1
BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI KHOA HỌC ĐỘC LẬP CẤP NHÀ NƯỚC:
“NGHIÊNCỨUCHÍNHSÁCHVÀGIẢIPHÁP ĐẢMBẢOCÔNG
BẰNGXÃHỘITRONGPHÂNPHỐITIỀNLƯƠNGVÀTHU
NHẬPTRONGCÁCLOẠIHÌNHDOANHNGHIỆP”
Mã số: ĐTĐL2007.G/50
Chủ nhiệm: Huỳnh Thị Nhân
7914
Hà Nội, 2009
2
MỤC LỤC
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH
VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG PHÂN PHỐI TIỀN LƯƠNG
VÀ THU NHẬP TRONG CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP 4
I. ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT CÁC CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG VÀ THU NHẬP CỦA NHÀ NƯỚC
THỜI GIAN QUA 100
1. Trong cải cách chính sách tiền lương năm 1993 101
2. Trong cải cách chính sách tiền lương năm 2003 104
II. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG VÀ THU NHẬP TRONG CÁC
LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP 108
1. Thực trạng thực hiện chính sách tiền lương và thu nhập theo ngành trong các loại hình doanh nghiệp
114
2. Thực trạng thực hiện chính sách tiền lương và thu nhập theo vùng trong các loại hình doanh nghiệp
132
III. THỰC TRẠNG CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG PHÂN PHỐI TIỀN LƯƠNG VÀ THU NHẬP
TRONG CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP 144
1. Công bằng về tiền lương tối thiểu 145
2. Công bằng trong quan hệ tiền lương và thu nhập 153
3
3. Công bằng xã hội trong phân phối tiền lương và thu nhập xét từ góc độ năng suất lao động 162
4. Hệ số GINI về tiền lương trong các loại hình doanh nghiệp 176
III. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN GIẢI QUYẾT 180
1.Về quan hệ phân phối tiền lương và thu nhập trong các loại hình doanh nghiệp 180
2.Về công bằng xã hội trong phân phối tiền lương và thu nhập trong các loại hình doanh nghiệp (chính
sách và tổ chức thực hiện) 181
CHƯƠNG III. MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH VÀ CÁC GIẢI PHÁP TIẾP TỤC
ĐẢM BẢO CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG PHÂN PHỐI TIỀN LƯƠMG VÀ THU NHẬP
KẾT LUẬN 255
TÀI LIỆU THAM KHẢO 259
4
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN HOÀN
THIỆN CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO CÔNG BẰNG
XÃ HỘI TRONG PHÂN PHỐI TIỀN LƯƠNG VÀ THU NHẬP
TRONG CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP
I. PHÂN PHỐI TIỀN LƯƠNG VÀ THU NHẬP TRONG KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG
1. Quan hệ phân phối tiền lương và thu nhập trong kinh tế thị trường
1.1. Bản chất quan hệ phân phối trong nền kinh tế thị trường
Trong kinh tế hàng hóa, mà đỉnh cao là kinh tế thị trường, sản xuất - phân
phối - trao đổi - tiêu dùng là những bộ phận cấu thành không thể tách rời của quá
trình tái sản xuất xã hội. Trong đó, sản xuất là điểm xu
ất phát, tiêu dùng là điểm
cuối cùng, phân phối và trao đổi là khâu trung gian. Giữa chúng có mối quan hệ,
tác động qua lại với nhau, nhưng sản xuất bao giờ cũng là gốc, là khâu quyết định.
Phân phối bao gồm phân phối các yếu tố sản xuất (các yếu tố đầu vào) và
phân phối kết quả của sản xuất (các kết quả đầu ra). Với quan niệm này, phân phối
có nội hàm rất rộng. Xét về mặt giá trị, các y
ếu tố đầu vào hình thành chi phí sản
Nhà nước, đầu tư phát triển (phần từ ngân sách Nhà nước), chi cho chính sách xã
hội, an sinh xã h
ội, phúc lợi xã hội…
- Chủ sở hữu vốn: Được phân phối theo vốn (trả lãi tiền vay, cổ tức, lợi
nhuận giữ lại cho doanh nghiệp, khấu hao tài sản cố định…).
- Lao động: Được phân phối theo sự đóng góp của lao động (tiền lương, tiền
công và thu nhập…).
