các chính sách và vai trò của chính phủ trong thực hiện asxh để đảm bảo công bằng xã hội - Pdf 13

Bài tiểu luận: Tài Chính Công
Lời mở đầu
uộc sống ngày càng phát triển, ngày càng tiến bộ, con người ngày càng
có cuộc sống đầy đủ, phong phú hơn, song quy luật “sinh lão bệnh tử”
không chừa một ai, cuộc sống luôn luôn tồn tại những khó khăn, rủi ro
khó lường từ các hoạt động của con người, từ thiên nhiên, dịch bệnh, các quá
trình phát triển kinh tế - xã hội Điều đó tác động xấu đến chất lượng cuộc sống
của con người, để tồn tại và phát triển con người đã có nhiều biện pháp để khắc
phục khó khăn. An sinh xã hội (ASXH) ra đời đã ngăn chặn và hạn chế bớt
những khó khăn, rủi ro trên.
C
Truyền thống tương trợ, hỗ trợ, san sẻ nhau đã xuất hiện từ xa xưa lúc con người
cùng nhau săn bắt, hái lượm để tồn tại, cùng nhau chiến đấu với thú dữ, thiên tai,
và cho đến ngày nay trước những biến cố, rủi ro của cuộc sống, tinh thần ấy vẫn
được phát huy mạnh mẽ và ngày càng có những hình thức đa dạng như: bảo
hiểm xã hội, trợ cấp xã hội, trợ cấp gia đình, các chương trình xoá đói giảm
nghèo, các quỹ tiết kiệm xã hội Đối với nước ta, bảo đảm ngày càng tốt hơn an
sinh xã hội luôn là một chủ trương, nhiệm vụ lớn của Đảng và Nhà nước, thể
hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta và có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự ổn
định chính trị - xã hội và phát triển bền vững của đất nước.
Vậy an sinh xã hội (ASXH) là gì? Thực trạng ASXH ở nước ta như thế nào? Còn
những hạn chế, tiêu cực gì trong ASXH? Vai trò của chính phủ như thế nào trong
việc giúp cuộc sống của người dân được nâng cao hơn, đảm bảo công bằng
hơn? Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp từ những tài liệu trên sách, báo,
internet và những gì thấy được ở thực tế, nhóm tiểu luận sẽ giải đáp những câu
hỏi trên, đồng thời cũng đưa ra một số giải pháp trong việc thực hiện an sinh xã
hội được tốt hơn, công bằng hơn.
Song kiến thức là bao la, thực tế lại là một bí ẩn khó có thể khám phá hết mọi
khía cạnh, những hiểu biết của chúng em lại còn hạn chế nên khó có thể tránh
được thiếu sót trong quá trình viết bài này. Rất mong thầy và các bạn góp ý
thêm để bài tiểu luận hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn!

Hệ thống an sinh xã hội của mỗi nước có tác động rất lớn đến an sinh khu vực và
thậm chí là cả thế giới.
2. Các bộ phận cấu thành của ASXH
2. 1- Bảo hiểm xã hội
Đây là bộ phận lớn nhất trong hệ thống ASXH. Có thể nói, không có
BHXH thì không thể có một nền ASXH vững mạnh. Theo nghĩa hẹp, cụ thể, có
thể hiểu BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người
Trang 2
Bài tiểu luận: Tài Chính Công
lao động khi họ mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc
giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm, thông qua việc hình thành và sử dụng
một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, nhằm
góp phần bảo đảm an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ; đồng thời
góp phần bảo đảm an toàn xã hội.
BHXH có những điểm cơ bản là: BHXH dựa trên nguyên tắc cùng chia sẻ rủi ro
giữa những người tham gia; đòi hỏi tất cả mọi người tham gia phải đóng góp tạo
nên một quỹ chung; các thành viên được hưởng chế độ khi họ gặp các “sự cố” và
đủ điều kiện để hưởng; chi phí cho các chế độ được chi trả bởi quỹ BHXH; nguồn
quỹ được hình thành từ sự đóng góp của những người tham gia, thường là sự chia
sẻ giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, với một phần tham gia của Nhà
nước; đòi hỏi tham gia bắt buộc, trừ những trường hợp ngoại lệ; phần tạm thời
chưa sử dụng của Quỹ được đầu tư tăng trưởng, nâng cao mức hưởng cho người
thụ hưởng chế độ BHXH; các chế độ được bảo đảm trên cơ sở các đóng góp
BHXH, không liên quan đến tài sản của người hưởng BHXH; các mức đóng góp
và mức hưởng tỷ lệ với thu nhập trước khi hưởng BHXH…
2.2- Trợ giúp xã hội
Đó là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội về thu nhập và các điều kiện sinh
sống thiết yếu khác đối với mọi thành viên của xã hội trong những trường hợp bất
hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ khả năng để tự lo được cuộc sống tối thiểu của
bản thân và gia đình.

