1Luận văn
Đề tài “Thực trạng và Giải pháp đẩy
mạnh xuất khẩu thủy sản của Việt Nam
trong thời kỳ hội nhập” 2
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính tất yếu
Ngành thủy sản là một ngành kinh tế quan trọng đóng vai trò thiết yếu trong việc
cung cấp thực phẩm cho con người. Đối với Việt Nam đây được coi là ngành kinh tế
chiến lược của đất nước, ngành đã có nhiều đóng góp to lớn trong lĩnh vực xuất khẩu,
giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động và góp phần đáng kể trong việc tăng
thêm nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia. Đặc biệt từ khi Việt Nam gia nhập WTO để
đảm bảo cho ngành thủy sản hội nhập với nền kinh tế thế giới thì Đảng và Nhà Nước
đã có chương trình, chính sách hỗ trợ lớn cho việc chuyển đổi, phát triển ngành thủy
sản. Ngành đã có nhiều chuyển biến tích cực và đạt được nhiều thành tựu. Đến nay
trung bình mỗi năm ngành thủy sản đóng góp khoảng 18% trong tổng kim ngạch xuất
khẩu của đất nước và là một trong những ngành có kim ngạch xuất khẩu cao nhất. Với
tốc độ tăng trưởng ổn định, cơ cấu mặt hàng đa dạng, chất lượng ngày càng được nâng
cao, quy mô không ngừng mở rộng ngành thủy sản đã và đang khẳng định vị thế của
mình trong nền kinh tế quốc dân. Trong điều kiện tự do hóa thương mại đang diễn ra
mạnh mẽ thì Đảng và Nhà Nước chú trọng phát triển ngành thủy sản là điều tất yếu.
Mặt hàng thủy sản của Việt Nam đã xuất hiện trên 160 quốc gia, các sản phẩm thủy
sản của Việt Nam đang được ưa chuộng trên thị trường thế giới. Sự kiện Việt Nam
chính thức là thành viên của WTO đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng thị
là ngành được Nhà Nước đặc biệt quan tâm với nhiều lợi thế có sẵn.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Để phù hợp với nội dung, yêu cầu, mục đích của đề tài đề ra bài nghiên cứu sử
dụng các phương pháp: lịch sử, thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh Bên cạnh đó
bài nghiên cứu còn tham khảo các bài viết của các tạp chí, báo điện tử, các sách, luận
văn và bài viết của các cá nhân có liên quan tới hoạt động xuât khẩu thủy sản và vận
dụng kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học để làm sâu sắc hơn nội dung
nghiên cứu
5. Kết cấu đề tài;
Đề tài gồm 86 Trang, 14 biểu đồ, 8bảng, 1 sơ đồ, lời mở đầu, Kết luận, Danh mục
tài liệu tham khảo, danh mục chữ viết tắt, đề tài được kết cấu thành 3 chương:
- Chương 1 : Lý luận và thực tiễn về hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt
Nam
- Chương 2 : Thực trạng hoạt động xuất khẩu thủy sản của Viêt Nam trong
thời kỳ hội nhập
- Chương 3 : Định hướng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu thủy sản của Việt
Nam trong thời kỳ hội nhập
4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
WTO: “Word trade organization”- Tổ chức thương mại thế giới
CNH: Công nghiệp hóa
HĐH: Hiện đại hóa
GDP: “Gross Domestic Product”-Tổng sản phẩm quốc nội
FAO: Tổ chức lương thực và nông nghiệp thế giới
HACCP: “Hazard Analysis and Critical Control Points”- Điểm kiểm soát trọng yếu và
phân tích mối nguy"
xuất còn lạc hậu, mang tính chất thủ công.
Từ sau những năm 1950, đánh giá được vị trí quan trọng và sự đóng góp mà nghề cá
có thể mang lại cho nền kinh tế quốc dân, cùng với quá trình khôi phục và phát triển
kinh tế ở miền Bắc, Đảng và Nhà nước ta đã bắt đầu quan tâm phát triển nghề cá đồng
thời hình thành các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực này, đánh dấu một cách
nhìn nhận mới đối với nghề cá. Từ đó, ngành Thuỷ sản đã dần hình thành và phát triển
như một ngành kinh tế - kỹ thuật có vai trò và đóng góp ngày càng lớn cho đất nước.