1.2. Quan hệ phân phối tiền lương và thu nhập trong doanh nghiệp
Khi bàn đến tiền lương, tiền công trong kinh tế thị
trường các nhà kinh tế
và quản lý thường đặt trọng tâm vào quan hệ phân phối trong khu vực sản xuất
kinh doanh, tức là quan hệ phân phối trong các loại hình doanh nghiệp.
Trong kinh tế thị trường, mục tiêu số một của doanh nghiệp là lợi nhuận.
Tuy nhiên, muốn có lợi nhuận, doanh nghiệp phải kết hợp tối ưu các yếu tố vốn,
lao động và thị trường Người chủ sử dụng lao động có vốn, ngườ
i lao động có
sức lao động. Quan hệ phân phối trong các doanh nghiệp (phân phối lần đầu) chủ
yếu là quan hệ giữa phân phối theo vốn và theo lao động. Tuy nhiên, quan hệ phân
phối này lại phụ thuộc vào kết quả cuối cùng của sản xuất kinh doanh. Đây là bài
toán rất phức tạp đặt ra trong thực tiễn, vì nó liên quan đến lợi ích giữa các bên
(các chủ thể) trong sản xuất kinh doanh (chủ sử dụng lao động và người lao động)
và v
ới Nhà nước. Trong quan hệ phân phối này, việc trả lương đúng đắn sẽ tạo
động lực to lớn thúc đẩy tăng năng suất lao động, tạo ra nhiều giá trị mới, nâng
6
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong
doanh nghiệp, tuy tiền lương là giá cả sức lao động, là yếu tố đầu vào của sản
xuất, tham gia vào hình thành chi phí sản xuất và được phân phối theo kết quả đầu
ra, nhưng việc xác định tiền lương trả cho người lao động lại được dựa trên cơ sở
giá trị lao động trên cơ sở tính đúng, tính đủ chi phí lao động; phụ thuộc vào quan
hệ cung - cầu lao động và được xác định thông qua cơ chế đối thoại, thương
lượng, thỏa thu
ận giữa các bên trong quan hệ lao động. Xét về mặt này, tiền
7
lương thuộc phạm trù phân phối.
Ở đây, người lao động đóng góp sức lao động của mình vào quá trình tạo ra
giá trị hàng hóa và dịch vụ thì được nhận một phần dưới hình thức tiền lương, tiền
công và thu nhập. Cơ cấu thu nhập ở đây chủ yếu là tiền lương, tiền công, cộng
với các khoản phụ cấp và tiền thưởng (chưa tính BHXH và các phúc lợi xã hội
thông qua tái phân phối). Từ
đó, yêu cầu thực tiễn của phân phối tiền lương ở
doanh nghiệp trong kinh tế thị trường là:
Thứ nhất, tiền lương, tiền công trả cho người lao động phải đảm bảo đủ
sống. Tức là đảm bảo tái sản xuất sức lao động của bản thân người lao động và gia
đình. Với yêu cầu này, vấn đề quan trọng nhất là, mặc dù tiền lương phụ thuộ
c vào
kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, song doanh nghiệp phải đảm bảo
trả lương cho người lao động đủ sống, tức là mức thấp nhất không được trả thấp
hơn mức lương tối thiểu đủ sống do Nhà nước quy định. Để thực hiện yêu cầu này,
Nhà nước khi công bố tiền lương tối thiểu phải xem xét đến nhu cầu mức sống tối
thiểu của người lao động phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế để quy
định mức lương tối thiểu đủ sống làm căn cứ cho việc thỏa thuận, thương lượng
giữa các bên trong doanh nghiệp về tiền lương.
Thứ hai, phải đảm bảo nguyên tắc công bằng trong phân phối tiền lương và
thu nhập trong doanh nghiệp. Tiền lương và thu nhập của người lao độ
ng phụ
thuộc vào mức độ đóng góp của lao động và kết quả đầu ra của sản xuất kinh
doanh. Song phải coi lao động là yếu tố quyết định của sản xuất kinh doanh, và do
trả lương của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có quyền tự chủ đầy đủ trong việc tổ
chức trả l
ương gắn với năng suất và hiệu quả sản xuất kinh doanh, thông qua cơ
chế thương lượng, thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ lao động (đại diện người
lao động, người sử dụng lao động).