Có thể bao gồm một phần để chi trả chế độ cho người lao động trong thời
gian ngừng việc (nằm trong chế độ BHXH).
2.7. Dịch vụ xã hội khác
3. Bản chất và tính tất yếu khách quan của an sinh xã hội
Theo khái niệm an sinh xã hội ở trên, có thể thấy:
+ ASXH trước hết đó là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của
mình.
+ Sự bảo vệ này được thực hiện thông qua các biện pháp công cộng.
+ Mục đích của sự bảo vệ này nhằm giúp đỡ các thành viên của xã hội
trước những biến cố, những “ rủi ro xã hội” dẫn đến bị giảm hoặc mất thu nhập….
Như vậy, có thể nói, bản chất sâu xa của ASXH là góp phần đảm bảo thu nhập
và đời sống cho các công dân trong xã hội với phương thức hoạt động là thông qua
các biện pháp công cộng, nhằm tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội
Trang 4
Bài tiểu luận: Tài Chính Công
và vì vậy mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc. Có thể thấy rõ bản chất của
ASXH từ những khía cạnh sau:
3.1 ASXH là biểu hiện rõ rệt của quyền con người đã được Liên hợp
quốc thừa nhận.
Để thấy rõ bản chất của ASXH, cần hiểu rõ mục tiêu của nó. Mục tiêu của ASXH
là tạo ra một lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp bảo vệ cho tất cả mọi thành
viên của cộng đồng trong những trường hợp bị giảm hoặc bị mất thu nhập hoặc
phải tăng chi phí đột xuất trong chi tiêu của gia đình do nhiều nguyên nhân khác
nhau, như ốm đau, thương tật, già cả… gọi chung là những biến cố và những “rủi
ro xã hội”. Để tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp, ASXH dựa trên
nguyên tắc san sẻ trách nhiệm và thực hiện công bằng xã hội, được thực hiện bằng
nhiều hình thức, phương thức và các biện pháp khác nhau.
ASXH, như đã nêu, có nội dung rất rộng lớn, nhưng tập trung vào ba vấn đề chủ
yếu:
Thứ nhất, là trụ cột cơ bản, cần thiết cho sự bảo đảm, đó là sự BHXH. Có

họ hướng tới những chuẩn mực của Chân – Thiện – Mỹ. Nhờ đó, một mặt có thể
chống thói ỷ lại vào xã hội; mặt khác, có thể chống lại được tư tưởng mạnh ai nấy
lo, “đèn nhà ai nhà ấy rạng”… ASXH là yếu tố tạo nên sự hòa đồng mọi người
không phân biệt chính kiến, tôn giáo, chủng tộc, vị trí xã hội… Đồng thời, giúp
mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, góp phần tạo nên một cuộc sống công
bằng, bình yên.
3.3 ASXH thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, tương thân
tương ái của cộng đồng. Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là một
trong những nhân tố để ổn định và phát triển xã hội. Sự san sẻ trong cộng
đồng, giúp đỡ những người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân
bản của con người, bảo đảm cho một xã hội phát triển lành mạnh.
3.3.1. ASXH thực hiện một phần công bằng và tiến bộ xã hội. Trên bình
diện xã hội, ASXH là một công cụ để cải thiện các điều kiện sống của các tầng lớp
dân cư. Trên bình diện kinh tế, ASXH là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa
các thành viên trong cộng đồng, được thực hiện theo hai chiều ngang và dọc. Sự
phân phối lại thu nhập theo chiều ngang là sự phân phối lại giữa những người khoẻ
mạnh và người ốm đau, giữa người đang làm việc và người đã nghỉ việc…. Một
bên là những người đóng góp đều đặn vào các loại quỹ ASXH hoặc đóng thế, còn
bên kia là những người được hưởng trong các trường hợp với các điều kiện xác
định. Thông thường, sự phân phối lại theo chiều ngang chỉ xảy ra trong nội bộ
những nhóm người được quyền hưởng trợ cấp (một “tập hợp đóng” tương đối).
Sự phân phối lại thu nhập theo chiều dọc là sự chuyển giao tài sản và sức mua của
những người có thu nhập cao cho những người có thu nhập quá thấp, cho những
nhóm người “yếu thế”. Phân phối lại theo chiều dọc được thực hiện bằng nhiều kỹ
thuật khác nhau: trực tiếp (thuế trực thu, kiểm soát giá cả, thu nhập và lợi
nhuận…) hoặc gián tiếp (trợ cấp thực phẩm, cung cấp hiện vật hoặc các dịch vụ
Trang 6
Bài tiểu luận: Tài Chính Công
công cộng như giáo dục, y tế, nhà ở, giúp đỡ và bảo vệ trẻ em…). Việc phân phối
lại theo chiều dọc có ý nghĩa xã hội rất lớn (thực hiện cho một “tập hợp mở” tương