Quá trình phát triển ngành thủy sản có thể phân chia một cách tương đối thành 3 giai
đoạn chính:
1.1.1 . Giai đoạn 1954 – 1960
Đây là giai đoạn kinh tế thuỷ sản bắt đầu được chăm lo phát triển để manh nha thành
một ngành kinh tế kỹ thuật. Thời kỳ này kinh tế ở miền Bắc bắt đầu khôi phục và phát
triển cùng với sự giúp đỡ của các nước XHCN, các tổ chức nghề cá công nghiệp như:
các tập đoàn đánh cá với đoàn tàu đánh cá Hạ Long, Việt - Đức, Việt - Trung, nhà máy
cá hộp Hạ Long được hình thành. Đặc biệt, phong trào hợp tác hoá được triển khai
rộng khắp trong nghề cá.
1.1.2 . Giai đoạn 1960 – 1980
Đây được coi là thời kỳ khởi đầu của ngành thủy sản Việt Nam. Trong giai đoạn này
ngành Thuỷ sản có những thời kỳ phát triển khác nhau gắn với diễn biến của lịch sử
đất nước:
- Từ năm 1960 – 1975: là thời điểm ra đời của ngành Thủy sản Việt Nam như
một chỉnh thể ngành kinh tế - kỹ thuật của đất nước với sự ra đời của Tổng cục thủy
sản. Tuy nhiên, đây là giai đoạn đất nước có chiến Tranh, cán bộ và ngư dân ngành
thuỷ sản “vững tay lưới, chắc tay súng”, hăng hái thi đua lao động sản xuất với tinh
thần “tất cả vì miền Nam ruột thịt”, cùng cả nước thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược 6
“Xây dựng CNXH ở miền Bắc và đánh thắng giặc Mỹ, giải phóng miền Nam”. Đường
mòn Hồ Chí Minh trên biển có công sức lớn của ngư dân.
7
thuỷ sản chú trọng đầu tư ngày một nhiều hơn và đúng hướng đã hình thành tiền đề
quan trọng cho sự phát triển kinh tế thuỷ sản, tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ trong
sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực, mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh, tạo ra
nhiều việc làm và tăng thu nhập cho lao động nghề cá cả nước, tạo nguồn thu lớn cho
ngân sách Nhà nước.
Trong chiến lược phát triển của ngành, các lĩnh vực khai thác và nuôi trồng
thuỷ sản được định hướng phát triển phục vụ xuất khẩu. Ngược lại, thành công trong
chế biến, xuất khẩu đã trở thành động lực thúc đẩy khai thác và nuôi trồng thủy sản
phát triển.
Ngành Thủy sản đã chủ động đi trước trong hội nhập quốc tế, đẩy mạnh việc áp
dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất, gắn sản xuất nguyên liệu với chế biến,
xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu.
Bảng 1.1: Sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản năm 2005-2009
Năm
Tổng sản
lượng thủy
sản
tấn
Sản lượng
khai thác
hải sản tấn
Sản lượng
nuôi thủy
sản
tấn
Tổng số tàu
85.758
1.065.000
2008 4.582.000
1.937.000
2.449.000
123.000
1.052.600
2009 4.846.000
2.068.000
2.569.000
130.000
1.044.700Từ giữa những năm 1990 – nay, được gọi là thời kỳ đổi mới và phát triển,
ngành đã tập trung đổi mới phương thức quản lý chất lượng và an toàn sản phẩm, tiếp
cận và từng bước đáp ứng những đòi hỏi cao nhất về lĩnh vực này của các thị trường
lớn, nhờ đó sản phẩm thủy sản của Việt Nam đã tạo được uy tín và đứng vững trên các
dinh dưỡng ở mọi lứa tuổi. Càng ngày thủy sản được tin tưởng như một loại thực
phẩm ít gây bệnh tật (tim mạch, béo phì, ung thư) và ít chịu ô nhiễm hơn. Xét về thành
phần dinh dưỡng cho thấy: so với các loại thịt, các loại thực phẩm là thủy sản có chứa
ít chất mỡ hơn, nhiều chất khoáng và chất đạm hơn. Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản
phát triển rộng khắp trên cả nước, bao gồm các vùng sâu vùng xa, góp phần tích cực
chuyển đổi cơ cấu thực phẩm trong bữa ăn, cung cấp nguồn dinh dưỡng dồi dào, đáp
ứng được yêu cầu cụ thể là tăng nhiều đạm và vitamin cho cho người dân Việt Nam.