2. Công bằng xã hội trong phân phối tiền lương và thu nhập trong kinh tế thị
trường
2.1 Khái niệm về công bằng xã hội trong phân phối tiền lương và thu nhập
trong kinh tế thị trường
Để hiể
u bản chất công bằng xã hội trong phân phối tiền lương và thu nhập
trong kinh tế thị trường, trước hết phải bắt đầu từ khái niệm bình đẳng xã hội và
công bằng xã hội.
Bình đẳng xã hội, với quan niệm chung nhất, là sự ngang bằng nhau giữa
người và người về một hoặc một vài phương diện nào đó hoặc về mọi phương diện
xã hội.
Giữa công bằng xã h
ội và bình đẳng xã hội có những điểm thống nhất,
nhưng cũng có những khác biệt. Công bằng xã hội không đồng nhất với bình đẳng
xã hội ở chỗ, công bằng xã hội là sự ngang nhau giữa người với người không phải
về một phương diện bất kỳ, mà chỉ về một phương diện hoàn toàn xác định là:
9
quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng thụ theo nguyên tắc
thực hiện nghĩa vụ (cống hiến) ngang nhau thì có quyền lợi (được hưởng thụ)
ngang nhau. Như vậy, công bằng xã hội liên quan đến mối quan hệ ứng xử giữa
“nghĩa vụ” và “quyền lợi”, giữa “cống hiến” và “hưởng thụ”. Công bằng xã hội là
một dạng, một bi
ểu hiện cụ thể của bình đẳng xã hội và thực hiện công bằng xã
hội chính là thực hiện một phần của bình đẳng xã hội, là một bước tiến trên con
mất đi những tài sản cơ bản nhất và cơ hội mà mỗi người có quyền lợi được
hưởng. Đói nghèo là một trong những sự sỉ nhục đối với giá trị chung của xã hội.
10
Do vậy, tấn công vào nghèo đói chính là tấn công vào xóa bỏ bất công xã hội, thực
hiện công bằng xã hội.
Trong thế giới hiện đại, nhận thức về công bằng xã hội của nhân loại đã có
sự phát triển rất mới; nội hàm về công bằng xã hội được bổ sung, mở rộng và phát
triển. Nội dung quan trọng nhất của công bằng xã hội không chỉ giới hạn trong
công bằng về quan hệ
phân phối, công bằng về thu nhập, mà quan trọng hơn là
công bằng về cơ hội phát triển. Theo chương trình phát triển Liên hiệp quốc
(UNDP), công bằng về cơ hội phát triển là nội dung bao trùm của công bằng xã
hội trong thế giới hiện đại. Đó là quá trình mở rộng cơ hội lựa chọn cho mọi
người để trên cơ sở đó, mỗi người được hưởng thụ đầy đủ
hơn các thành quả của
tăng trưởng kinh tế và phát triển. Nhận thức này dựa trên định nghĩa của UNDP
về phát triển con người. Định nghĩa này đang được hầu hết các nước trên thế giới
sử dụng để đánh giá sự tiến bộ, công bằng xã hội và phát triển con người.
Từ quan niệm trên về công bằng xã hội, có thể hiểu được bản chất công
bằng xã h
ội trong phân phối tiền lương và thu nhập trong kinh tế thị trường.
Khi nền sản xuất hàng hóa xuất hiện và phát triển đến đỉnh cao là nền kinh
tế thị trường, thì công bằng xã hội được hiểu ở phạm vi rộng hơn, song quan trọng
nhất là công bằng về quan hệ phân phối nói chung, phân phối tiền lương và thu
nhập nói riêng. Ở đó, về mặt kinh tế, mọi quan hệ trao đổi được coi là công bằng
khi chúng
được thực hiện theo nguyên tắc ngang giá và quan hệ phân phối tiền
lương và tiền thu nhập dựa trên nguyên tắc trả đúng giá trị lao động.
