Vai trò của nhân dân trong thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở tỉnh hưng yên hiện nay - Pdf 53

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN ĐẠI

VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN TRONG THỰC HIỆN
QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở TỈNH HƯNG YÊN
HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2019


VI Ệ N HÀN LÂM
KHOA H ỌC XÃ H ỘI VI Ệ T N AM
H Ọ C VI Ệ N KHOA H Ọ C XÃ H Ộ I

NGUY Ễ N VĂN Đ Ạ I

VAI TRÒ C ỦA NHÂN DÂN TRONG TH ỰC HI Ệ N
QUY CH Ế DÂN CH Ủ CƠ S Ở Ở T ỈNH HƯNG YÊN
HI Ệ N NAY

LU Ậ N ÁN TI Ế N SĨ TRI Ế T H Ọ C
CHUYÊN NGÀNH: CNDVBC & CNDVLS
MÃ S Ố : 92.29.002
Người hướng dẫn khoa học: 1. TS. Nguyễn Đình Hòa
2. PGS,TS. Trương Qu ốc Chính


6
1.2. Giá trị tham khảo của các công trình đã công bố và nội dung
nghiên cứu mới của luận án ................................................................ 24
Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN TRONG
THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở VIỆT NAM ...................... 28

2.1. Vai trò của nhân dân trong thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở - khái
niệm, một số nội dung cơ bản ............................................................. 28
2.2. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến vai trò của nhân dân trong thực
hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay ..................... 52
Chương 3: VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN TRONG THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN
CHỦ CƠ SỞ Ở TỈNH HƯNG YÊN HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ
MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA

................................................................... 71

3.1. Thực trạng vai trò của nhân dân trong thực hiện Quy chế dân chủ
cơ sở ở tỉnh Hưng Yên hiện nay ......................................................... 71
3.2. Một số vấn đề đặt ra hiện nay ............................................................ 106
Chương 4: MỘT SỐ QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT HUY VAI
TRÒ CỦA NHÂN DÂN TRONG THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ
CƠ SỞ Ở TỈNH HƯNG YÊN HIỆN NAY ..................................................... 115

4.1. Một số quan điểm định hướng nhằm phát huy vai trò của nhân dân trong
thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở tỉnh Hưng Yên hiện nay . 115
4.2. Một số nhóm giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của nhân dân trong
thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở tỉnh Hưng Yên hiện nay . 119


KẾT LUẬN ........................................................................................................... 148


KCN:

Khu công nghiệp

MTTQ:

Mặt trận Tổ quốc

QCDC:

Quy chế dân chủ

UBMT:

Ủy ban Mặt trận

UBND:

Ủy ban nhân dân

XHCN:

Xã hội chủ nghĩa


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án

ban hành Đề án 01-ĐA/TU ngày 05/5/2011 về Nâng cao chất lượng, hiệu quả
thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở xã, phường, thị trấn giai đoạn 2011-2020;
qua gần 7 năm thực hiện, nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp
nhân dân về dân chủ cơ sở được nâng lên. Chính quyền các cấp tích cực thực
hiện cải cách hành chính, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân;
Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội đổi mới nội dung, phương
thức hoạt động, tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia các phong
trào thi đua yêu nước, xây dựng khu phố, làng, gia đình văn hóa… Thông qua
thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở, mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng, chính
quyền được tăng cường.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, việc phát huy vai trò của nhân dân
trong thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở tỉnh Hưng Yên cũng còn những hạn
chế, bất cập như:
Thứ nhất, một bộ phận nhân dân chưa chủ động, tích cực thực hiện các
quyền được biết, được bàn, kiểm tra, giám sát; nhiều người tỏ ra thờ ơ, thụ
động trong tìm hiểu, thực hiện các quyền dân chủ của mình.
Thứ hai, hiểu biết pháp luật về các quyền, nghĩa vụ của một bộ phận
nhân dân trong thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở còn hạn chế;
Thứ ba, chất lượng tham gia góp ý, thảo luận của nhân dân với các
chương trình, kế hoạch, đề án phát triển kinh tế - xã hội… chưa cao; có tình
trạng góp ý qua loa, chiếu lệ, chỉ quan tâm đến những phần việc liên quan trực
tiếp đến lợi ích của mình.
Thứ tư, trong thực tế thực hiện, cá biệt còn có tình trạng một số cá nhân
lợi dụng các quyền tự do, dân chủ để vi phạm pháp luật.