Trang 7
Bài tiểu luận: Tài Chính Công
Bảo hiểm xã hội.
Trợ giúp xã hội.
Trợ cấp gia đình.
Các quỹ tiết kiệm xã hội.
Các dịch vụ xã hội khác được tài trợ bằng nguồn vốn công cộng…
Các tổ chức chính liên quan đến ASXH ở Việt Nam
Bô lao đông -thương binh và xã hội
Bộ Y tế
Hội chữ thập đỏ
Ngân hàng chính sách xã hội
1.4 Vai trò và tầm quan trọng của ASXH ở Việt Nam.
1.4.1 Vai trò của an sinh xã hội:
Hệ thống an sinh xã hội có vai trò là quản lý và đối phó với rủi ro, bao gồm
ba nấc:
Một là, phòng ngừa rủi ro thông qua hệ thống các chính sách bảo hiểm
xã hội. Bảo hiểm xã hội là bộ phận quan trọng nhất, có ý nghĩa vô cùng to lớn và
thiết thực đối với đời sống của người lao động trong hệ thống an sinh xã hội. Với
việc mở rộng đối tượng bảo hiểm xã hội đến mọi người dân dưới hai hình thức
tham gia bắt buộc và tự nguyện; với chế độ bảo hiểm xã hội bằng các khoản trợ
cấp dài hạn, trợ cấp ngắn hạn và bảo hiểm y tế; với việc quản lý và thực hiện bảo
hiểm xã hội tập trung thống nhất, và với việc quỹ bảo hiểm xã hội được thanh toán
độc lập dưới sự bảo trợ và điều hành của Nhà nước, thì hệ thống an sinh xã hội sẽ
hoàn toàn có thể làm tốt chức năng phòng ngừa rủi ro.
Trong cuộc sống hầu như không ai không một lần gặp rủi ro, bất hạnh. Có
những rủi ro đột xuất không thể dự đoán được, như tai nạn nghề nghiệp, thất
nghiệp, nhưng cũng có những rủi ro không ai có thể tránh được như bệnh tật, tuổi
già. Bởi vậy, phòng ngừa rủi ro là nhiệm vụ của mỗi người, của toàn dân mà Nhà
nước là người đứng ra tổ chức, điều hành. Phòng ngừa rủi ro phải phòng ngừa từ

khi đại bộ phận người là người nghèo khổ. Vậy, ASXH là vô cùng quan trọng cho
đời sống người dân.
Hệ thống bảo hiểm xã hội:
BHXH đảm bảo quyền lợi cho người lao động trên cơ sở đóng góp
của người sử dụng lao động và người lao động.
Bản chất của BHXH là bảo đãm bù đắp một phần hoặc thay thế thu
nhập của người lao động khi bị giảm hoặc mật thu nhập do ốm đau, thai sản, tai
nạn giao thông, bệnh nghề nghiệp…
Thực hiện BHXH,BHYT nhằm ổn định cuộc sống người dân, trợ
giúp người lao động khi họ gặp rủi ro đau ốm … đối với Doanh nghiệp thì nó giúp
cho doanh nghiệp giảm bớt khó khăn, lo lắng về nguồn lao động của doanh nghiệp
khi gặp sự cố để họ yên tâm sản xuất kinh doanh.
Chính sách BHXH là một bộ phận quan trọng của chính sách xã hội,
giúp nhà nước điều tiết mối quan hệ giữa kinh tế và xã hội trên phương diện vĩ mô.
Bảo đảm cho nền kinh tế liên tục phát triển nhưng vẫn giữ vững ổn định xã hội
trong từng thời kì cũng như trong xuốt quá trình.
Trang 9
Bài tiểu luận: Tài Chính Công
Với quyền lợi mà người lao động được hưởng khi tham gia BHXH,
BHYT đã góp phần thu hút lực lượng lao động vào sản xuất. Việc được tham gia
bảo hiểm khi đang làm việc và được hưởng lương hưu khiến ngừoi lao đông hứng
khởi trong công việc, tâm lý ổn định hơn.
BHXH là một công cụ quan trọng góp phần điều tiết thu nhập một
cách công bằng và hợp lý giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội.
1.4.2.2 Hệ thống trợ cấp
Hệ thống này hoàn toàn dựa vào các chế độ phúc lợi từ ngân sách
nhà nước. người nhận được các quyền lợi mà không cần phải đóng góp. Chính
sách này giúp người co công với cách mạng, những người gặp khó khăn như người
già neo đơn, bị thiệt hại do thiên tai lũ lụt … có thể cải thiện đời sống của mình,
lạc quan tin tưởng vào tương lai. Qua đó, giúp giữ vững và ổn định chính trị xã

