Tiểu luận kinh tế
Thực trạng, giải pháp
tình hình xuất khẩu thủy
sản của nước ta hiện nay Giáo viên hướng dẫn :Trương Thị Bích Liên
Sinh viên thực hiện :Huỳnh Sa Som
Chuyên đề kinh tế Thực trạng và giải pháp đẩy manh xuất khẩu thủy sản của nước ta hiện nay
GVHD: Trương Thị Bích Liên Trang 1 SVTH: Huỳnh Sa Som
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Đối với hầu hết các nƣớc, ngành thủy sản có vai trò quan trong trong nêng kinh
tế, đặc biệt đối với những nƣớc có vùng biển và vùng nƣớca nội địa phong phú. Việt
Nam là nƣớc có mặt biển rộng với hơn 3200 km bờ biển, có nhiều hồ và sông suối
trong đất liền. Phát triển ngành thủy sản có vị trí quan trọng trong nền kinh tế ở nƣớc ta.
Ngành thủy sản là ngành kinh tế có khả năng tạo ra nhiều giá trị tăng, vì vậy phát
triển ngành thủy sản, đặc biệt phát triển ngành công nghiệp chế biến thủy sản, sẽ góp
phần thúc đẩy tốc độ tăng trƣởng ngành nông nghiệp.
Số liệu thu thập trong khoảng thời gian từ 2004 – 2007.
Chuyên đề kinh tế Thực trạng và giải pháp đẩy manh xuất khẩu thủy sản của nước ta hiện nay
GVHD: Trương Thị Bích Liên Trang 3 SVTH: Huỳnh Sa Som
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
GIỚI THIỆU MGÀNH THỦY SẢN VIỆT NAM
1.1 Thời kỳ khởi đầu 1960-1980.
Từ sau 1960, Nhà nƣớc đầu tƣ vốn thành lập cơ sở sản xuất cá giống nhật Tân
để đáp ứng nhu cầu nuôi cá nƣớc ngọt. Từ sau năm 1960, Nhà nƣớc đầu tƣ xây dựng
một số quốc doanh đánh cá với sự giúp đỡ của Đức, Liên Xô, Bungary và Trung
Quốc, hoạt động trong cơ chế bao cấp của nhà nƣớc. Tuy nhiên do chiến tranh phá
hoại của Mỹ ở Miền Bắc và đặc biệt là sau sự kiện “Vịnh Bắc Bộ”, các tàu đánh cá
quốc doanh không có điều kiện ra khỏi hoặc một bộ phận của quốc doanh đánh cá
đƣợc giao nhiệm vụ quốc phòng. Nhƣ vậy, có thể nói hầu nhƣ hoạt đông khai thác
hải sản trong thời kỳ này do ngƣ dân đảm nhiệm nên chƣa phát triển và kết quả rát
hạn chế.
Bảng 1.1 Một số chỉ tiêu kết quả sản xuất ngành thủy sản Việt Nam (1976-1980)
Năm 1976, Bộ thủy sản chính thức đƣợc thành lập thực hiện chức năng quản lý
Nhà nƣớc về phát triển ngành thủy sản. Ở Miền Bắc, Nhà nƣớc tăng cƣơng củng cố
hệ thống các xí nghiệp quốc doanh và các hợp tác xã trong ngành thủy sản. Ở miền
Nam đã có 19 xí nghiệp quốc doanh đánh cá; 13 xá nghiệp đông lạnh, 2 xí nghiệp dệt
lƣới, 6 xí nghiệp sửa chữa tàu thuyền, 19 nghiệp chế biến nƣớc mắm, 2450 tổ đoàn
kết sản xuất, 611 tổ hợp tác và 70 hợp tác xã. Tuy nhiên do thiếu lƣơng thực cung cấp
Đơn vị Năm 1976 Năm
1977
Năm 1978 Năm 1979 Năm 1980
1. Sản
lƣợng
sản xuất. Những quyết sách lớn và toàn diện của Nhà nƣớc đã có vai trò thúc đẩy
ngành thủy sản nƣớc ta phát triển toàn diện mọi hoạt động nuôi trồng thủy sản; góp
phần tăng trƣởng và phát đầu tƣ tái đầu tƣ tạo nguồn thủy sản; góp phần phát triển
ngành thủy sản. Cụ thể qua các năm tăng trƣơng sau đây:
Nuôi trông thủy sản đã phát triển cả bề rộng và bề sâu trên khắp đất nƣớc.