3

Biểu hiện cụ thể của những hạn chế trên là tình trạng khiếu kiện đông
người, kéo dài, vượt cấp ở Hưng Yên có biểu hiện ngày càng phức tạp; tình

4

chủ cơ sở; luận án đề xuất một số quan điểm và nhóm giải pháp
nhằm tiếp tục phát huy vai trò của nhân dân trong thực hiện Quy
chế dân chủ cơ sở ở tỉnh Hưng Yên hiện nay.
2.2.

Nhiệm vụ của luận án: Để đạt được mục đích trên, luận

án thực hiện một số nhiệm vụ chủ yếu sau:
Một là, tổng quan một số công trình tiêu biểu đã công bố liên quan đến
đề tài luận án;
Hai là, phân tích một số vấn đề lý luận về vai trò của nhân dân trong
thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay;
Ba là, phân tích thực trạng vai trò của nhân dân trong thực hiện Quy
chế dân chủ cơ sở ở tỉnh Hưng Yên từ năm 1998 đến nay và những vấn đề đặt
ra;
Bốn là, đề xuất một số quan điểm, nhóm giải pháp nhằm tiếp tục phát
huy vai trò của nhân dân tỉnh Hưng Yên trong thực hiện Quy chế dân chủ cơ
sở trong thời gian tới.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1.

Đối tượng nghiên cứu: Luận án nghiên cứu vai trò của

nhân dân tỉnh Hưng Yên trong thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở
từ năm 1998 đến nay.
3.2.

Phạm vi nghiên cứu

Thứ nhất, nghiên cứu vai trò của nhân dân trong thực hiện Quy chế dân
chủ cơ sở ở tỉnh Hưng Yên hiện nay trên phương diện triết học;
Thứ hai, đề xuất một số quan điểm và nhóm giải pháp chủ yếu nhằm
tiếp tục phát huy vai trò của nhân dân trong thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở
ở tỉnh Hưng Yên hiện nay
6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
- Luận án góp phần làm sáng tỏ thêm lý luận về vai trò của nhân dân trong thực
hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở;


6

- Luận án cung cấp cơ sở lý luận, khoa học cho việc hoạch định chính sách,
pháp luật về phát huy vai trò của nhân dân trong thực hiện Quy chế dân chủ ở
cơ sở hiện nay;
- Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ việc nghiên cứu, giảng
dạy các chuyên đề liên quan đến vấn đề dân chủ và thực hiện dân chủ tại
Trường Chính trị Nguyễn Văn Linh, Trường Cao đẳng sư phạm Hưng Yên,
Trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, thành phố trong tỉnh.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Danh mục
các công trình của tác giả đã công bố, luận án gồm 4 chương, 8 tiết.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. MỘT SỐ CÔNG TRÌNH TIÊU BIỂU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1.1. Những công trình nghiên cứu lý luận chung về vai trò của
nhân dân, Quy chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

thành quả cách mạng. Tác giả làm rõ vai trò của nhân dân theo quan điểm của
Người là tin tưởng tuyệt đối vào sức mạnh, năng lực sáng tạo, cách mạng của
quần chúng nhân dân. Để phát huy sức mạnh của nhân dân, Đảng, Nhà nước
phải biết huy động, tổ chức, lãnh đạo nhằm thực hiện những nhiệm vụ cách
mạng thích hợp với từng giai đoạn, từng địa phương, từng ngành công tác.
Tác giả Việt Tiến trong bài “Nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh và
trong Hiến pháp 2013” cho rằng, Hồ Chí Minh là người có tư tưởng đầy đủ,
đúng đắn về vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân; coi nhân dân là lực
lượng có sức mạnh vô tận và nguyên nhân thắng lợi của cách mạng. Tư tưởng