Sau đây là thực trạng của các vấn đề đó hiện nay:
1/ Nhóm các chế độ bảo hiểm xã hội:
Mặc dù được tạo điểu kiện nhưng thực tế cho thấy vẫn còn một bộ
phận người lao động chưa tham gia BHXH bắt buộc, đặc biệt là khu vực ngoài nhà
nước. Một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng này là do công tác tổ chức
thực hiện các chế độ của BHXH còn nhiều bất cập dẫn đến việc thực thi các qui
định của Luật bảo hiểm còn nhiều hạn chế.
Luật Bảo hiểm xã hội hiện hành gồm 03 loại bảo hiểm, gồm BHXH bắt
buộc, BHXH tự nguyện, và bảo hiểm thất nghiệp đã tạo cơ hội cho người lao động
tham gia bảo hiểm.
Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc tăng nhanh cả về quy mô và tốc độ.
Từ 4,8 triệu người năm 2001 tăng lên 9,4 triệu người năm 2009, chiếm 18% tổng
số lực lượng lao động. Nguồn thu quỹ BHXH bắt buộc tăng nhanh từ 6348 tỷ đồng
vào năm 2001 lên 36,8 nghìn tỷ đồng năm 2009. Tổng chi BHXH bắt buộc cũng
tăng nhanh, từ 1856 tỷ đồng năm 2001 lên 54,9 nghìn tỷ đồng năm 2009 ( trong đó
chi từ ngân sách Nhà nước là 26,8 nghìn tỷ).
Sau một năm triển khai thực hiện BHXH tự nguyện, số người tham gia
đạt gần 50000 người. Nguồn thu quỹ BHXH tự nguyện ước tính đạt 69,5 tỷ đồng
và chi khoảng 10,9 tỷ đồng năm 2009.
Năm 2009, có khoảng 9% dân số từ 50 tuổi trở lên sống bằng lương
hưu.
Công tác quản lý ngày càng đi vào nề nếp, công tác giám sát ngày càng
tăng cường, mạng lưới thu chi ngày càng mở rộng.
Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận chưa tham gia BHXH bắt buộc, Nói về
bảo hiểm thất nghiệp, luật chỉ cho phép đơn vị sử dụng lao động có sử dụng từ 10
Trang
11
Bài tiểu luận: Tài Chính Công
lao động trở lên mới được tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Điều này làm hạn chế
khả năng tham gia bảo hiểm thất nghiệp của người lao động làm cho doanh nghiệp

12
Bài tiểu luận: Tài Chính Công
nghèo, hộ nghèo, địa bàn nghèo. Hệ thống chính sách giảm nghèo tương đối toàn
diện , tập trung vào các vùng đặc thù, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc, miền núi.
Giảm nghèo được thực hiện đồng thời trên 3 phương diện: Tăng cường
tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, dạy nghề – Hỗ trợ chính sách phát triển thông
qua các chính sách tín dụng ưu đãi – Phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu cho xã đặc
biệt khó khăn.
Kết quả tỉ lệ nghèo đã giảm nhanh, từ 29% năm 2002 giảm xuống còn
15,9% năm 2006, và 11,3 % vào cuối năm 2009. Hộ nghèo được tăng cường tiếp
cận chính sách. Trong 3 năm 2006-2008, gần 4,2 triệu hộ được vay vốn; gần 2,1
triệu lượt người nghèo được hướng dẫn làm ăn, chuyển đổi kỷ thuật. 60 nghìn
người nghèo được miễn giãm học phí nghề; mỗi năm hỗ trợ được 30nghìn người
học nghề; khoảng 7,8 triệu lượt học sinh nghèo được miễn giảm học phí và các
khoản đóng góp cho trường; 99,54% người nghèo được cấp BHYT năm 2008; 340
nghìn hộ nghèo được hỗ trợ xóa nhà tạm. Hệ thống cơ sở hạ tầng ở những địa bàn
khó khăn đã được cải thiện đáng kể.
Tuy nhiên, một số hộ nghèo vẫn không được hưởng các chính sách do bị
hạn chế điều kiện tham gia.Các chính sách thiên về hỗ trợ bằng tiền và hiện vật
hơn là tạo cơ hội việc làm cho người nghèo tự vương lên. Tuy đã có các chính sách
miễn giảm học phí, tặng sách tập cho con em hộ nghèo, nhưng nhìn chung chi phí
còn lại họ phải chịu còn cao vượt mức khả năng chi trả. Nên một bộ phận con em
hộ nghèo vẫn chưa hoàn thành phổ cập giáo dục. Hỗ trợ y tế còn nhiều bất cập.
Hệ thống dịch vụ xã hội:
Về y tế: song song với phát triển dịch vụ khám chửa bệnh, các dịch vụ
chăm sóc sức khỏe tại các vùng nghèo, đối vơi hộ nghèo ngày càng phát triển dưới
nhiều hình thức như việc thiết lập các tổ, đội y tế lưu động đi khám, chữa bệnh,
thực hiện các hoạt động phòng bệnh theo định kỳ ở nông thôn, bản. Tuy vậy, Các
trạm y tế ở các xã chất lượng còn thấp, mới có 46% xã có trạm y tế đạt chuẩn quốc
gia. Đội ngũ y bác sĩ còn thiếu, các trang thiết bị còn thô sơ, lạc hậu không đãm