Trong kinh tế thị trường, mối quan hệ giữa cung và cầu hàng hoá và dịch
thống. Thị trường không chỉ điều tiết các hoạt động kinh tế mà còn điề
u tiết thu
nhập, tiền lương, tiền công. Các chủ thể kinh tế được tự do hành động, tự do kinh
doanh trên cơ sở sở hữu tư nhân, cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật; vai trò
quản lý kinh tế của Nhà nước chỉ là thứ yếu. Trong kinh tế thị trường tự do mới
tuy có điều chỉnh tăng vai trò của Nhà nước can thiệp vào thị trường, vào tiền
lương, tiền công và thu nhập, nhưng vẫn bị
coi nhẹ, thậm chí nếu có can thiệp, thì
cũng theo hướng điều chỉnh việc phân phối thu nhập có lợi cho chủ doanh nghiệp,
còn vị trí, vai trò của khu vực tư nhân vẫn được nâng cao. Đối với nền kinh tế thị
trường xã hội, vấn đề cốt lõi nhất vẫn là nền kinh tế cạnh tranh phát huy tối đa tự
do sáng tạo, song vai trò điều tiết, kiểm soát của Nhà nước được đề cao.
Trong lĩnh vực tiền lương, Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào thị
trường. Tiền lương trả cho người lao động do thị trường quyết định trên cơ sở các
nguyên tắc của thị trường (tự do cạnh tranh, trả đúng giá trị lao động, phụ thuộc
vào quan hệ cung – cầu lao động…) và cơ chế đối thoại, thương lượng, thỏa thuận
giữa các bên trong quan hệ lao động. Sự can thi
ệp của Nhà nước được thực hiện
một cách gián tiếp thông qua hệ thống cơ chế, chính sách và luật pháp, tạo hành
lang pháp lý để các bên thỏa thuận về tiền lương.
Khi nói đến vai trò can thiệp, điều tiết gián tiếp của Nhà nước về tiền lương
12
khu vực thị trường là chủ yếu, không có nghĩa là tuyệt đối. Trong nhiều trường
hợp Nhà nước cũng có vai trò can thiệp trực tiếp, nhất là khi phải xử lý những
khiếm khuyết, trục trặc của thị trường lao động.
2.2. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo đảm công bằng xã hội trong
phân phối tiền lương và thu nhập trong kinh tế thị trường
2.2.1. Bản chất mố
i quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội về tiền
hiện công bằng xã hội.
13
Harry Oshima, nhà kinh tế Nhật Bản thì cho rằng, tăng trưởng sẽ kéo theo
vấn đề công bằng xã hội. Và ngược lại, khi công bằng xã hội đạt được ở mức nào
đó lại là tiền đề để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao hơn nữa. Đây là mối quan hệ
nhân quả.
Tuy nhiên, các nhà tư tưởng của thế giới đương đại lại cho rằng, tăng
trưởng kinh tế và công bằng xã hội có m
ối quan hệ với nhau, nhưng không phải là
mối quan hệ nhân quả. Tăng trưởng kinh tế không tự nó giải quyết được tất cả các
vấn đề xã hội và không tự nó dẫn đến công bằng và tiến bộ xã hội. Ngược lại, thực
hiện công bằng xã hội không tự nó làm tăng trưởng kinh tế. Muốn cho mối quan
hệ này tương tác tích cực lẫn nhau phải có sự can thiệp, điều tiế
t của Nhà nước
thông qua hệ thống cơ chế, chính sách, luật pháp để điều chỉnh mối quan hệ này.
Một chính sách kinh tế tốt là một chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong
công bằng, không làm gia tăng quá đáng mức độ chênh lệch về thu nhập giữa các
nhóm dân cư, tăng trưởng phải vì người nghèo, mọi người, nhất là người nghèo,
đều được hưởng lợi từ thành quả tăng trưởng kinh tế. Ng
ược lại, một chính sách
xã hội tích cực là một chính sách phù hợp dựa trên cơ sở của tăng trưởng kinh tế,
tạo ra cái nền ổn định và động lực cho tăng trưởng kinh tế. Và như vậy, tăng
trưởng kinh tế sẽ là điều kiện và tiền đề để thực hiện tốt chính sách xã hội theo
nguyên tắc công bằng và tiến bộ xã hội; đồng thời một chính sách xã hội đượ
c
thực hiện theo nguyên tắc công bằng sẽ là yếu tố quan trọng của tăng trưởng kinh
tế, đầu tư cho chính sách xã hội ở đây cũng chính là đầu tư cho tăng trưởng kinh tế
và phát triển bền vững.