Nuôi trông thủy sản đƣợc xác định là nguồn chính cung cấp nguyên liệu cho chế
biến xuất khẩu. Tuy nhiên, khoảng thời gian trở lại đây, nuôi trồng thủy sản mới có
bƣớc phát triển cả về diện tích nuôi lẫn phƣơng thức và đối tƣợng nuôi. Nhiều
phƣơng thức mới đƣợc áp dụng trong nuôi trồng thủy sản nhƣ nuôi thâm canh, bán
thâm canh, nuôi tôm trên cát, nuôi ở biển. Ở địa phƣơng nuôi trông thủy sản đã trở
thành một nghề trọng yếu góp phần xóa đói giảm nghèo, làm giàu của hộ nông
dân,nông traị. Đối tƣơng nuôi đƣợc mở rộng, trong đó đặc biệt là các đối tƣợng có
giá trị xuất khẩu nhƣ: tôm sú, tôm hùm, tôm càng xanh, cá tra, bas a, cá hồng, cá
song… nhƣng chủ yếu tập trung vào tôm sú, cá tra, cá ba sa.
Các hoạt đông dịch vụ cho nuôi trông thủy sản đã phát triển và tập trung chủ
yếu vào việc sản xuất và cung cấp thức ăn, thuốc thú y thủy sản và một số vật tƣ cho
nuôi trồng thủy sản. Dịch vụ sản xuất và cung ứng giống còn ở mức khiêm tốn. Đã
quan tâm đến vệ sinh an toàn ngay từ khâu nuôi trồng bằng cách ban hành nhiều văn
bản về cấm sử dụng các loại kháng sinh. Tóm lại thời kỳ này là thời chuyển biến tốt
của ngành thủy sản nƣớc ta, rút đƣợc nhƣng bài học tốt cho quản lý ngành thủy sản
của nƣớc hiện nay.
Chuyên đề kinh tế Thực trạng và giải pháp đẩy manh xuất khẩu thủy sản của nước ta hiện nay
GVHD: Trương Thị Bích Liên Trang 5 SVTH: Huỳnh Sa Som Bảng 1.3 Một số chỉ tiêu của ngành thủy sản đến năm 2002.
Nguồn : Bộ Thủy sản – Diễn đàn gia nhập WTO – Hà Nội 5/2004
Năm So sánh(%)
672.130
306.750
205
49.332
72.328
727.585
99
580
2.003.700
128.590
723.110
1.475
291.922
79.017
3.204.998
240
2780
2.410.900
1.434.800
976.100
2.014
444.043
GVHD: Trương Thị Bích Liên Trang 6 SVTH: Huỳnh Sa Som
CHƢƠNG 2
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN SANG CÁC THỊ
TRƢƠNG QUỐC TẾ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG
2.1 Tìm năng phát triển của ngành.
2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và cơ cấu tổ chức hành chính của Việt
Nam
Vị trí địa lý
Việt Nam là dải đất cong hình chữ S, chạy dọc phía Đông bán đảo Đông
Dƣơng, thuộc khu vực Đông Nam Á. Phía Đông, Nam và Tây Nam giáp biển Thái
Bình Dƣơng; phía Tây và phía Bắc gắn liền với lục địa châu Á. Phần đất liền của
Việt Nam trải dài từ 23
o
23' đến 08
o
02' vĩ độ Bắc và chiều ngang từ 102
o
08' đến
109
o
28' kinh độ Đông. Chiều dài tính theo đƣờng thẳng trong đất liền từ Bắc xuống
Nam khoảng 1.650 km. Chiều ngang từ Đông sang Tây nơi rộng nhất trên đất liền là
600 km, nơi hẹp nhất 50 km.