phân bố nguồn nhân lực, ổn định đởi sống cho đồng bào dân tộc thiểu số và
bảo vệ an ninh quốc phòng
Tái thành lập Tổng cục dạy nghề để tạo điều kiện nâng cao chất lượng việc
làm của người lao động thông qua nâng cao chất lượng nguồn lao động.
Mở rộng phạm vi đối tượng tham gia các hình thức BHXH và BHYT.
Hàng năm cứu trợ đồng bào miền trung gặp thiên tai ( bão tố, lũ lụt, )
Thành lập quỹ bảo trợ nạn nhân chất độc da cam, …
Đưa ra chính sách ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh, những người
tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc da cam, chính sách
ưu đãi đối với gia đình liệt sỹ, gia đình có công Cách mạng.
Chính sách đối với người cao tuổi, đối với bà mẹ và trẻ em.
Trang
14
Bài tiểu luận: Tài Chính Công
Các chính sách trợ cấp đối với hộ nghèo, ngưởi thất nghiệp,…
2.3 Những việc chưa làm được của ASXH
Hệ thống ASXH phát triển chưa đầy đủ, toàn diện, thiếu sự liên kết và hỗ
trợ nhau.
Một số chính sách ASXH còn tồn tại những bất hợp lý.
Chưa có các chính sách ASXH đặc thù và phù hợp với dân cư nông thôn và
các vùng dân tộc, miền núi có điều kiện sống khó khăn.
Diện bao phủ của hệ thống còn chưa cao, tập trung vào các thành phố lớn
và các tỉnh đồng bằng nơi có hoàn cảnh sống thuận lợi, chưa mở rộng đối với
những đối tượng nông thôn, miền núi vùng khó khăn.
Chất lượng cung cấp các dịch vụ ASXH, đặc biệt là dịch vụ y tế, còn hạn
chế
Năng lực tổ chức và quản lý còn hạn chế đối với các loại hình ASXH.
Nguồn lực đầu tư cho ASXH của Nhà nước chưa đáp ứng được yêu cầu
ngày càng tăng của ASXH.
Hệ thống an sinh xã hội không tác động ngang nhau lên toàn bộ dân số