Để hiểu bản chất mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
ó là tác động tiêu cực của phân phối, xét
từ khía cạnh này nhiều khi phân phối tác động tiêu cực có tính chất quyết định đến
hiệu quả của sản xuất.
+ Trong nền kinh tế thị trường động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đã
trở nên rất rõ ràng một khi chúng ta thực hiện phân phối công bằng với nhiều
hình thức khác nhau (phân phối theo lao động, phân phối theo các yếu tố đầu vào
như v
ốn, tài năng, cống hiến và theo yêu cầu của chính sách xã hội, nhưng phân
phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu). Trong phát triển kinh
tế thị trường, một khi chúng ta xác định đúng quan hệ phân phối và trả đúng giá
trị trong từng quan hệ phân phối thì chúng ta phải chấp nhận có sự chênh lệch, sự
khác biệt nhất định trên cơ sở bảo đảm sự hài hoà giữa quyền, trách nhiệ
m và lợi
ích, sự đồng thuận xã hội vì mục tiêu phát triển chung. Đó chính là động lực sâu
xa của tăng trưởng kinh tế. Từ khía cạnh này phân phối trở thành yếu tố quyết
định tăng trưởng.
+ Để thực hiện phân phối công bằng và tạo động lực mới cho tăng trưởng,
vai trò điều tiết của Nhà nước là rất quan trọng. Nhà nước thông qua cơ chế, chính
sách và luật pháp tạo sân chơ
i bình đẳng đối với tất cả các thành phần kinh tế, các
loại hình sở hữu và sản xuất kinh doanh trên cơ sở giải phóng sức sản xuất và sức
15
lao động; tạo môi trường và điều kiện để mọi người có cơ hội phát triển và phát
huy cao nhất năng lực của mình. Sự điều tiết của Nhà nước vào khâu phân phối
theo hướng này cũng là nhằm tạo ra động lực tăng trưởng.
- Công bằng xã hội tác động tích cực trở lại tăng trưởng kinh tế và phát triển
bền vững thể hiện trên các mặt sau:
+ Công b
ằng xã hội là một nhân tố của tăng trưởng kinh tế và phát triển bền
16
Tăng trưởng kinh tế công bằng là xu hướng khá tiến bộ hiện nay trên thế
giới. Đó là một sự tăng trưởng bảo đảm đem lại lợi ích cho mọi người, tăng trưởng
có lợi cho người nghèo, vì người nghèo (pro-poor growth). Tức là phải bảo đảm
phân phối thu nhập hợp lý, tốc độ tăng thu nhập của nhóm người nghèo phải
nhanh hơn tốc độ tăng thu nhập bình quân của xã hội và góp ph
ần giảm nhanh tỷ
lệ người nghèo. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế hướng vào bảo đảm công bằng xã
hội về tiền lương và thu nhập, ở đây, chủ yếu đề cập đến khu vực thị trường
(doanh nghiệp) liên quan đến vấn đề việc làm, giảm thất nghiệp và hạn chế chênh
lệch quá đáng về tiền lương và thu nhập giữa các loại lao động, các vùng và
ngành.
a. Tăng tr
ưởng kinh tế gắn với sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực
Trong kinh tế thị trường, nhất là khi đi vào kinh tế tri thức, yếu tố lao động,
đặc biệt là lao động chất xám, tham gia vào tăng trưởng rất lớn và trong mối quan
hệ rất chặt chẽ với các yếu tố khác của sản xuất như vốn, công nghệ, đất đai…
Tăng trưởng do yếu tố nhân lực bi
ểu hiện trên 2 góc độ:
Thứ nhất, quy mô nhân lực sử dụng. Tức là quy mô tăng trưởng phụ thuộc
vào quy mô nhân lực tham gia vào sản xuất.
Thứ hai, năng suất lao động. Tức là tăng trưởng theo chiều sâu, phụ thuộc
vào chất lượng nhân lực, nhất là nhân lực trình độ cao.
Như vậy, tăng trưởng luôn gắn với sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực và đặt
ra yêu cầu m
ới về nguồn nhân lực, đó là:
- Phải cung cấp đủ nhân lực cho sản xuất. Cung cấp nhân lực về mặt số
lượng thể hiện ở quy mô và sức trẻ, mức độ sẵn sàng của nguồn nhân lực. Biểu
hiện rõ nhất là ở hệ số co giăn giữa tăng trưởng kinh tế và nhu cầu về nhân lực.