8

của Hồ Chí Minh mãi mãi là ngọn đuốc soi đường cho Đảng và Nhà nước ta
trong quá trình lãnh đạo nhân dân qua các thời kỳ cách mạng. Đảng và Nhà
nước ta luôn quán triệt sâu sắc tư tưởng của Người về sức mạnh của nhân dân,
sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp cách mạng.
Khi phân tích vai trò của nhân dân trong công tác xây dựng Đảng, chính
quyền, tác giả Vũ Lân cho rằng: “Cho đến nay, trong điều kiện, hoàn cảnh,
nhất là trình độ dân trí ngày càng được nâng cao, trong điều kiện Đảng cầm
quyền, với những vấn đề cấp bách đặt ra trong xây dựng Nhà nước pháp
quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, thì cần có cơ chế, quy chế,
quy định cụ thể thống nhất, đồng bộ, bài bản, cụ thể hơn trong công tác này”
[39, tr. 60]. Tác giả cũng nhấn mạnh: “Nhưng dù có quy định thế nào chăng
nữa, đối tượng giám sát nhất thiết phải có quần chúng nhân dân chứ không
phải chỉ có những người đại diện cho quần chúng” [39, tr .63]. Tác giả đề cao
vai trò của dân chủ trực tiếp trong tổ chức, hoạt động của Đảng và Nhà nước
trong điều kiện mới.
Một số công trình nghiên cứu về dân chủ cơ sở và quy chế thực hiện
dân chủ ở cơ sở như: “Thể chế dân chủ và phát triển nông thôn Việt Nam hiện

chủ” [76], tác giả Phạm Ngọc Quang cho rằng: Xuất phát từ nhận thức mới về
vai trò của dân đối với Đảng, đã đến lúc phải khẳng định rằng, tự nó, Đảng
không có quyền, mọi quyền lực mà Đảng có được là do nhân dân uỷ quyền
cho. Đảng và Nhà nước là thiết chế bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân.
Nhân dân làm chủ bằng Nhà nước, thông qua Nhà nước là cơ chế có hiệu quả
nhất. Xét về thực chất, Nhà nước ta là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân,
vì Nhân dân. Tự nó, mọi cơ quan nhà nước không có quyền. Mọi quyền lực
nhà nước có được đều do nhân dân uỷ quyền cho nó. Mặc dù không trực tiếp
bàn tới bản chất mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý với Nhân
dân làm chủ, song từ phân tích trên đã gợi ý cho luận án hướng nghiên cứu về


11

bản chất của mối quan hệ này, đặc biệt là xác định vị trí của nhân dân trong
mối quan hệ.
Bàn về vai trò của nhân dân trong giám sát hoạt động của bộ máy Đảng,
chính quyền cấp cơ sở, tác giả Đào Trí Úc trong công trình "Cơ chế giám sát
của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước - một số vấn
đề lý luận và thực tiễn" cho rằng, cơ chế giám sát của nhân dân đối với hoạt
động của bộ máy Đảng và Nhà nước thông qua hai hình thức: Một là, thông
qua các tổ chức đại diện như Quốc hội, HĐND, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn
thể nhân dân…; hai là, nhân dân trực tiếp giám sát. Tuy nhiên, tác giả cũng
nhận định trên thực tế, quyền dân chủ, quyền giám sát của nhân dân hiện nay
còn mang tính hình thức, do đó, kết quả không đạt được như mong muốn. Về
kinh tế, nhìn chung có sự phát triển, nhưng nhịp độ tăng trưởng kinh tế chưa
đạt được yêu cầu đề ra. Tổ chức và hoạt động của Nhà nước, Mặt trận Tổ
quốc và các đoàn thể nhân dân còn chưa đổi mới thực sự; tình trạng vi phạm
dân chủ, tệ quan liêu, tham nhũng trong bộ máy đảng, chính quyền vẫn chưa
được khắc phục triệt để. Cho nên, cần phải tăng cường mối liên hệ máu thịt

tỉnh Vùng đồng bằng Bắc Bộ) [37]... Các công trình nghiên cứu trên đã làm rõ
căn cứ lý luận trong nghiên cứu tâm lý nông dân; những đặc trưng cơ bản của
đời sống làng xã Việt Nam; ảnh hưởng của tâm lý nông dân với thực hiện dân
chủ cơ sở. Trong công trình “Quan hệ cộng đồng và cá nhân trong tâm lý
nông dân”, tác giả Đỗ Long đã xem xét nhân cách người nông dân Việt Nam
qua các lăng kính đạo đức học và tâm lý học, chỉ ra những hạn chế trong nhân
cách này; đồng thời phân tích những biểu hiện mới trong nhu cầu, nhận thức,
tình cảm, năng lực, nhóm và chuẩn mực nhóm của nhân cách người nông dân
giai đoạn hiện nay.
Trong công trình “Cộng đồng làng xã Việt Nam hiện nay”, các tác giả
Nguyễn Văn Sáu, Hồ Văn Thông đã làm rõ một số vấn đề cơ bản về cộng


