7% về giá trị so với năm 2008, đây là lần đầu tiên kim
ngạch xuất khẩu thủy sản giảm sau 13 năm kể từ năm 1996. Nguyên nhân chính của sự
sụt giảm này là do tác động của khủng khoảng năm 2008, nền kinh tế thế giới suy thoái
làm giảm nhu cầu tiêu thụ mặt hàng này tại các thị trường lớn.
Bảng 2.1: Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam qua các năm.
Tốc dộ tăng trưởng Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Sản lượng xuất
khẩu
29,4% 14% 33,7% -1,6% 11,3%
Giá trị xuất khẩu 22,2% 12,4% 19,8% -5,7% 18,4%
Bước sang năm 2010, nền kinh tế thế giới, nhất là các đối tác lớn của ta như:
Mỹ, EU, Nhật Bản, đang trên đà phục hồi là cơ hội tốt cho mặt hàng thủy sản của ta.
Ngoài ra, hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA) đã chính thức có
hiệu lực, theo đó, từ 1/10/2009, trên 86% hàng nông sản, thủy sản của Việt Nam được
hưởng ưu đãi rất lớn về thuế, trong đó các mặt hàng Tôm đã được giảm thuế xuất nhập
khẩu xuống 1 – 2%. Hơn nữa, sau 3 năm hội nhập và phát triển các mặt hàng thủy sản
Việt Nam đã được một số nước công nhận, đánh giá cao về chất lượng và chiếm được

2007
Năm
2008
Năm
2009
Năm
2010
Trị giá % Trị giá % Trị giá % Trị giá % Trị giá %
Tôm 1460 43,8 1508 40 1620 36 1670 39,4 2106 41,9
Cá Tra,
Basa
730 23,07 979,03 25,97 1453,3 30,6 1342,9 31,6 1440 28,4
Cá Ngừ 117,6 3,5 150,4 4,01 188 3,95 181 4,23 293 5,8
Mặt hàng
khác
989,4 29,63 1125,5 30,02 1488,7 29,5 1057 24,7 1140 23,9
Tổng 3348,3 100 3762,6 100 4509 100 4250 100 5033 100
(Nguồn VASEP)
2.1.2.1. Mặt hàng Tôm:
Tôm là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của thủy sản Việt Nam trong nhiều năm gần đây,
kim ngạch xuất khẩu Tôm luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng giá trị xuất khẩu thủy sản
của Việt Nam (trung bình khoảng 40%). Tính tới năm 2010 xuất khẩu Tôm của Việt Nam
tăng gấp 1,5 lần về khối lượng và giá trị, từ mức 158,117 nghìn tấn, trị giá 1406 triệu USD
năm 2006 lên 241 nghìn tấn và trị giá 2106 triệu USD (năm 2010).
Biểu đồ 2.2: Khối lượng và giá trị xuất khẩu Tôm 2006-2010
(Nguồn: Vasep)
25

Trích đoạn Vùng đồng bằng sông Hồng Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status