Tức là cứ 1% tăng trưởng kinh tế thì cầ
0
+ β
1
X
1i
+ …+ β
k
X
ki
Trong đó: - W
i
là tiền lương đạt được của cá nhân thứ i;
- X
1i
, …, X
ki
là các yếu tố tác động đến tiền lương của cá nhân i (ví dụ:
trình độ đào tạo, kinh nghiệm làm việc, …);
- β
0
, β
1
, …, β
k
là hệ số tương quan của các yếu tố;
- log là logarit cơ số 10.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, cũng giống như đầu tư khác, khả năng hoàn trả
của đầu tư tăng với tốc độ giảm dần. Và tiền lương chính là khoản tiền tương
đương với thu nhập tăng thêm cận biên do đầu tư vào vốn nhân lực được thực hiện
nhu cầu về lao động là hàm số của các kết quả đầu ra. Một khối lượng sản phẩm,
dịch vụ đầu ra có thể được sản xuất với các cơ cấu về lao động, vốn và đất đai
khác nhau, có thể biểu diễ
n bằng công thức:
Q = f(K, L, …)
Trong đó: Q là sản phẩm đầu ra; K là vốn; L là lao động.
Theo quy luật tối đa hóa lợi nhuận của người sản xuất, khối lượng sản
phẩm, dịch vụ được sản xuất ra (Q) sẽ là khối lượng mà tại thời điểm đó, chi phí
cận biên tương đương doanh thu cận biên của doanh nghiệp và doanh nghiệp sẽ sử
dụng một lượng lao động t
ương đương với phần doanh thu cận biên của lao động
đó tạo ra. Điều này có nghĩa là với một trình độ nhất định, tổng cầu lao động phụ
thuộc độ co giãn của lao động đối với đầu ra và tương quan giữa chi phí tiền
19
lương với chi phí đầu vào khác (bao gồm cả yếu tố vốn).
Cầu lao động trong kinh tế thị trường liên quan chặt chẽ với tăng trưởng
kinh tế. Nói chung tăng trưởng sẽ tạo cơ hội cho tăng cầu lao động, song tăng
trưởng lại là hàm của các yếu tố vốn, lao động, đất đai, công nghệ và các yếu tố
đầu vào khác. Mức độ tăng trưởng còn phụ thuộc vào ph
ương thức tăng trưởng, do
đó để tăng cầu lao động (tăng việc làm), vấn đề quan trọng là lựa chọn mô hình
tăng trưởng gắn với tăng cầu lao động.
Theo công thức Q = f(K, L,…), nếu như tăng trưởng kinh tế từ Q1 đến Q2,
trong điều kiện tương quan giá cả của lao động (L) và vốn không thay đổi, sẽ dẫn
đến việc tăng lao động từ L1 đến L2 và chi phí khác (bao gồm c
ả vốn) từ K1 đến
K2 (Hình 1).
Hình 1: Tăng trưởng kinh tế gắn và không gắn với tăng trưởng việc làm
Q
1
Q
2
20
hợp tăng trưởng theo chiều rộng để nhiều người có việc làm.
Vấn đề đặt ra ở đây là giải quyết tối ưu mối quan hệ giữa các yếu tố đầu
vào để bảo đảm vừa tăng tổng đầu ra (tăng trưởng kinh tế), vừa tạo nhiều việc làm
cho người lao động với tiền lương có thể chấp nhận được.
Mối quan h
ệ giữa các yếu tố đầu vào (vốn, lao động, …) thể hiện trong
công thức tổng quát nêu trên (Q = f(K, L, …)). Tuy nhiên, để xem xét sâu hơn mối
quan hệ này, có thể dựa trên cơ sở hàm sản xuất của Cobb-Douglass như sau:
Y = A
K
α
L
β
Trong đó, Y là đầu ra, tính bằng GDP hoặc giá trị tổng sản lượng; L là lao động,
tính bằng thời gian làm việc hoặc người; K là vốn đầu tư; α, β là độ co giăn của
đầu ra tương ứng với vốn, lao động; A là năng suất yếu tố tổng hợp.
