Đề tài nghiên cứu, đánh giá thực trạng về chuyển dịch cơ cấu lao động trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội giai đoạn 2000-2009 và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động giai đoạn 2010 -2020 trên địa bàn tỉnh - Pdf 10

Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S. Vũ Cương
MỤC LỤC
SVTH: Nguyễn Như Tình Lớp: Kinh tế phát triển A
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S. Vũ Cương
HÌNH
Hình 1: Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu lao động Error: Reference
source not found
Hình 2. Cơ cấu lực lượng lao động phân theo nhóm tuổi, năm 2005 và 2009 Error:
Reference source not found
Hình 3. Số lượng lao động theo 3 ngành kinh tế của tỉnh Tuyên Quang, Error:
Reference source not found
giai đoạn 2005-2009 Error: Reference source not found
Hình 4. Cơ cấu lực lượng lao động tỉnh Tuyên Quang theo địa bàn, Error: Reference
source not found
năm 2005 và 2009 Error: Reference source not found
Hình 5 : Lao động ở thành thị, ở khu vực nông thôn và cả của tỉnh,Error: Reference
source not found
năm 2005 và 2009 Error: Reference source not found
Hình 6 . Tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành giai đoạn 2005-2009 Error:
Reference source not found
Hình 7. So sánh cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế theo ngành của tỉnh Tuyên
Quang giai đoạn 2005-2009 Error: Reference source not found
SVTH: Nguyễn Như Tình Lớp: Kinh tế phát triển A
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S. Vũ Cương
LỜI MỞ ĐẦU
1. Bối cảnh nghiên cứu
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội Tuyên Quang từ nay đến năm 2020, với
mục tiêu đưa Tuyên Quang trở thành một tỉnh phát triển khá trong khu vực miền

Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S. Vũ Cương
2. Câu hỏi nghiên cứu
Vị trí nghiên cứu: Qua tìm hiểu sơ bộ về tài liệu, tôi thấy : (i) tuyệt đại đa số bộ phận
lao động vẫn tập trung ở khu vực nông thôn, phân bố lực lượng lao động không đều giữa
các huyện và thị xã; (ii) nhìn chung chất lượng lao động vẫn còn thấp, không đồng đều
giữa hai khu vực nông thôn và thành thị; (iii) có sự chênh lệch khá lớn về chất lượng trình
độ chuyên môn kĩ thuật theo vùng và theo địa bàn; (iv) cơ cấu đào tạo bất hợp lý, thiếu đội
ngũ lao động công nhân kĩ thuật bậc cao, lành nghề; (v) phần lớn đội ngũ công nhân kĩ
thuật được đào tạo trong thời kì trước chưa phù hợp với yêu cầu hiện tại. Vì vậy, qua đề tài
nghiên cứu này, tôi muốn kiểm chứng lại các lý do trên, và đưa ra giải pháp khắc phục nếu
tình trạng trên là đúng.
Câu hỏi: Vì sao chuyển dịch cơ cấu lao động ở Tuyên Quang vẫn chưa chuyển
dịch đúng hướng? Cần phải làm gì để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao
động đó?
3. Phương pháp nghiên cứu
Phạm vi xử lý của đề tài: Đề tài nghiên cứu, đánh giá thực trạng về chuyển
dịch cơ cấu lao động trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội giai đoạn 2000-2009
và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động giai đoạn 2010 -2020 trên địa bàn tỉnh
Tuyên Quang.
Cách thức giải quyết vấn đề: Thu thập tài liệu từ các báo cáo: Quy hoạch tổng
thể phát triển kinh tế xã hội Tuyên Quang đến năm 2020; báo cáo kết quả điều tra
Lao động-Việc làm năm 2009; báo cáo tổng kết hàng năm về Lao động – Việc làm
và Dạy nghề của Tuyên Quang giai đoạn 2003-2008; Niên giám thống kê tỉnh
Tuyên Quang các năm 2000 - 2004, 2006, 2007, 2008
Kết quả dự kiến và đóng góp của đề tài: đề tài sẽ chứng minh được những
luận điểm được đưa ra ở câu hỏi nghiên cứu và đưa ra các giải pháp khắc phục
nhằm giúp :”Tuyên Quang trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực miền núi phía
Bắc và đạt mức trung bình của cả nước”.
4. Kết cấu dự kiến của chuyên đề