13

đồng làng xã Việt Nam từ khi hình thành đến nay; mối quan hệ giữa tổ chức
Đảng, chính quyền và đội ngũ cán bộ, công chức trong cải cách hành chính,
thực hiện dân chủ ở cơ sở... Đặc biệt, các nhà khoa học cũng đã chỉ ra một số
hạn chế liên quan đến thể chế chính trị ở nông thôn như hiệu lực của thể chế
còn yếu kém, thiếu sức mạnh… dẫn đến quyền lực của Nhà nước, của nhân
dân, của pháp luật không được tôn trọng. Đây là nguyên nhân cơ bản làm cho
chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước chưa phát huy hết hiệu
quả, hiệu lực.
Nghiên cứu về tâm lý nông dân Việt Nam trong giai đoạn đầu phát triển
kinh tế thị trường, các tác giả Đỗ Long, Vũ Dũng trong công trình “Tâm lý
nông dân trong thời kỳ đầu phát triển kinh tế thị trường” đã cho rằng, “trong
thời kỳ đầu phát triển kinh tế thị trường với các nhu cầu của họ về đất đai, về
ứng dụng khoa học kỹ thuật, về thuê mướn sức lao động… nhưng do tâm lý
bao cấp, tự người nông dân đã đặt ra những rào cản cho mình” [46, 104].
Đồng thời, các tác giả cũng bước đầu làm rõ tâm trạng cũng như các nguyện

gốc của sự ổn định chính trị, làm cho cuộc sống bình yên, toàn dân đoàn kết là
tiền đề cho mọi thắng lợi.
Từ những khái quát trên có thể thấy, đã có nhiều công trình nghiên cứu
về vai trò của quần chúng nhân dân theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có thực hiện dân chủ ở
cơ sở.
Một số công trình đã làm rõ khái niệm, nội dung, bản chất, sự ra đời Quy chế
dân chủ cơ sở ở Việt Nam thời kỳ đổi mới; tác động của các nhân tố chủ quan,
khách quan đến thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, nhất là ở nông thôn. Đây là
những tư liệu cần thiết mà tác giả sẽ kế thừa trong quá trình thực hiện luận án.
1.1.2. Những nghiên cứu về thực trạng vai trò của nhân dân trong
thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài “Không ngừng phát huy dân
chủ ở cơ sở, khơi dậy tiềm năng, sức mạnh to lớn của nhân dân”, Tạp chí


15

Cộng sản, số 139 (7/2018) đã đánh giá một số thành tựu cơ bản qua 20 năm
thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở như: (1) Nhận thức về dân chủ và thực hành
dân chủ của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã
hội, cán bộ, đảng viên và nhân dân ngày càng được nâng lên; (2) Việc thực
hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đã góp phần phát huy vai trò, tiềm năng, sức
sáng tạo của nhân dân tham gia bàn bạc những công việc của địa phương, đất
nước. Những thành tựu trên là do cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện, đẩy mạnh tuyên
truyền, quán triệt và tổ chức thực hiện; sự đồng tình, ủng hộ của các tầng lớp
nhân dân [Xem: 93, tr. 6].
Tác giả Trần Quang Nhiếp trong công trình “Nhìn lại mười năm thực
hiện Quy chế dân chủ cơ sở” [71] cho rằng, qua mười năm thực hiện quy chế
dân chủ ở xã, phường, thị trấn đã đạt được những kết quả rất tích cực, góp
phần tạo động lực thúc đẩy, phát huy quyền làm chủ của người dân, thu hút