Tốc độ tăng đầu ra, do vậy sẽ bằng tốc độ tăng các yếu tố đầu vào, cụ thể
như sau:
L
L
và khi đó, công nghệ áp dụng chủ yếu là công nghệ
sử dụng nhiều lao động (công
21
nghệ vừa phải), năng suất lao động phải chấp nhận ở mức không cao, mức tiền
lương cũng vừa phải, nhiều khi phải chấp nhận mức tiền lương thấp để có việc
làm. Đây là bài toán tổng thể vĩ mô về tăng trưởng, đầu tư, năng suất lao động và
việc làm (cầu lao động) trong kinh tế thị trường mà các nhà quản lý hoạch định
chính sách ph
ải tính đến.
c. Tăng trưởng kinh tế gắn với giảm chênh lệch về tiền lương và thu nhập
giữa các loại lao động, giữa các vùng và ngành
Trong kinh tế thị trường, tiền lương và thu nhập được phân phối theo mức
độ đóng góp của lao động phụ thuộc vào năng suất lao động cá nhân và hiệu quả
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (phân phối theo kết quả đầu ra). Sự phân
phối này bảo
đảm được nguyên tắc công bằng giữa cống hiến (đóng góp) và
hưởng thụ, không bình quân, cào bằng. Do đó, tất yếu sẽ có sự khác biệt về tiền
lương và thu nhập giữa các loại lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, kỹ
năng, tay nghề khác nhau, giữa các vùng và các ngành nghề. Tuy nhiên, kết quả
tăng trưởng cũng cần phải được phân phối bảo đảm công bằng xã hội và không
làm tăng chênh lệch về ti
ền lương và thu nhập quá đáng giữa các loại lao động,
giữa các vùng và các ngành, dẫn đến cạnh tranh, tranh chấp, biến động, dịch
chuyển lao động không lành mạnh trên thị trường lao động, gây bức xúc về quan
hệ lao động trong các doanh nghiệp. Thông thường giải quyết mối quan hệ này
không để thị trường điều tiết một cách tự do, mà cần sự can thiệp, điều tiết của
Nhà nước thông qua cơ ch
ế, chính sách lao động – tiền lương, chính sách thị
trường lao động. Hướng can thiệp, điều tiết của Nhà nước là bảo đảm điều chỉnh
này, hiệu quả kinh tế được bảo đảm thông qua phân bổ và sử dụng hợp lý nguồn
lực, nhất là nguồn nhân lực, song chưa chú ý đúng mức đến hiệu quả xã hội, đặc
biệt là trong trường hợp tiền lương trả thấp hơn giá trị lao động, thậm chí rất thấp
dẫn đến bần cùng hóa, bóc lột quá mức lao
động và tình trạng sa thải, lao động mất
việc làm, thất nghiệp tăng. Còn trong thị trường lao động có sự can thiệp, điều tiết
của Nhà nước, thì Nhà nước can thiệp, điều tiết thị trường lao động thông qua chính
sách tiền lương (nhất là tiền lương tối thiểu) và các chính sách kinh tế khác để vừa
bảo đảm nhiều người có việc làm, vừa chống hạ mức lương quá thấp không bả
o
đảm tái sản xuất sức lao động.