Ngành thủy sản còn cung cấp một phần thức ăn cho chăn nuôi, đặc biệt cho chế
biến thức ăn chăn nuôi cho công nghiệp. Bột cá và các phế phẩm, phụ phẩm thủy sản
chế biến là nguồn thức ăn giàu đạm được sử dụng làm thức ăn hoặc để chế biến thức ăn 9
phục vụ chăn nuôi gia súc, gia cầm. Theo tính toán của FAO hàng năm có trên 25% sản
lượng thủy sản được sử dụng trực tiếp vào chế biến thức ăn cho chăn nuôi. Ở nước ta
nhu cầu sử dụng bột cá cho chế biến thức ăn gia súc ngày càng tăng
Ngành thủy sản cung cấp nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thực
phẩm tôm, cá, nhuyễn thể, rong biển và một số ngành công nghiệp khác như công
nghiệp dược phẩm, mỹ nghệ…
1.2.2 . Ngành thủy sản phát triển sẽ có đóng góp quan trọng trong tăng trưởng của
toàn ngành nông, lâm, ngư nghiệp nói chung.
Ngành thủy sản là ngành kinh tế có khả năng tạo ra nhiều giá trị gia tăng. Vì vậy
phát triển mạnh ngành thủy sản, đặc biệt phát triển công nghiệp chế biến thủy sản sẽ góp
phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp. Để đánh giá vai trò của các
khu vực, các ngành kinh tế người ta thường sử dụng hai chỉ tiêu chủ yếu là tốc độ tăng
trưởng và tỷ trọng của từng ngành, từng khu vực trong toàn bô nền kinh tế. Khi sử dụng
hai chỉ tiêu nêu trên cần chú ý hai trường hợp: tốc độ tăng trưởng cao nhưng tỷ trọng
nhỏ, hoăc nếu tỷ trọng lớn nhưng tốc độ tăng trưởng thấp thì mức độ đóng góp vào tốc
độ tăng trưởng chung là thấp. Ngày nay người ta sử dụng phương pháp đánh giá mới
bằng việc xác định tỷ trọng đóng góp của từng ngành, từng khu vực vào tốc độ tăng
11
có vai trò tích cực trong hoạt động xóa đói giảm nghèo, thông qua viêc lập và phát triển
các mô hình nuôi trồng thuỷ sản đến cả vùng sâu, vùng xa. Những năm gần đây, công
tác khuyến ngư đã tập trung vào hoạt động xây dựng các mô hình khai thác và nuôi
trồng thuỷ sản, hướng dẫn người nghèo làm ăn. Hiện tại, mô hình kinh tế hộ gia đình
được đánh giá là đã giải quyết cơ bản công ăn việc làm cho ngư dân ven biển. Bên
cạnh đó, mô hình kinh tế tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân đã góp phần giải quyết việc
làm cho nhiều lao động ở các vùng, nhất là lao động nông nhàn ở các tỉnh Nam Bộ và
Trung Bộ. Tại các vùng duyên hải, từ năm 2000, nuôi thuỷ sản nước lợ đã chuyển mạnh
từ phương thức nuôi quảng canh sang quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh,
thậm chí nhiều nơi đã áp dụng mô hình nuôi thâm canh theo công nghệ nuôi công
nghiệp. Các vùng nuôi tôm rộng lớn, hoạt động theo quy mô sản xuất hàng hoá lớn đã
hình thành, một bộ phận dân cư các vùng ven biển đã giàu lên nhanh chóng, rất nhiều
gia đình thoát khỏi cảnh đói nghèo nhờ nuôi trồng thuỷ sản.
1.2.4 . Phát triển ngành thủy sản góp phần phát triển vào kinh tế xã hội của đất
nước
Với nhiều lợi thế đặc biệt về mặt nước và nguồn lợi thủy sản, phát triển mạnh mẽ
ngành thủy sản nước ta sẽ góp phần phát triển kinh tế- xã hội đất nước nói chung và
kinh tế xã hội nông thôn nói riêng.