khía cạnh này, điều được nhấn mạnh nhiều hơn là sự gia tăng liên tục, có hiệu
quả của chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người. Hơn thế
nữa, quá trình ấy phải được tạo nên bởi các nhân tố đóng vai trò quyết định là
khoa học, công nghệ và vốn nhân lực trong điều kiện một cơ cấu kinh tế hợp lý.
Phát triển kinh tế: được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền
kinh tế. Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về
chất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề về
kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia.
Theo cách hiểu như vậy, phát triển phải là một quá trình lâu dài và do các
nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết định. Nội hàm của phát triển kinh tế được
khái quát theo ba tiêu thức:
SVTH: Nguyễn Như Tình Lớp: Kinh tế phát triển A
3
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S. Vũ Cương
- Một là, sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng
thu nhập bình quân trên một đầu người. Đây là tiêu thức thể hiện quá trình biến
đổi về lượng của nền kinh tế, là điều kiện cần để nâng cao mức sống vật chất
của một quốc gia và thực hiện mục tiêu khác của phát triển.
- Hai là, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế hay so sánh trình
độ phát triển kinh tế giữa các nước với nhau, người ta thường dựa vào dấu hiệu
về dạng cơ cấu ngành kinh tế mà quốc gia đạt được. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
thể hiện sự phát triển về chất của nền kinh tế.
- Ba là, sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội. Mục tiêu
cuối cùng của sự phát triển kinh tế không phải là tăng trưởng hay chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, mà là việc xóa bỏ nghèo đói, suy dinh dưỡng, sự tăng lên của
tuổi thọ bình quân, khả năng tiếp cận đến các dịch vụ y tế, nước sạch, trình độ
dân trí giáo dục của quảng đại quần chúng nhân dân v.v…Hoàn thiện các tiêu
chí trên là sự thay đổi về chất xã hội của quá trình phát triển.
1.2. Lý luận về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Theo giáo trình Kinh tế phát triển, NXB Lao động xã hội 2008 định nghĩa:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một phạm trù động, nó luôn thay đổi theo từng
thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu không cố định. Quá trình
thay đổi cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn
thiện hơn, phù hợp hơn với môi trường và điều kiện phát triển gọi là chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Theo bài viết “Một số vấn đề về thống kê chuyển dịch cơ cấu kinh tế cấp
huyện” trên Viện khoa học thống kê –Tổng cục thống kê: Nền kinh tế phát triển
tất yếu sẽ kéo theo sự thay đổi trong phân công lao động xã hội, khi đó cơ cấu
kinh tế cũng từng bước bị phá vỡ và được thay đổi dần bằng cơ cấu kinh tế
mới. Đó chính là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là
quá trình thay đổi các quan hệ tỷ lệ về lượng và mối quan hệ tương tác giữa các
bộ phận cấu thành nên nền kinh tế.
Như vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình biến đổi, chuyển hóa
khách quan từ cơ cấu kinh tế cũ sang cơ cấu kinh tế mới tiến bộ hơn, phù hợp
quá trình và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
được xác lập trong một giai đoạn (thời kỳ) nhất định.
Từ khái niệm trên có thể rút ra được một số kết luận về bản chất của
chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
- Một là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế về thực chất là quá trình phân chia lại
về lượng trong nền kinh tế trong đó các quan hệ giữa những nhân tốt hợp thành
nền kinh tế được thay đổi dần dần.
- Hai là, không phải mọi sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đều làm thay đổi
cơ cấu kinh tế.
- Ba là, đặc điểm cơ bản của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế là phá
vỡ dần những trình tự cũ nhằm từng bước hình thành cơ cấu kinh tế mới và tự
điều chỉnh để hoàn thiện.
SVTH: Nguyễn Như Tình Lớp: Kinh tế phát triển A
5
Chuyên đề thực tập