chính là những y bác sĩ nhà nước tại cơ quan y tế tham gia bảo hiểm y tế (BHYT).
Nhiều hình thức lạm dụng và gian lận đã xảy ra như kê nhiều chỉ định cận lâm
sàng, kỹ thuật cao để mau thu hồi vốn đầu tư thiết bị cận lâm sàng hoặc để kiếm
lời nhiều hơn khi hợp tác với đơn vị thứ ba. Có không ít đơn vị y tế kê khống số
lượng, giả mạo chữ ký bệnh nhân để nhận nhiều tiến chi trả BHYT. Có nơi báo
cáo quyết toán chỉ căn cứ vào chỉ định của bác sĩ chứ không kiểm tra chỉ định đó
có được thực hiện hay không. Việc kiểm tra đối chiếu quyết toán hoàn toàn dựa
vào báo cáo của bệnh viện đưa lên chứ không căn cứ vào thực tế. Điều đó tạo kẻ
hở cho một số bác sĩ lợi dụng nhiệm vụ tham gia khám BHYT để giả mạo hồ sơ
bệnh nhân BHYT rút tiền hàng chục tỷ đồng.
Hay như việc chậm chi trả bảo hiểm cho bệnh nhân, hoặc người khám bảo
hiểm thì phải chờ lâu hơn người khám không bảo hiểm. Không nói đâu xa, những
người già ốm đau, sinh viên, học sinh mặc dù đến trước nhưng vẫn phải ngồi chờ
hàng giờ để được khám bệnh. Như, Tất cả sinh viên các trường Đại Học, Cao
Đẳng đều mua BHYT và BHTN đây là các bảo hiểm bắt buộc theo qui định mới
của chính phủ. Tuy nhiên, nhìn chung không phải chỉ có riêng bản thân tôi chán
nản với BHYT.Chúng tôi tin tưởng vào chính sách của nhà nước.Nhưng chúng tôi
lại rất ít khi dùng đến nó, không phải chúng tôi không bị bệnh mà là chúng tôi
chấp nhận khám không cần Bảo hiểm. Vì sao? Một câu hỏi mà ai cũng rõ. Vì hiện
nay vẫn còn tồn tại khá nhiều bệnh viện khám bệnh, khi bệnh nhân khám theo
BHYT thì thái độ của các cán bộ, y bác sĩ là không tốt. Đôi khi bệnh nhân phải
chờ rất lâu mới tới lượt, khám qua loa, sự thờ ơ với nỗi đau của bệnh nhân khiến
tôi nãn lòng. Điển hình: Nhiều sản phụ khó sanh, nhưng vẫn không được mỗ. Bác
sĩ nói để sanh tự nhiên cho tốt, nên cứ nằm chờ. Biết là sanh tự nhiên là tốt nhưng
thử hỏi làm sao sanh được khi đứa trẻ năng 4,2 kg. Khi họ đau nằm chờ cũng
Trang
16
Bài tiểu luận: Tài Chính Công
không có người quan tâm, hỏi han. Chỉ mỗ khi người me ngất đi. Đứa trẻ ra đời
nhưng thân thể tím tái, phải nằm lồng ấp, phải thở ôxi, được chuẩn đoán là bị ngạt,

Nhất, tỉnh Đồng Nai:
Không ít người chết đã 2 - 3 năm, nhưng hàng
tháng, họ vẫn đều đặn có tên trong danh sách nhận
Trang
17
Bà Nguyễn Thị Xuân đã chết,
nhưng danh sách nhận tiền trợ
cấp vẫn còn đến quý III/2006
Bài tiểu luận: Tài Chính Công
tiền trợ cấp thường xuyên. Thậm chí, những người đã chết này còn ký tên, hoặc
điểm chỉ vân tay trên danh sách nhận tiền.
Như bà Lại Thị Vui cũng đã chết, nhưng tiền trợ cấp vẫn còn đến quý
III/2006.
Qua điều tra, một nguồn tin khác cho chúng tôi biết, ông Phạm Tiến Hưng -
cán bộ phụ trách chi trả tiền xã hội, thuộc UBND xã Gia Tân 1 - cũng xà xẻo, bớt
xén tiền trợ cấp của 20 người đang còn sống. Thí dụ: Quý III năm 2006, thay vì bà
Phạm Thị Liễu được hưởng 590.000 đồng, thì ông Hưng chỉ đưa bà Liễu 500.000
đồng.
Tỉnh Hà Tĩnh sai phạm liên quan đến vụ việc sử dụng tiền cứu trợ lũ quét
năm 2002 tại huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh.
Tháng 9/2002, huyện Hương Sơn xảy ra trận lũ quét lịch sử, gây thiệt hại
nặng về người và tài sản. Ước tính thiệt hại vật chất hơn 200 tỷ đồng. Ngoài lương
thực, Hương Sơn được trợ cấp, tiền tiếp nhận quản lý, sử dụng là 24,4 tỷ đồng.
Tổng số tiền hỗ trợ nhân dân là 5,3 tỷ đồng được giao cho hai phòng chức năng là
LĐ-TBXH và Kế hoạch-tài chính trực tiếp cấp phát cho các xã. Tuy nhiên, hai
phòng này chuyển cho các xã chỉ vỏn vẹn gần 1,6 tỷ đồng. Số còn lại,được chi tuỳ
tiện vào những mục đích không có trong danh mục cứu trợ. Trong gần 1,6 tỷ đồng
mà hai phòng chức năng của UBND huyện phân bổ cho các xã cũng phát sinh
những vấn đề nghiêm trọng.Thị trấn Phố Châu và 4 xã lân cận được "chia" 688
triệu đồng, nhưng theo danh sách, nhân dân tại các địa phương này chỉ nhận được