Về mặt kinh tế, ở những địa phương thuộc duyên hải Trung Bộ hoặc Tây Nam Bộ
phát triển thủy sản là con đường làm giàu của các chủ Trang trại nuôi trồng thủy sản,
các chủ tàu đánh bắt cá. Ở các địa phương không có tiềm năng về biển, đặc biệt vùng
nông thôn ngoại thành phát triển chăn nuôi thủy sản là chuyển dich cơ cấu kinh tế
nông nghiệp, nông thôn cho hiệu quả cao.
Về mặt xã hội, ở các vùng cao, vùng sâu, vùng nghèo, phát triển chăn nuôi thủy sản
ao hồ, sông suối tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập cho đồng bào dân tộc, trợ giúp
cho việc xóa bỏ tập quán du cư của đồng bào. Việc sản xuất và tiêu dùng các sản phảm
1.3.2. Hoạt động nuôi trồng thủy sản phát triển ngày càng mạnh
Với lợi thế sẵn có về điều kiện tự nhiên hoạt động nuôi trồng thủy sản của Việt
Nam đã xuất hiện từ rất sớm và phát triển rộng khắp đất nước, từ vùng núi tới miền
biển. Nuôi trồng thủy sản là nguồn chính cung cấp nguyên liệu cho chế biến thủy sản
xuất khẩu. Hoạt nuôi trồng thủy sản ở nước ta mang tính mùa vụ rõ rệt. Từ năm 2000
trở lại đây hoạt động nuôi trồng thủy sản đã có bước phát triển mạnh cả về diện tích
nuôi, phương pháp nuôi, và đối tượng nuôi. Cùng với sự hỗ trợ từ phía Nhà Nước và
sự nỗ lực của ngư dân nhiều phương thức nuôi trồng mới, các kỹ thuật nuôi trồng hiện
đại đã được áp dụng đem lại hiệu quả cao cho người dân. Năm 2000 sản lượng nuôi 13
trồng thủy sản của Việt Nam là 481,800 nghìn tấn với 79,768 nghìn chiếc thuyền, tới
năm 2009 sản lượng nuôi trồng tăng 2569 nghìn tấn, số tàu thuyền tăng là 130 nghìn
chiếc, năm 2010 sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng 5,5% so với năm 2009 đạt 2.706,8
nghìn tấn. Hiện nay, trong nuôi trồng thủy sản đã và đang phát triển nhiều mô hình với
các hình thức đối tượng nuôi đa dạng, phong phú cho hiệu quả kinh tế cao như: nuôi
cá lóc trong bể xi măng, ao đất; cá diêu hồng, rô phi đơn tính nuôi trong bè, nuôi ba
ba, ếch,…Trong nuôi nước lợ là tôm thẻ chân trắng trên cát cho năng suất bình quân
34 tấn/ha/năm (một năm nuôi 03 vụ) và lợi nhuận thu được rất cao, điều đó làm cho
nhiều người dân và nhà DN đã và đang quan tâm đầu tư vào hoạt động này.
1.3.3. Cơ cấu dân số trẻ, lực lượng lao động dồi dào
Nguồn lao động trong ngành thủy sản gồm có lao động chuyên nghiệp và bán
chuyên nghiệp. Lao động chuyên nghiệp là những người có kiến thức và kỹ năng nghề
nghiệp, họ có thu nhập chính từ hoạt động sản xuất thủy sản, còn nguồn lao động bán
chuyên nghiệp là những người tham gia sản xuất thủy sản vào thời kỳ nông nhàn, hoặc
kết hợp trong quá trình sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp để tăng thêm thu nhập. Đặc
điểm của nguồn lao động trong hoạt động khai thác thủy sản là lao động trẻ, khỏe, đàn
ông tham gia đi biển, còn trong hoạt động nuôi trồng và chế biến thì bao gồm cả phụ
vùng biển giữa các vùng, các địa phương đồng thời có sự hợp tác chẽ giữa các vùng,
địa phương trong nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản. Tránh phương pháp khai thác
lạc hậu làm hủy diệt các sinh vật trong nước có thể dẫn tới hủy diệt nguồn thức ăn tự
nhiên dẫn tới thay đổi nơi cư trú của cá, tôm hay hướngdi chuyển của các loài thủy sản
khác gây ra cạn kiệt nguồn lợi thủy sản
- Các loài thủy sản sinh trưởng và phát triển chịu sự tác động nhiều nhân tố như:
thời tiết, khí khậu, dòng chảy, địa hình, thủy văn… vì vậy trong nuôi trồng cần phải
tạo điều kiện thuận lợi để các loài thủy sản sinh trưởng và phát triển cao như: tạo ôxy
bằng quạt sục nước, tạo dòng chảy bằng máy bơm.