về thực hiện dân chủ ở cấp xã đã được quan tâm thực hiện; nhận thức, hiểu
biết pháp luật về thực hiện dân chủ ở cấp xã của cán bộ và nhân dân đã được
nâng cao; chính quyền cấp xã đã thực hiện niêm yết, thông báo những nội
dung công khai để nhân dân biết... Về hạn chế: công tác phổ biến, tuyên
truyền, giáo dục pháp luật thực hiện dân chủ ở cấp xã chưa đáp ứng được sự
mong đợi của cán bộ và nhân dân; kiến thức, hiểu biết của một bộ phận nhân
dân về nội dung của pháp luật dân chủ ở cấp xã còn hạn chế; việc thực hiện
các nội dung dân biết, dân bàn, dân giám sát ở một số nơi còn mang tính hình
thức... [10, tr. 34-42].
Tác giả Huỳnh Đảm trong công trình “Nhìn lại 10 năm thực hiện Quy
chế dân chủ ở cơ sở” [16] đã tổng kết bốn thành tựu lớn là: (1) Nhận thức của
các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và toàn xã hội về dân chủ và dân
chủ trực tiếp của nhân dân đã có nhiều chuyển biến tích cực; (2) Góp phần
đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an
toàn xã hội ở cơ sở; (3) Góp phần tích cực vào xây dựng đời sống văn hóa ở


17

cơ sở; (4) Góp phần xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở ngày càng trong sạch,
vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả [16, tr.18-20]. Tác giả cũng chỉ ra
một số hạn chế trong thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở như: Một bộ phận
cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ sự cần thiết, ý nghĩa của thực hiện
dân chủ ở cơ sở cho nên thiếu trách nhiệm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo,
thiếu gương mẫu trong thực hiện Quy chế. Tình trạng phô trương, hình thức
trong tổ chức thực hiện Quy chế ở nhiều nơi. Một bộ phận nhân dân có hiểu
biết pháp luật, ý thức thực hiện dân chủ còn thấp; tư tưởng tự do, vô tổ chức,
bè cánh, dòng họ còn khá nặng nề ; năng lực giám sát của nhân dân còn hạn
chế…[Xem 16, tr.20-22].
Tác giả Hà Thị Khiết trong bài “Những bài học kinh nghiệm về xây

cơ sở góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, xây dựng
nông thôn mới.
Trong bài "Phát huy quyền lực chính trị của dân trong thực hiện dân
chủ ở cơ sở"[81], tác giả Hoàng Đức Sơn cho rằng: việc thực hiện dân chủ ở
cơ sở gắn bó chặt chẽ với quá trình thực thi quyền lực chính trị của nhân dân.
Quyền lực chính trị của dân được xây dựng trên nền tảng khối đại đoàn kết
toàn dân, được tập hợp, tổ chức và dẫn dắt bởi hệ thống chính trị, trong đó
Đảng Cộng sản Việt Nam có vai trò lãnh đạo. Do vậy, để phát huy quyền lực
chính trị của dân cần tập trung xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh
toàn diện, đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các đoàn thể nhân dân ở cơ sở, tiếp tục thực hiện tốt QCDC ở cơ sở (nay là
Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn).
Nhận xét chung, các công trình nêu trên đã khái quát, đánh giá thực
trạng thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam từ năm 1998 đến nay, nhất
là từ sau khi ban hành Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Về
những thành tựu chủ yếu, hầu hết các công trình nghiên cứu cho rằng, nhận
thức và thực hiện dân chủ ở cơ sở đã được nâng lên một bước. Cán bộ và
người dân đều hiểu được ý nghĩa, tầm quan trọng của phát huy dân chủ ở cơ


20

sở. Nhờ thực hiện phát huy dân chủ, đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội
ở nông thôn có chuyển biến tích cực. Bên cạnh những thành tựu, các công
trình trên cũng chỉ ra một số, hạn chế chủ yếu, như một bộ phận nhân dân còn
thờ ơ với vấn đề thực hiện dân chủ cơ sở; việc thực hiện quy chế chưa nghiêm
dẫn đến tình trạng khiếu kiện đông người, vượt cấp ở nông thôn; một bộ phận
lợi dụng các quyền dân chủ dẫn đến vi phạm pháp luật, gây mất trật tự ở nông
thôn... Thực trạng trên do nhiều nguyên nhân, cả chủ quan lẫn khách quan;
trong đó, có một số nguyên nhân chủ yếu như trình độ phát triển kinh tế - xã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status