dân tộc thiểu số: Thành lập Ngân hàng phục vụ người nghèo, Thành lập tổ chức
trợ giúp pháp lý cho người nghèo, quan tâm đến người lao động nghèo trong quá
trình chuyển đổi DNNN thành công ti cổ phần, Thành lập Ban chủ nhiệm
chương trình mục tiêu XĐGN, Thành lập Ban chỉ đạo thực hiện chương trình
phát triển kinh tế – xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng
xa;
• Chính sách đối với người tàn tật: Ban hành pháp lệnh người tàn tật,
Khuyến khích thành lập và hỗ trợ Hội bảo trợ người tàn tật (Hội người mù,…);
• Chính sách đối với nạn nhân chất độc da cam: Thành lập quỹ bảo trợ nạn
nhân chất độc da cam, …
• Chính sách cứu trợ xã hội đối với công chức nhà nuớc, người hưởng
lương trong lực lượng vũ trang qua hình thức trợ cấp khó khăn đột xuất và
thường xuyên.
Trang
19
Bài tiểu luận: Tài Chính Công
Ngoài ra nhà nước đã mở rộng cơ chế để tạo sự trợ giúp từ cộng đồng ban
hành qui chế tổ chức và hoạt động của quiõ xã hội, quiõ từ thiện, phát động
phong trào tình nguyện . Đặc biệt trong thời gian gần đây, nguồn nhân tài vật lực
đóng góp cho cứu trợ xã hội không chỉ được đóng góp từ trong nước mà còn đến
từ kiều bào Việt Nam ở nước ngoài và cả kiều bào nước ngoài.
3.1.2 Chăm sóc y tế .
Ở nước ta, việc chăm sóc y tế được thực hiện theo cách khác nhau qua ba giai
đoạn:
Giai đoạn từ năm 1961 đến 1992: Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH
năm 1961 coi việc chăm sóc y tế cùng với chế độ trợ cấp ốm đau là một chế độ
quan trọng hàng đầu của BHXH. Cụ thể như sau:
Đảm bảo chăm sóc y tế cho công nhân, viên chức nhà nước;
Đảm bảo cho cả trường hợp ốm đau, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp,
mang thai và sinh đẻ;

chế độ bắt buộc), việc sát nhập làm cho việc quản lý thuận lợi hơn, vừa tiết kiệm,
vừa đảm bảo phục vụ tốt hơn cho người được bảo hiểm;
Dù trước đây, Bảo hiểm y tế trực thuộc Bộ Y tế nhưng việc chăm sóc y tế
vẫn là theo mô hình gián tiếp. Về lâu dài, dù muốn chắc chắn nước ta cũng chưa
có thể áp dụng mô hình trực tiếp chăm sóc y tế, nên việc chuyển về BHXH một
mặt, vẫn giữ nguyên mô hình gián tiếp; mặt khác, vai trò, trách nhiệm một người
quản lý quiõ tiền sẽ dễ phát huy hơn trong việc tổ chức thu – chi, giám sát việc
cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế của cơ sở y tế, đầu tư và phát triển quiõ, …
3.1.3 Ưu đãi xã hội :
Cơ chế ưu đãi xã hội là nét riêng có trong hệ thống ASXH Việt Nam. Cơ
chế này nhằm đảm bảo cho 2 nhóm người chủ yếu như sau:
Nhóm những người đã có công sức đóng góp cho vận mệnh của đất nước,
công cuộc cách mạng của dân tộc bao gồm: những người đã gắn bó cả cuộc đời
của mình với sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp của cộng đồng; những người gặp
rủi ro trong quá trình hoạt động cho sư nghiệp chung của cộng đồng. Phần lớn
những người thuộc nhóm này thường bị suy giảm, mất khả năng lao động, khả
năng cầu tiến trong điều kiện cạnh tranh của thị trường trong khi sự đóng góp
của họ là vô giá (tính mạng, thân thể, gia sản, …). Việc ưu đãi đặc biệt những
người này so với những người lao động bình thường kể cả những người lao động
bất hạnh khác là phù hợp với truyền thống lâu đời của dân tộc: uống nước nhớ
nguồn. Các chính sách đãi ngộ nhóm người này gồm có:
Chính sách ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh, những người tham gia
kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc da cam;
Chính sách ưu đãi đối với gia đình liệt sỹ, gia đình có công giúp đỡ Cách
mạng.
Trang
21
Bài tiểu luận: Tài Chính Công
Nhóm những người đã và sẽ cung cấp sức lao động quiù báu cho nền kinh tế-xã
hội bao gồm những người già đã có quá trình làm việc, lao động lâu năm, cống