- Các sản phẩm thủy sản sau khi thu hoạch do bị tách khỏi môi trường sống nên
rất
dễ bị hư hỏng, ươn thối. Để nâng cao chất lượng và tránh tổn thất trong sản xuất đòi
hỏi phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các khâu từ khai thác, nuôi trồng đến chế biến,
kinh doanh tiêu thụ sản phẩm, từ khai thác đến đầu tư tái tạo nguồn lợi, đầu tư cơ sở hạ
tầng dịch vụ một cách đồng bộ.
1.4.2 . Thủy vực là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế
Thủy vực sử dụng vào nuôi trồng đánh bắt thủy sản bao gồm: sông, hồ, ao, mặt
nước, ruộng, cửa sông, biển. Giống như ruộng đất sử dụng vào sản xuất nông nghiệp, 15
thủy vực là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế của ngành thủy sản. Không có
thủy vực sẽ không có sản xuất thủy sản.
Thủy vực được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau của con người như điều hò
môi trường, đáp ứng nhu cầu giao thông thủy, du lịch sinh thái sông nước. Để sử dụng
có hiệu quả và bảo vệ thủy sản trong ngành thủy sản cần chú ý:
- Thực hiện qui hoạch các loại hình thủy vực và xác định hướng sử dụng thủy
vực cho ngành thủy sản.
- Chú trọng việc bảo vệ môi trường nước bao gồm cả nước biển, sử dụng các
1.4.4 . Ngành thủy sản là ngành sản xuất vật chất có tính hỗn hợp mang tinh liên
ngành.
Hầu hết các hoat động nuôi trồng, khai thác, chế biến thủy sản đều đòi hỏi lượng
vốn đầu tư ban đầu rất lớn. Vì vậy để phát triển ngành thủy sản thì nhà Nước phải có
chính sách cho vay, hỗ trợ vốn cho các hộ gia đình theo từng chương trình phát triển
riêng của ngành. Bên cạnh đó hoạt động nuôi trồng và đánh bắt phụ thuộc nhiều vào
điều kiện tự nhiên nhất là điều kiện thủy văn, bão, lũ. Đặc biệt nước ta có đường bờ
biển dài, diễn biến bão, lũ phức tạp, nhiều trận bão lũ gây thiêt hại nặng nề cho nghề
nuôi trồng thủy sản của một vùng hay địa phương nên mức độ rủi ro cao.
1.4.5 . Quy trình sản xuất đơn giản
Quy trình chế biến sản phẩm của các DN khá đơn giản chủ yếu sử dụng lao
động phổ thông, không yêu cầu cao về công nghệ thiết bị hiện đại, máy móc chủ yếu
sử dụng là băng chuyền cấp đông và tủ lạnh, có thể mở rộng từng phần tùy theo nhu
cầu. Quá trình sản xuất được biểu thị qua sơ đồ dưới:
Sơ đồ 1: Quy trình sản xuất ngành thủy sản của Việt Nam tại các DN
1.5 . Các nhân tố tác động tới hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam
1.5.1. Nhân tố tác động thuận lợi
- Đường lối của Đảng và Nhà Nước thông thoáng tạo cơ hội thuận lợi cho các DN
ở các thành phần kinh tế phát triển sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh xuất khẩu ra thị
Cấp
đông
17
trường thế giới. Đặc biệt đáng chú ý là chính phủ đã thông qua cơ chế điều hành xuất
nhập khẩu của Việt nam giai đoạn 2001 – 2005. Với cơ chế mới này mọi DN đều có
thể tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu, tiến tới xoá bỏ những rào cản pháp lý, thủ
tục gây trở ngại cho hoạt động xuất khẩu. Khả năng tiếp cận với thị trường quốc tế của
các DN chế biến xuất khẩu thuỷ sản sẽ nhiều hơn, thuận lợi hơn.