Việt Nam có biên giới đất liền dài 3.730 km. Phía Bắc giáp nƣớc Cộng hoà Nhân
dân Trung Hoa với chiều dài biên giới 1.150 km. Phía Tây giáp Cộng hoà Dân chủ
Ngoài những con sông chảy trực tiếp vào biển, có một số sông chảy qua các
đầm phá lớn nhƣ phá Tam Giang, Cầu Hai, Lăng Cô, Ô Loan, Thị Nại.
Trên lãnh thổ Việt Nam có khoảng 2.860 sông ngòi lớn nhỏ, nhìn chung chảy
xiết, do vậy thƣờng làm xói mòn địa hình. Bờ biển của Việt Nam uốn lƣợn - chỗ nhô
ra tạo nên bán đảo nhỏ, chỗ vòng lại hình thành vùng vịnh và cảng lớn.
Việt Nam có nhiều hồ tự nhiên nhƣ Hồ Tây (đại diện cho hồ miền đồng bằng);
Biển Hồ, Hồ Ba Bể, Hồ Lắk (đại diện cho hồ miền núi). Các hồ đó có mực nƣớc
quanh năm ổn định, chu trình vật chất khép kín tự có trong hồ là chính. Diện tích
các hồ tự nhiên ở Việt Nam là 20.000 ha.
Việt Nam có rất nhiều hồ chứa cỡ trung bình và cỡ nhỏ (hiện chƣa kiểm kê
hết), một số hồ chứa lớn là Thác Bà, Hoà Bình (ở miền Bắc), Dầu Tiếng, Trị An,
Thác Mơ, Sông Hinh (ở miền Nam). Diện tích hồ chứa trên 180 nghìn ha. Tuy
nhiên, với vai trò quan trọng trong công tác thuỷ lợi, thuỷ điện và phân lũ, hiện nay
nhiều hồ chứa mới đang tiếp tục đƣợc xây dựng.
2.1.2 Ngành Thuỷ sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của quốc
gia
Theo số liệu đã công bố của Tổng Cục Thống kê, GDP của ngành Thuỷ sản
giai đoạn 1995 - 2003 tăng từ 6.664 tỷ đồng lên 24.125 tỷ đồng. Trong các hoạt
động của ngành, khai thác hải sản giữ vị trí rất quan trọng. Sản lƣợng khai thác hải
sản trong 10 năm gần đây tăng liên tục với tốc độ tăng bình quân hằng năm khoảng
7,7% (giai đoạn 1991 - 1995) và 10% (giai đoạn 1996 - 2003). Nuôi trồng thuỷ sản
đang ngày càng có vai trò quan trọng hơn khai thác hải sản cả về sản lƣợng, chất
lƣợng cũng nhƣ tính chủ động trong sản xuất. Điều này tất yếu dẫn đến sự chuyển
đổi về cơ cấu sản xuất - ƣu tiên phát triển các hoạt động kinh tế mũi nhọn, đem lại
hiệu quả kinh tế cao.
Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở khắp mọi
miền đất nƣớc cả về nuôi biển, nuôi nƣớc lợ và nuôi nƣớc ngọt. Đến năm 2003, đã
sử dụng 612.778 ha nƣớc mặn, lợ và 254.835 ha nƣớc ngọt để nuôi thuỷ sản. Trong
đó, đối tƣợng nuôi chủ lực là tôm với diện tích 580.465 ha.
Bên cạnh những tiềm năng đã biết, Việt Nam còn có những tiềm năng mới
-
-
1.600.000
1.000.000
600.000
2.174.784
1.454.784
720.000
Kim ngạch xuất khẩu thuỷ
sản
triệu USD 900 - 1.000 1.478,6
Thu hút lao động thuỷ sản nghìn ngƣời 3.000 3.400
Nguồn: Niên giám Thống kê Nông - Lâm - Thuỷ sản
Tốc độ tăng trƣởng xuất khẩu thuỷ sản tƣơng đƣơng với các ngành công
nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Điều đó chứng tỏ ngành thuỷ sản đang dần chuyển từ
sản xuất mang nặng tính nông nghiệp sang sản xuất kinh doanh theo hƣớng công
nghiệp hoá.
