Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Việt Nam là một quốc gia ven biển ở Đông Nam . Với bờ biển dài 3260
km và vùng nội thuỷ, lãnh hải rộng lớn, Việt Nam có một vị trí rất thuận lợi cho
việc khai thác và nuôi trồng thuỷ sản. Bên cạnh đó, nguồn lợi thuỷ sản của Việt
Nam rất đa dạng, phong phú và có nhiều loài có giá trị kinh tế cao.
Trong những năm đầu của quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất n-
ớc, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã rất chú trọng đến hoạt động xuất khẩu
nhằm tăng thu ngoại tệ, góp phần xây dựng và phát triển đất nớc. Thuỷ sản là
một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Trong thời gian
qua, sản phẩm thuỷ sản Việt Nam đã có mặt ở nhiều thị trờng trên thế giới nh
EU, Mĩ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc... tuy nhiên số lợng cũng nh kim
ngạch xuất khẩu còn hạn chế, cha tơng xứng với tiềm năng nguồn lợi thuỷ sản
của đất nớc.
Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ
chức Thơng mại thế giới WTO, cơ hội mở rộng thị trờng xuất khẩu đối với sản
phẩm Việt Nam là rất lớn, nhng khó khăn, thách thức cũng rất nhiều. Để thúc
đẩy xuất khẩu thuỷ sản trong thời gian tới, Thuỷ sản Việt Nam không những
cần đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trờng quen thuộc, mà còn cần tìm kiếm
những thị trờng mới. Trong đề tài này, em xin nghiên cứu: Thực trạng và giải
pháp đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản sang thị trờng EU . Em lựa chọn thị tr-
ờng EU vì đây là một thị trờng rộng lớn và khó tính, nếu sản phẩm thuỷ sản
Việt Nam có thể vợt qua những yêu cầu khắt khe của thị trờng này thì cơ hội để
thâm nhập vào các thị trờng khác trên thế giới là rất lớn.
Tuy nhiên do gặp phải những khó khăn về mặt thông tin và thời gian có
hạn, đề tài mới chỉ mang tính chất tổng hợp thông tin, phân tích còn cha đợc sâu
và bài bản, giải pháp đa ra có thể cha thực sự cụ thể và cha mang tính khả thi.
Mong thầy, cô góp ý thêm giúp em hoàn thành tốt đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn !
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá nông thôn.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.3 Mở rộng quan hệ thơng mại quốc tế
Từ đầu những năm 1980, ngành thuỷ sản đã đi đầu trong cả nớc về mở
rộng quan hệ thơng mại sang các khu vực, thị trờng mới trên thế giới. Năm
1996, ngành thuỷ sản chỉ thơng mại với 30 nớc và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Đến năm 2001, quan hệ này đã đợc mở rộng ra 60 nớc và vùng lãnh thổ, năm
2003 là 75 nớc và vùng lãnh thổ.
Đối với các nớc và vùng lãnh thổ có quan hệ thơng mại, ngành thuỷ sản đã
tạo dựng đợc uy tín lớn. Những nớc công nghiệp phát triển nh Mĩ và các nớc
trong khối EU đã chấp nhận làm bạn hàng lớn và thờng xuyên của ngành. Năm
2003 xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam vào 4 thị trờng chính là Mĩ, Nhật Bản, EU
và Trung Quốc chiếm trên 75% tổng giá trị kim ngạch, phần còn lại trải rộng
hơn 60 nớc và vùng lãnh thổ.
2.4 Tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của nhân dân
Ngành thuỷ sản với sự phát triển nhanh của mình đã tạo ra hàng loạt việc
làm và thu hút lợng lao động đông đảo tham gia vào tất cả công đoạn sản xuất,
làm giảm sức ép cho nạn thiếu việc làm trên cả nớc.
Số lao động của ngành thuỷ sản tăng liên tục từ 3.12 triệu ngời(năm 1996)
lên 3.8 triệu ngời năm 2001. Nh vậy mỗi năm tăng thêm hơn 100000 ngời. Tỉ lệ
tăng bình quân số lao động thờng xuyên của ngành thuỷ sản là 2.4%/năm , cao
hơn mức tăng bình quân của cả nớc (2%/năm).
II- Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam vào thị trờng EU
1. Thị trờng EU cơ hội và thách thức
1.1 Cơ hội
Việt Nam đã bình thờng hoá quan hệ ngoại giao với Cộng đồng châu Âu từ
năm 1990. Hiệp định hợp tác EU vào ngày 17-7-1995, tạo cơ hội thúc đẩy sự
phát triển mạnh mẽ mối quan hệ hợp tác giữa các thành viên và cả cộng đồng
trên mọi lĩnh vực. Hiện nay Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ
quốc tế, từ chỗ thuỷ sản Việt Nam không có chỗ đứng trong danh sách các nớc
xuất khẩu thuỷ sản, thì nay Việt Nam luôn có mặt trong top 10 nớc dẫn đầu về
xuất khẩu thuỷ sản thế giới. Cùng với sự tăng trởng chung của hoạt động xuất
khẩu thuỷ sản cả nớc, hoạt đọng xuất khẩu sang thị trờng EU cũng đạt đợc
những kết quả khả quan. Bên cạnh đó, xét về khả năng cạnh tranh của hàng
thuỷ sản Việt Nam trên thị trờng EU ta thấy : hàng thuỷ sản Việt Nam trên thị
trờng Eu có khả năng cạnh tranh với hàng của Thái Lan trên khía cạnh giá, vì
hàng tôm của Việt Nam đa vào EU đợc hởng mức thuế nhập khẩu là 4%, trong
khi đó Thái Lan phải chụi mức thuế là 14%, gấp 3,5 lần Việt Nam.Chính vì mức
thuế nhập khẩu cao đánh vào thuỷ sản Thái Lan ( bắt đầu có hiệu lực từ
7/1999 ) nên khối lợng thuỷ sản của Thái Lan đa vào EU giảm sút rất nhiều ( ví
dụ nh sản lợng tôm của Thái Lan xuất khẩu vào EU đã giảm từ mức 32.866 tấn
năm 1999 xuống còn 5.180 tấn vào năm 2003), do vậy cũng đem lại nhiều cơ
hội cho hàng thuỷ sản Việt Nam.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Thứ t, Việt Nam cũng có những cơ hội khi EU đã đa ra luật mới xuất khẩu
thuỷ sản vào thị trờng EU vào đầu năm 2006. Luật mới về nhập khẩu nông sản
và thuỷ sản vào EU chỉ là sự hợp nhất các quy định và chính sách mmọt cách
hài hoà theo quy chuẩn của liên minh. Các quy chuẩn áp dụng cho liên minh
cũng đợc áp dụng cho từng nớc trong 25 thành viên EU. Luật mới không gây
khó khăn hay giúp đỡ bất kì nớc xuất khẩu nào cũng không phải để hạn chế mặt
hàng thuỷ sản vào liên minh mà nhằm vào mục đích bảo vệ ngời tiêu dùng hiệu
quả hơn.
Phơng châm của luật thực phẩm mới của EU là an toàn từ nông trại đến
bàn ăn. Điều này có nghĩa an toàn vệ sinh phải đợc đảm bảo từ khi bắt đầu quy
trình tạo ra sản phẩm đến bàn ăn của ngời tiêu dùng. Để thực hiện phơng châm
này, EU đuă ra quy định về truy xuất xuất xứ, tức là mọi đầu vào tạo nên sản
phẩm phải có xuất xứ rõ ràng và phải đợc thể hiện trên những chứng từ thuộc
quy trình. Truy xuất xuất xứ nguồn gốc đợc yêu cầu đối với các doanh nghiệp
tới, vấn đề bao gói và mẫu mã sản phẩm sẽ đợc EU rất quan tâm vì đây là một
trong những vấn đề có liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ môi trờng. Tuy nhiên
các doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam lại cha thực sự quan tâm đén vấn đề này,
do vậy khi nó trở thành một yêu cầu bắt buộc đối với hàng thuỷ sản xuất khẩu
vào thị trờng EU thì đây cũng trở thành một trong những thách thức lớn của
Việt Nam.
Cơ hội nhiều, thách thức thì cũng không ít, do vậy để có thể đẩy mạnh
xuất khẩu thuỷ sản vào thị trờng EU thì các Bộ, ngành, các doanh nghiệp, cùng
với cộng đồng ng dân phải có những biện pháp để liên kết nhau lại, tìm ra các
giải pháp để nâng cao sức cạnh tranh, đa hàng thuỷ sản Việt Nam vào thị trờng
EU ngày càng nhiều và thuận lợi hơn.
2. Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam vào thị trờng EU
2.1 Kim ngạch xuất khẩu vào thị trờng EU năm 2001-2006
Trong các năm qua, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang thị tr-
ờng EU ngày càng tăng về cả sản lợng lẫn giá trị, điều đó góp phần giúp cho
ngành thuỷ sản Việt Nam vợt qua nhiều khó khăn khi mà việc xuất khẩu sang
thị trờng Mĩ gặp phải nhiều trở ngại. Kim ngạch xuất khẩu sang thị trờng EU
trong những năm qua thể hiện thông qua bảng số liệu sau :
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bảng 1 : Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang thị trờng EU
2001 - 2006
STT Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006
1
KNXK hàng hoá sang EU
(tỷ USD) 3,002 3,162 3,852 4,971 5,369 6,913
2
KNXK thuỷ sản
( tỷ USD ) 1,778 2,023 2,200 2,397 2,739 3,364
3
sang thị trờng này là rất đáng kinh ngạc. Trong các năm gần đây, chỉ có năm
2002 là kim ngạch giảm hơn 20%, còn từ đó đến nay, kim ngạch này không
những luôn tăng mà còn tăng với tỷ lệ rất cao. Đặc biệt là năm 2004, kim ngạch
xuất khẩu đã tăng tới 91,71% so với năm 2003, năm 2005 tăng 79,03% so với
năm 2004. Đây là những con số rất ấn tợng và một phần nào cũng nói lên khả
năng đáp ứng các điều kiện của thị trờng EU của các sản phẩm thuỷ sản Việt
Nam.
Thứ hai, về vai trò của xuất khẩu thuỷ sản sang thị trờng EU trong tổng
kim ngạch xuất khẩu hàng hoá sang thị trờng này. Hàng thủy sản hiện là mặt
hàng có kim ngạch đứng thứ t trong số các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu vào
thị trờng EU ( gồm : ngành da giày, may mặc, nông sản ). Tỷ trọng xuất khẩu
thủy sản trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá sang thị trờng EU liên tục
tăng trong những năm gần đây. Nếu năm 2001, xuất khẩu thuỷ sản sang EU
mới chỉ chiếm 3,55% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá thì đến năm
2006, con số này đã tăng lên 10,47%. Thuỷ sản đã và đang trở thành một trong
những mặt hàng trọng yếu mà Việt Nam xuất khẩu vào thị trờng EU.
Thứ ba, về kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang EU so với
kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam. Trong những năm qua, thị trờng
EU đã và đang trở thành một thị trờng rất quan trọng trong các thị trờng xuất
khẩu thuỷ sản của Việt Nam. Đặc biệt là trong năm 2006 thì thị trờng EU đã trở
thành thị trờng xuất khẩu thuỷ sản lớn thứ 2 của Việt Nam, vợt qua Mĩ và chỉ
đứng su Nhật Bản, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản
cả nớc ( tơng đơng với 723,505 triệu USD, tăng khoảng 66,4% so với năm
2005 )
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bảng 2 : Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam theo thị trờng 2001
2006 ( Đơn vị : Triệu USD )
STT Thị trờng 2001 2002 2003 2004 2005 2006
1 Mỹ 489,035 655,655 782,238 592,824 633,985 664,340
thị trờng xuất khẩu chính của hàng thuỷ sản Việt Nam.Trong đó Bỉ và Italia là
hai thị trờng nhập khẩu tôm chính của thị trờng Việt Nam tại EU, chiếm 53%
tổng lợng hàng xuất sang thị trờng này vào năm 2006. Việt Nam nằm trong
tốp 10 nớc cung cấp tôm hàng đầu của Bỉ với 4% thị phần nhập khẩu. Bên cạnh
đó, chúng ta cũng đứng ở vị trí thứ 9 trong số các nhà xuất khẩu thuỷ sản sang
Anh. Đức là thị trờng lớn thứ 2 rong khối EU đối với xuất khẩu thủy sản Việt
Nam. Sau khi giảm mạnh vào năm 2001, xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang
Đức đã phục hồi dần vào các năm sau đó, đứng thứ 3 trong khối EU vào năm
2003, và vợt lên ở vị trí thứ 2 từ năm 2004 đến nay. Các sản phẩm thuỷ sản
chính xuất khẩu sang Đức là cá philê đông lạnh, nhuyễn thể chân đầu, nhuyễn
thể và thuỷ sản có vỏ.
Trong những năm qua, thuỷ sản Việt Nam chỉ xuất hiện ở mức độ hết sức
khiêm tốn trên thị trờng Đông Âu. Trong vài năm gần đây, ngành thuỷ sản Việt
Nam đã có nhiều động thái tích cực thâm nhập thị trờng các thành viên mới của
EU ở khu vực này, đặc biệt là ở BaLan và đã có những kết quả bớc đầu.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.3 Cơ cấu các mặt hàng thuỷ sản Việt Nam xuất khẩu vào thị trờng EU:
Nhìn chung, các mặt hàng xuất khẩu vào EU là khá đa dạng với nhiều
chủng loại. Tuy nhiên cũng cần chú ý một vấn đề là khách hàng EU rất khó tính
về mẫu mã và thị hiếu. Chỉ khi các yếu tố chất lợng đợc đảm bảo,cách trình bày
sản phẩm và giá cả hấp dẫn thì sản phẩm mới có cơ hội đợc bán ở châu Âu. Tuy
cơ cấu các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu sang thị trờng EU có sự thay đổi qua
các năm, nhng trong tất cả các sản phẩm mà chúng ta xuất khẩu sang thị trờng
EU thì mặt hàng cá tơi, cá đông lạnh vẫn luôn chiếm tỉ lệ cao. Năm 2006,
xuất khẩu cá tơi và cá đông lạnh chiếm 71,5% tổng giá trị thuỷ sản xuất khẩu ,
còn hàng khô vẫn chiếm tỷ lệ thấp nhất là 0,2%.