- Nhà nước ngày càng dành nhiều sự quan tâm cho ngành thuỷ sản: Với những
chương trình hỗ trợ đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng của Ngành thuỷ sản; các chương
trình đánh bắt xa bờ; chương trình đầu tư cho nghiên cứu khoa học và công nghệ để
phát triển ngành thuỷ sản; với sự hỗ trợ toàn diện của Nhà nước, Trung tâm kiểm Tra
chất lượng và vệ sinh thuỷ sản ra đời, trở thành cơ quan có thẩm quyền về kiểm soát
vệ sinh an toàn thực phẩm của ngành, hỗ trợ các DN tiếp cận với thị trường. Mới đây
chương trình chuyển đổi một số vùng trồng lúa sang phối hợp nuôi trồng thuỷ sản đã
mở ra khả năng to lớn cho sự phát triển của ngành thuỷ sản Việt nam.
- Thủy vực và nguồn lợi thủy sản Việt Nam đa dạng, phong phú, chủng loại thủy
sản nuôi trồng với nhiều giống loài, đặc biệt có nhiều loài có giá trị xuất khẩu cao.
- Sự ra đời hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt nam 12/6/1998 là một dấu
ấn tạo điều kiện thuận lợi cho các DN ngành thuỷ sản nắm bắt thông tin, nâng cao khả
năng tiếp cận thị trường, quảng bá giới thiệu sản phẩm Trao đổi kinh nghiệm hỗ trợ
lẫn nhau trong phát triển xuất khẩu vào các thị trường.
- Cùng với sự phát triển của ngành đã hình thành một lớp doanh nhân mới am hiểu
về thị trường, kinh nghiệm quản lý kinh doanh được tích luỹ, họ đã xây dựng được các
mối quan hệ thương mại tốt với các đối tác nhập khẩu, đây là tiền đề để duy trì và phát
triển thị trường.
- Nhiều DN xuất khẩu thuỷ sản đã xây dựng được những tiêu chuẩn quản trị chất
lượng quốc tế: HACCP, GMT, ISO 9000 đây là những tấm giấy thông hành giúp cho
các DN đưa hàng thuỷ sản vào những thị trường khó tính như EU, Nhật Bản, Mỹ.
1.5.2. Nhân tố tác động bất lợi
- Năng lực chế biến thuỷ sản đông lạnh hiện tại được đánh giá là dư thừa so với
thời, mực nước biển dâng cao có khả năng làm thay đổi hướng của dòng chảy và có
thể làm thay đổi đường di cư của một số loài thủy sản quý hiếm thường có ở vùng biển
Việt Nam, ngoài ra nó còn ảnh hưởng rất lớn đến diện tích NTTS ở vùng ven biển Việt
Nam đặc biệt là vùng ĐBSCL, bên cạnh đó BĐKH sẽ gây ra nhiều hiện tượng thời tiết
bất thường: bão, nước biển dâng, triều cường, lũ lụt, lũ quét không theo quy luật nên
rất khó dự báo trước, sẽ gây thiệt hại lớn về người và tài sản cho các tàu thuyền KTHS
trên biển, và các ngư dân ven biển. 19
- Trên thực tế nhiều nước trong khu vực và trên thế giới cũng có lợi thế về thủy
sản, những thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật đều có nhu cầu cao nên là mục tiêu của
nhiều nước xuất khẩu thủy sản. Điều này đã làm tăng sức cạnh Tranh của hàng thủy
sản Việt Nam cả về giá cả và chất lượng.