GIÁ TRỊ XUẤT KHẨU (triệu USD)
Năm Toàn quốc
Công nghiệp -
Xây dựng -
Dịch vụ
Nông - Lâm - Thuỷ sản
Tổng số Riêng Thuỷ sản
Chuyên đề kinh tế Thực trạng và giải pháp đẩy manh xuất khẩu thủy sản của nước ta hiện nay
GVHD: Trương Thị Bích Liên Trang 9 SVTH: Huỳnh Sa Som
1996 7.255,9 4.214,1 3.041,8 670,0
yếu do lao động nữ thực hiện, đã tạo ra thu nhập đáng kể, cải thiện vị thế kinh tế của
ngƣời phụ nữ, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, miền núi. Riêng trong các hoạt
động bán lẻ thuỷ sản, nữ giới chiếm tỉ lệ lên đến 90%.
Chuyên đề kinh tế Thực trạng và giải pháp đẩy manh xuất khẩu thủy sản của nước ta hiện nay
GVHD: Trương Thị Bích Liên Trang 10 SVTH: Huỳnh Sa Som
2.2 Phân tích thực trạng xuất khẩu thủy sản ở Việt Nam.
2.2.1 Tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tháng 12 và cả năm 2007
Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam năm 2007 đạt tăng trƣởng khá vƣợt 4,4% kế
hoạch đặt ra. Tính toán cho thấy năm 2007, lƣợng thuỷ sản xuất khẩu trung bình cho
một tháng đạt 76,44 nghìn tấn tƣơng đƣơng 313 triệu USD. 12 tháng trong năm
2007 vừa qua không có tháng nào xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam lại có lƣợng
xuất khẩu thấp hơn so với cùng kỳ những năm trƣớc đó. Theo kế hoạch xuất khẩu
thuỷ sản của Việt Nam năm 2008 sẽ đạt kim ngạch khoảng 4,1 tỷ USD, tƣơng
đƣơng với lƣợng xuất khẩu là hơn 1 triệu tấn thuỷ sản, tăng khoảng 11% về lƣợng
và 12% về kim ngạch so với năm 2007.
Nhu cầu tiêu dùng thuỷ sản thế giới đang tăng về cả lƣợng và chất lƣợng, đồng
USD mất giá, chi phí đầu vào tăng. Ngày càng nhiều doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ
sản của Việt Nam đáp ứng đƣợc yêu cầu về chất lƣợng của các thị trƣờng lớn nhƣ
Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Nga, Ôxtrâylia... Đây là những điều kiện thuận lợi nhất để
kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam năm 2008 đạt 4,1 tỷ USD.
Nhu cầu và dự báo: Nhu cầu tiêu thụ thủy sản trên thị trƣờng thế giới tăng
mạnh trong năm 2007 và xu hƣớng này sẽ tiếp tục trong năm 2008. Ngành thủy sản
toàn cầu sẽ có triển vọng tăng trƣởng nhanh bởi ngƣời tiêu dùng ngày càng quan
tâm đến thủy sản là thực phẩm mang lại những lợi ích cho sức khỏe. Nhu cầu tiêu
thụ thủy sản tại các thị trƣờng lớn nhƣ EU, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc… sẽ phụ
thuộc rất lớn vào sự tăng trƣởng kinh tế, và nếu các nền kinh tế này tiếp tục tăng
trƣởng nhƣ hiện nay thì nhu cầu đối với thủy sản năm 2008 sẽ rất lớn. Nhu cầu tăng
sẽ kéo giá thủy sản tăng, giúp cho lợi nhuận của ngành thủy sản cũng sẽ gia tăng
xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào thị trƣờng EU từ năm 2004.
Bảng 2.2: Biểu đồ kim nghạch xuất khẩu thủy sản sang thị trƣờng EU – 2005 Nguồn: Trung tâm tin học – Bộ Thủy Sản