phận dân số trong tuổi lao động nhưng không có khả năng lao động như: tàn
tật, mát sức lao động bẩm sinh hoặc do các nguyên nhân khác.
Vì vậy, quy mô dân số trong độ tuổi lao động lơn hơn quy mô nguồn lao động.
SVTH: Nguyễn Như Tình Lớp: Kinh tế phát triển A
6
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S. Vũ Cương
1.2.Lực lượng lao động
Theo quan niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế ( ILO) : lực lượng lao
động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động. Theo quy định thực tế đang có
việc làm hoặc những người thất nghiệp.
Ở nước ta hiện nay thường sử dụng khái niệm sau : Lực lượng lao động là
bộ phận dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người thất nghiệp. Theo
quan niệm này: Lực lượng lao động đồng nghĩa với dân số hoạt động kinh tế
(tích cực) và nó phản ánh khả năng cung ứng lao động của xã hội.
1.3.Khái niệm cơ cấu lao động và phân loại cơ cấu lao động
1.3.1.Khái niệm vể cơ cấu lao động
Theo giáo trình Nguồn nhân lực của PGS.TS Nguyễn Tiệp: cơ cấu lao
động là một phạm trù kinh tế xã hội, bản chất của nó là các quan hệ giữa các
phần tử, các bộ phận cấu thành tổng thể lao động, đăc trưng nhất là mối quan
hệ tỷ lệ về mặt số lượng lao động giữa các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh
tế quốc dân.
Giống như các phạm trù khác, cơ cấu lao động cũng có những thuộc tính
cơ bản của mình: tính khách quan, tính lịch sử và tính xã hội.
- Tính khách quan của cơ cấu lao động được thể hiện ở chỗ cơ cấu lao
động bắt nguồn từ dân số và cơ cấu kinh tế của một quốc gia. Tính khách quan
của quá trình dân số và của cơ cấu kinh tế đã xác định tính khách quan của cơ
cấu lao động xã hội.
- Tính lịch sử: Cơ cấu lao động xã hội là một chỉnh thể tồn tại và vận động
gắn liền với phương thức sản xuất xã hội. Khi phương thức đó có sự vận động,

(iii) Cơ cấu lao động theo ngành nghề kinh tế quốc dân
Đây là cơ cấu lao động đang làm việc trên lãnh thổ (tỉnh, thành phố, huyện) Cơ
cấu này để đánh giá thực trạng phân bổ, chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các
ngành hoặc nội bộ ngành trên địa bàn tỉnh, thành phố, vùng, cả nước. Đồng
thời là căn cứ thực tiễn để nghiên cứu, xây dựng các kế hoạch định hướng và
chương trình phát triển riêng cho mỗi ngành.
(iv) Cơ cấu lao động theo các đặc trưng khác
Bao gồm như cơ cấu lao động theo nhóm tuổi, nghề nghiệp, trình độ văn
hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật, giới tính Cơ cấu này dùng để nghiên cứu,
xác định, đánh giá đặc trưng cơ bản về văn hóa, chuyên môn kỹ thuật, tình
trạng hoạt động của nguồn nhân lực để đề ra hệ thống các giải pháp khả thi
trong chiến lược phát triển bồi dưỡng, đào tạo sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực
phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội.
1.4.Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu lao động
1.4.1.Khái niệm
Theo như bài viết :”Chuyển dịch cơ cấu lao động và việc làm ở Việt Nam
giai đoạn 2001” của TS. Nguyễn Ngọc Sơn trên tạp chí Kinh tế và dự báo số 3
năm 2006, trang 26: Chuyển dịch cơ cấu lao động là quá trình phân phối, bố trí
SVTH: Nguyễn Như Tình Lớp: Kinh tế phát triển A
8
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S. Vũ Cương
lao động theo những quy luật, những xu hướng tiến bộ, nhằm mục đích sử dụng
đầy đủ và hiệu quả các nguồn lực để tăng trưởng và phát triển.
Còn theo như giáo trình Nguồn nhân lực của Nguyễn Tiệp: Chuyển dịch
cơ cấu lao động là sự thay đổi quan hệ tỷ lệ, cũng như xu hướng vận động của
các bộ phận cấu thành nguồn nhân lực, được diễn ra trong một không gian, thời
gian theo một chiều hướng nhất định.
Và theo bài viết “ Chuyển dịch cơ cấu lao động “ (18/7/2008) đăng trên tạp
chí Khoa giáo số 7: Chuyển dịch cơ cấu laọ động là sự thay đổi qua thời gian