- Trong kinh tế thị trường, sức lao động là hàng hóa (loại hàng hóa đặc biệt),
nên có giá trị. Người lao động khi bán sức lao động của mình cho người sử dụng lao
động, thì trong quá trình sử dụng sức lao động đó nó có khả năng tạo ra giá trị mới
của hàng hóa và dịch vụ lớn hơn giá trị của bản thân nó. Người sử dụng lao động
sau khi bán hàng hóa và dịch vụ, dùng m
ột phần để trả lương, trả công cho người
lao động tương ứng với giá trị của lao động theo nguyên tắc trao đổi ngang giá được
tính trên cơ sở giá trị cận biên, tức là phụ thuộc vào tổng sản phẩm tiêu thụ và mức
giá cả trên thị trường (giá trị sản phẩm cận biên bằng sản phẩm cận biên nhân với
giá của sản phẩm cuối cùng). Từ đó, tổng mứ
c tiền lương quyết định tổng cầu về
23
hàng hóa và dịch vụ cần thiết phải sản xuất ra cũng như giá cả của nó. Song, tiền
lương, tiền công, đối với người lao động, là bộ phận thu nhập chính của họ nhằm
thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của bản thân họ và gia đình. Họ phải tiêu
dùng một khối lượng hàng hóa và dịch vụ trên thị trường bằng tiền lương, thu nhập
của mình. Xét về m
ặt này, tiền lương, tiền công được coi là một trong các giải pháp
động là người tàn tật; lao động nữ… Bởi vậy, Nhà nước có chính sách tiền lương và
thu nhập để hỗ tr
ợ họ hoặc chính sách điều tiết thu nhập hợp lý (thông qua thuế thu
24
nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp) để tạo nguồn chia sẻ xã hội cho các
đối tượng này thông qua chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội. Đây chính là
sự kết hợp giữa nguyên tắc tự do của thị trường (phi điều tiết) và nguyên tắc công
bằng xã hội trong tiền lương (điều tiết hợp lý). Thực hiện chính sách xã hội trong
tiền lương sẽ tác động tích cực đến ổn định xã hội, không m
ột người lao động nào bị
gạt ra bên lề xã hội, là yếu tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Tuy nhiên,
cần lưu ý rằng, trong vai trò là giá cả của lao động, tiền lương tạo ra sự kích thích
(động lực) tăng năng suất cá nhân. Song nếu thực hiện chính sách điều tiết thu nhập
không hợp lý sẽ làm giảm động lực kích thích tăng năng suất lao động cá nhân, gây
bất mãn đối v
ới các chủ doanh nghiệp, dẫn đến xu hướng giảm đầu tư mở rộng sản
xuất hoặc chuyển nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài, sẽ tác động tiêu cực đến tăng
trưởng, tạo việc làm, thậm chí làm trì trệ nền kinh tế.
b. Thực hiện công bằng xã hội về tiền lương và thu nhập, góp phần phát
triển con người, nguồn nhân lực, là yếu tố quyết đị
nh thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trong xã hội hiện đại, con người và nguồn nhân lực (NNL) là nhân tố quyết
định sự tăng trưởng và phát triển bền vững. Phát triển con người có nội hàm rất
rộng, nhưng quan trọng nhất là phát triển nguồn lực con người (nguồn nhân lực)
đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Đó là sự phát triển con
người để đạt tớ
i con người trưởng thành, có năng lực hoạt động kinh tế, chính trị,
văn hòa, xã hội và sử dụng năng lực đó một cách hiệu quả. Tức là phải phát triển
năng lực nghề nghiệp của nguồn nhân lực và khai thác, huy động, phát huy có hiệu
biệt trong các mức tiền lương, tiền công cá nhân là do sự khác biệt về trình độ tay
nghề và đào tạo, chính là sự hoàn trả cho sự
khác biệt về chi phí để đạt được các
mức độ đào tạo và kỹ năng tương ứng. Giống như các đầu tư khác, sự đầu tư hôm
nay cho phát triển nguồn nhân lực, sẽ được hoàn trả bằng tiền lương, tiền công cao
trong tương lai.
Trình độ phát triển của sản xuất càng cao, nhất là khi áp dụng kỹ thuật và
công nghệ mới, đi vào nền kinh tế tri thức đòi hỏ
i phải có một đội ngũ nhân lực
chất lượng và trình độ cao nhằm làm tăng hàm lượng lao động chất xám (hàm
lượng trí tuệ) trong sản phẩm để đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và
quốc tế. Đối với lao động trí tuệ, xu hướng chung của thế giới là được trả lưởng,
trả công rất cao, tương xứng với sự đóng góp lao động của họ, vì lực l
ượng lao
động này quyết định tăng trưởng kinh tế cao và ổn định.
c. Thực hiện công bằng xã hội về tiền lương và thu nhập góp phần thúc đẩy
quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp, thu hút đầu tư
xã hội cho phát triển sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế
Trong kinh tế thị trường hình thành và phát triển quan hệ lao động mới,
khác căn bản với nền kinh tế phi thị tr
ường và luôn gắn chặt với thị trường lao
động, nơi cung và cầu lao động tác động qua lại với nhau thông qua sự trao đổi
giữa một bên là người sử dụng lao động và một bên là người lao động làm công ăn