Bảng 3 : Cơ cấu các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu vào thị trờng EU năm
2006
STT Sản phẩm Khối lợng (tấn) Giá trị (triệu USD)
toàn vệ sinh thực phẩm.
Ngoài ra, những nỗ lực của Việt Nam trong kiểm soát d lợng chất kháng
sinh trong hàng thuỷ sản xuất khẩu là rất đáng ghi nhận. Trong những năm trớc
đây, tỷ lệ nhiễm d lợng chất kháng sinh, hoá chất bị cấm trong cá nuôi khá cao,
tình trạng bơm chích tạp chất vào tôm cha đợc xử lý một cách triệt để đã dẫn
đến nhiều bất lợi cho cac sản phẩm thuỷ sản Việt Nam trớc rào cản kĩ thuật
của nớc nhập khẩu.
Hiện nay, với việc tăng cờng kiểm tra hàng thuỷ sản xuất khẩu vào Hoa
Kỳ và Canada ( kiểm soát 100% các lô hàng thuộc 3 nhóm sản phẩm thịt cua
ghẹ, tôm và cá da trơn với 4 chỉ tiêu kháng sinh, thời gian tối thiểu là 4 tháng ),
Việt Nam đã củng cố vững chắc niềm tin về chất lợng hàng thuỷ sản cho tất cả
các thị trờng, kể cả thị trờng khó tính nhất EU.
Nhận thức đợc đầy đủ tầm quan trọng của việc đáp ứng các tiêu chuẩn về
an toàn thực phẩm đối với hàng thuỷ sản xuất khẩu sang thị trờng EU, các
doanh nghiệp Việt Nam đã chủ động áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về chất l-
ợng sản phẩm và vấn đề VSATTP. Ngoài ra, hiên nay do các hộ nông dân, ng
dân cũng đang đổi mới cách thức sản xuất, chuyển từ sản xuất thô sơ, năng suất
thấp sang thâm canh hiện đại, và đang tiếp cận với các tiêu chuẩn thế giới nh
MSC, SQF, GAP.., nuôi sinh thái, thân thiện với môi trờng...từng bớc nâng cao
chất lợng sản phẩm, vợt qua các yêu cầu khắt khe của thị trờng EU. Bên cạnh
đó, việc EU ngày càng công nhận thêm nhiều doanh nghiệp chế biến thuỷ sản
xuất khẩu của Việt Nam đợc phép xuất khẩu sang EU chính là một trong những
bằng chứng chứng tỏ rằng hàng thuỷ sản Việt Nam đang ngày càng đáp ứng đợc
các yêu cầu của thị trờng này.
3.2 Những mặt cha đạt đợc
Bên cạnh những thành tựu chúng ta đạt đợc trong những năm qua, việc
xuất khẩu hàng thuỷ sản Việt Nam sang thị trờng EU vẫn còn tồn tại nhiều vấn
đề
Trớc hết vẫn là vấn đề VSATTP của hàng thuỷ sản Việt Nam. Tuy đã đạt
đợc những thành tựu nhất định nhng đây vẫn là một trong những điểm yếu nhất
ợc tính bấp bênh trong việc tuân thủ các quy định liên quan đến vấn đề
VSATTP của các doanh nghiệp cũng nh của các hộ nuôi trồng thuỷ sản .Tuy
trong những năm gần đây vấn đề này đã thực sự đợc các doanh nghiệp quan
tâm, nhng cũng mới chỉ có các doanh nghiệp lớn mới có thể đáp ứng các yêu
cầu của EU, còn rất nhiều doanh nghiệp của thuỷ sản Việt Nam cha đáp ứng đ-
ợc vấn đề này
Một vấn đề khó khăn nữa mà thủy sản Việt Nam còn gặp phải đó là những
yêu cầu về môi trờng của EU đối với việc sản xuất và kinh doanh thuỷ sản. Tính
cho đến nay, số lợng các doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam áp dụng hệ thống
ISO 14000 đang dừng lại ở con số hết sức hạn chế. Do đó có thể nói đây cũng là
Website: Email : Tel : 0918.775.368