1.6. Dự báo thị trường thủy sản thế giới tới năm 2015
1.6.1. Nhu cầu thuỷ sản dùng làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi:
Tổ chức FAO dự báo tổng nhu cầu thuỷ sản và các sản phẩm thuỷ sản trên thế
giới sẽ tăng gần 50 triệu tấn từ 133 triệu tấn năm 1999/2000 lên 183 triệu tấn vào năm
2015, với tốc độ tăng trưởng bình quân 2,1%/năm, chậm lại chút so với tốc độ tăng
3,1% mỗi năm của 20 năm trước đó. Nhu cầu thuỷ sản dùng làm thực phẩm sẽ chiếm
75% tương đương với 137 triệu tấn. Tiêu thụ thuỷ sản tính theo đầu người trên toàn
cầu sẽ tăng bình quân 0,8% trong giai đoạn đến năm 2015, giảm so với mức 1,5% đã
đạt được trong 20 năm trước. Năm 2010, trung bình mỗi người tiêu thụ 18,4 kg thủy
sản mỗi năm, và dự báo 19,1 kg vào năm 2015, so với 16,1 kg năm 1999/2000. Tiêu
thụ cá và sản phẩm cá bình quân đầu người dự báo sẽ đạt 14,3 kg vào năm 2015, trong
khi đó nhu cầu thuỷ sản có vỏ và các sản phẩm nuôi khác sẽ đạt mức tương ứng 4,8
kg/người. Trong tổng lượng gia tăng nhu cầu thuỷ sản dùng làm thực phẩm (khoảng
40 triệu tấn), có 46% mức tăng là do dân số tăng, 54% còn lại là do kinh tế phát triển
đồ hộp ngày càng giảm do nguy cơ bị nhiễm chất hoá học từ sản phẩm đồ hộp gia
tăng. Đồng thời, nhu cầu thực phẩm chế biến nhanh tăng, đòi hỏi thời gian chế biến tối
thiểu và hương vị phải đặc sắc như thực phẩm chế biến tại gia. Yêu cầu về an toàn
thực phẩm ngày càng gia tăng và phổ biến rộng rãi trên khắp thế giới.
1.6.3 Triển vọng về sản lượng
Theo dự báo của FAO, tổng sản lượng thuỷ sản của thế giới sẽ tăng từ 129 triệu
tấn năm lên 172 triệu tấn vào năm 2015 với tốc độ tăng trưởng bình quân 1,6%/năm
giai đoạn 2010 - 2015, chủ yếu nhờ tăng sản lượng thuỷ sản nuôi. Trong 43 triệu tấn
sản lượng dự kiến sẽ tăng từ năm 1999/2000 đến 2015, ước tính 73% sản lượng gia
tăng sẽ là thuỷ sản nuôi. Thuỷ sản nuôi dự kiến sẽ chiếm 27,5% trong tổng sản lượng
thuỷ sản toàn cầu vào năm 2015, tăng so với 27,5% năm 1999/2000. Sản lượng đánh
bắt dự kiến sẽ trì trệ trong giai đoạn dự kiến.
Sản lượng thuỷ sản tại các nước đang phát triển dự kiến sẽ tăng 2,7% /năm
trong giai đoạn dự báo, mức tăng này chỉ bằng một nửa so với mức tăng đã đạt được
trong hai thập kỷ vừa qua. Tại những nước này, thuỷ sản đánh bắt dự kiến chỉ tăng 1%
/năm. Do vậy, phần lớn mức sản lượng tăng sẽ là từ phía thuỷ sản nuôi, với sản lượng
dự kiến tăng 4,1% /năm. Sản lượng thuỷ sản đánh bắt ở các nước phát triển dự kiến có
thể suy giảm trong giai đoạn dự báo. Phần của các loại cá biển trong tổng sản lượng cá 21
dự báo sẽ giảm từ 30,8% trong năm 1999/2001 xuống 24,5% vào năm 2015. Tương
tự, phần của các loại cá tầng đáy sẽ giảm từ 16,2% xuống 12,7%. Trái lại, phần của cá
nước nước ngọt và cá nước lợ sẽ tăng từ 23,7% trong năm 1999/2001 lên 29,3% vào
năm 2015, và phần của các loài giáp xác, thân mềm và chân đầu sẽ tăng từ 20,5% lên
25,6%.