vật chất dịch vụ xã hội ngày càng tốt hơn, mặt khác, nhà nước có thể tập trung
Trang
22
Bài tiểu luận: Tài Chính Công
nguồn lực của mình để chăm sóc tốt hơn cho các đối tượng ưu đãi xã hội và
BHXH.
3.1.5 Các khoản đảm bảo khác được cung cấp bởi người sử dụng lao động
a. Trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc
Trợ cấp thôi việc là khoản tiền của người sử dụng lao động trả cho người
lao động thuộc quyền quản lý khi người lao động thôi việc theo các truờng hợp
đã có qui định của pháp luật như: mãn hạn hợp đồng, người lao động đơn
phương chấm dứt hợp đồng một các hợp pháp, người sử dụng lao động đơn
phương chấm dứt hợp đồng không phải vì lý do nguời lao động phạm lỗi nặng bị
sa thải. Trợ cấp mất việc là trợ cấp cho người lao động bị thôi việc do doanh
nghiệp thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ khiến cho người lao động chưa đến hạn
hoặc chưa đến lúc chấm dứt hợp đồng đã bị mất việc một cách bị động. Trợ cấp
mất việc vừa bao hàm ý nghĩa là trợ cấp thôi việc vừa có ý nghĩa là một khoản
bồi thường, bù đắp thiệt thòi cho người lao động do người sử dụng lao động dơn
phương đình chỉ hợp đồng.
b. Sự đảm bảo của người sử dụng lao động đối với người lao động
tàn tật
Đây có thể xem là một loại chế độ cứu trợ xã hội đối với người lao động tàn
tật, chỉ có điều là nhà nước không trực tiếp thực hiện mà qui định buộc người sử
dụng lao động phải thực hiện. Luật Lao động có mục riêng về lao động là người
tàn tật có qui định các doanh nghiệp phải nhận một tỷ lệ lao động là người tàn tật
so với tổng số lao động để làm việc ở vị trí thích hợp, nếu không nhận thì phải
nộp một khoản tiền góp vào quiõ tạo việc làm cho người tàn tật, qui định các chế
độ ưu đãi giảm, miễn thuế cho những doanh nghiệp dành riêng cho người tàn tật
hoặc nhận số lao động là người tàn tật vào làm việc cao hơn tỷ lệ qui định.
c. Sự đảm bảo của người sử dụng lao động đối với lao động bị tai

103/2008/QĐ-TTg ngày 21/7/2008.
Đề án về Dạy nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 vừa được
Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1956/2009/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 nhằm
tăng cường khả năng tiếp cận của các đối tượng này đến hệ thống giáo dục, đào tạo
và dạy nghề
Dịch vụ việc làm
, Chính phủ đã thực hiện các chương trình hỗ trợ di cư đến các vùng kinh tế
mới; phát triển các chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh định cư đối với
đồng bào dân tộc thiểu số (Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg); xây dựng chương
trình di dân gắn với xóa đói giảm nghèo. Các chương trình di dân đã đáp ứng
một phần về tái phân bố nguồn lao động, ổn định đời sống cho đồng bào dân
tộc thiểu số và bảo vệ an ninh quốc phòng
Trang
24
Bài tiểu luận: Tài Chính Công
Các chính sách hỗ trợ lao động là người tàn tật, lao động nữ, lao động làm công
hưởng lương bị mất việc làm cũng được đưa vào thực hiện:
Hỗ trợ tạo việc làm đối với người tàn tật trên cơ sở Pháp lệnh về
người tàn tật và thành lập các quĩ việc làm dành cho người tàn tật.
Khuyến khích doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ trong mọi
ngành nghề để phù hợp với sức khỏe của lao động nữ.
Bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động bị mất việc làm từ ngày
1/1/2009
Chăm sóc y tế
Đảm bảo chăm sóc y tế cho công nhân, viên chức nhà nước;
Đảm bảo cho cả trường hợp ốm đau, tai nạn lao động – bệnh nghề
nghiệp, mang thai và sinh đẻ;
Thực hiện chăm sóc y tế miễn phí tức toàn bộ do nhà nước đài thọ
(cung cấp dịch vụ khám, điều trị, tiền thuốc men, bồi dưỡng, phí tổn tàu xe đi lại
khám – chữa bệnh, …). Tuy nhiên, có sự phân biệt nơi khám và điều trị theo nhóm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status