So sánh cung cầu dự kiến cho thấy nhu cầu thuỷ sản và các sản phẩm thuỷ sản
sẽ cao hơn lượng cung tiềm năng. Tổng lượng thuỷ sản thiếu hụt sẽ là 10,9 triệu tấn
vào năm 2015. Tình trạng thiếu hụt này sẽ không xảy ra nếu như có sự cân đối giữa
phát triển khác, đáng chú ý là Nhật Bản, dự kiến sẽ duy trì khối lượng thuỷ sản nhập
khẩu như hiện nay. 23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG
THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
2.1. Phân tích thực trạng hoat động xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong
những năm gần đây
2.1.1. Giá trị kim ngạch xuất khẩu mặt hàng thủy sản
Trước khi Việt Nam trở thành thành viên WTO, ngành thủy sản Việt Nam đã
phát triển với tốc độ nhanh, toàn ngành thuỷ sản nói chung và xuất khẩu thuỷ sản của
Việt Nam nói riêng luôn đạt được bước tăng trưởng mạnh mẽ, đóng góp quan trọng
vào phát triển kinh tế – xã hội và tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Trong 5 năm
2001-2005, giá trị kim ngạch xuất khẩu của ngành đã tăng 46%, bình quân mỗi năm
tăng xấp xỉ 9,1%. Theo số liệu thống kê của Tổng Cục Hải Quan năm 2000 kim ngạch
xuất khẩu đạt 1470 triệu USD; tới năm 2003 đạt gấp đôi là 2300 triệu USD và năm
2006, trước khi gia nhập WTO, kim ngạch xuất khẩu của ngành đã lên tới 3000 triệu
USD.
Biểu đồ 2.1: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong giai đoạn 2006-
2010
(Nguồn: Vasep)
Tháng 1/2007 sự kiện Việt Nam chính thức là thành viên của WTO tạo điều
kiện thuận lợi trong việc thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng thủy sản của Việt Nam, mở
rộng thị trường tiêu thụ. Bên cạnh đó còn nhiều thách thức mà các DN xuất khẩu thủy
sản phải đối mặt, một trong những thách thức lớn nhất đối với các DN khi hội nhập là
Giá trị xuất khẩu 22,2% 12,4% 19,8% -5,7% 18,4%
Bước sang năm 2010, nền kinh tế thế giới, nhất là các đối tác lớn của ta như:
Mỹ, EU, Nhật Bản, đang trên đà phục hồi là cơ hội tốt cho mặt hàng thủy sản của ta.
Ngoài ra, hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA) đã chính thức có
hiệu lực, theo đó, từ 1/10/2009, trên 86% hàng nông sản, thủy sản của Việt Nam được
hưởng ưu đãi rất lớn về thuế, trong đó các mặt hàng Tôm đã được giảm thuế xuất nhập
khẩu xuống 1 – 2%. Hơn nữa, sau 3 năm hội nhập và phát triển các mặt hàng thủy sản
Việt Nam đã được một số nước công nhận, đánh giá cao về chất lượng và chiếm được 25
cảm tình của người tiêu dùng. Bên cạnh đó là những khó khăn từ các thị trường nhập
khẩu như: xu hướng bảo hộ thương mại tinh vi, các hàng rào kỹ thuật và kiểm dịch
chặt chẽ, đồng thời thường xuyên ban hành các tiêu chuẩn mới khắt khe hơn về dư
lượng kháng sinh, an toàn vệ sinh thực phẩm, và những khó khăn từ trong nước như:
tình trạng thiếu con giống và nguyên liệu không ổn định. Tuy khó khăn chồng chất
nhưng xuất khẩu thủy sản nước ta năm 2010 đã đạt được kết quả mỹ mãn, tổng giá trị
xuất khẩu thủy sản cả nước đã vượt kế hoạch do BNN&PTNT đề ra hồi đầu năm.
Theo số liệu thống kê chính thức của Hiệp hội chế biến và xuất khẩu Thủy sản Việt
Nam, năm 2010 xuất khẩu thủy sản cả nước đạt 1350 nghìn tấn, trị giá gần 5034 triệu
USD (so với kế hoạch là 4,5 tỷ USD), tăng 11,3% về khối lượng và 18,4% về giá trị so
với năm 2009. Tiếp tục sự thành công của năm 2010, nhiều chuyên gia dự báo năm
2011xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vẫn có cơ hội giữ kỷ lục 5 tỷ USD, điều này có
khả năng lớn khi trong 2 tháng đầu năm Việt Nam đã xuất khẩu 131,8 nghìn tấn thủy
sản với kim ngạch đạt 512,8 triệu USD, dù sản lượng giảm 6,8% nhưng giá trị lại tăng
10,9%. Đây là một tín hiệu lạc quan vơi ngành thủy sản Việt Nam trong năm 2011.
2.1.2. Cơ cấu măt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam
Việt Nam hiện đang thuộc tốp 6 nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới, khối
lượng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam ra các thị trường tăng khá mạnh qua mỗi năm.