1.5.Đo lường chuyển dịch cơ cấu lao động
Tương tự như đo lường chuyển dịch cơ cấu kinh tế, có nhiều phương pháp
đánh giá trình độ chuyển dịch cơ cấu lao động song phương pháp Vector là
phương pháp được sử dụng khá thông dụng. Để lượng hóa mức độ chuyển dịch
cơ cấu lao động giữa 2 thời điểm to và t1, chúng ta sử dụng công thức sau:
Cos ɸ =
Trong đó: - là tỷ trọng lao động trong ngành i tại thời điểm t
- ɸ được coi là góc tạo bởi hai vector cơ cấu và
Khi đó cos ɸ càng lớn bao nhiêu thì các cơ cấu càng gần nhau bấy nhiêu
và ngược lại.
- Khi cos ɸ = 1: góc giữa hai vector này bằng 0, điều đó có nghĩa là hai cơ
cấu đó đồng nhất.
- Khi cos ɸ = 0: góc giữa 2 vector này bằng

và các vector cơ cấu là
trực giao với nhau.
Như vậy 0 ɸ
Và khi đó chúng ta sẽ so sánh góc ɸ với giới hạn tối đa của sự chênh lệch
giữa hai vecto để đánh giá sự chuyển dịch một cách trực quan hơn .Tỷ số ɸ/
phản ánh tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu lao động.
III. Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu lao động và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế.
1. Cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động có mối quan hệ thống nhất trong hệ
thống phân công lao động xã hội
Lao động là yếu tố đóng quan trọng nhất và quyết định nhất của lực lượng
sản xuất. Quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội bao giờ cũng tồn tại và đồng
hành một cơ cấu kinh tế, một cơ cấu lao động tương ứng trong hệ thống phân
công lao động xã hội nhất định.
Khi có sự chuyển dịch trong cơ cấu kinh tế tức là thay đổi về tương quan
kinh tế giữa ngành, các vùng trong nền kinh tế, tất yếu sẽ kéo theo sự chuyển

cả nước.
Mỗi quốc gia khác nhau đều có các điều kiện phát triển khác nhau, đều có
các điểm mạnh và điểm yếu, cơ hội và thách thức. Nếu quốc gia nào biết tận
dụng, biết khai thác hợp lý các nguồn lực thì quốc gia đó sẽ phát triển kinh tế
mạnh mẽ. Và trong mỗi quốc gia thì các địa phuơng khác nhau cũng có những
điều kiện phát triển và thậm chí là trình độ phát triển khác nhau và có mức
chênh lệch nhau khá lớn. Từng địa phương, dựa trên các đặc trưng vốn của
từng vùng, dựa trên tiềm năng, lợi thế so sánh của mình để lựa chọn cơ cấu
kinh tế hợp lý và do đó, sẽ hình thành cơ cấu lao động phù hợp với sự phát
SVTH: Nguyễn Như Tình Lớp: Kinh tế phát triển A
11
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S. Vũ Cương
triển của địa phương. Các tiềm năng đó là điều kiện tự nhiên nhiên thuận lợi (vị
trí địa lý, tài nguyên khoáng sản, thời tiết, khí hậu ); là nguồn lao động tại
chỗ; là điều kiện cơ sở hạ tầng; là sự ổn định về kinh tế - chính trị - văn hóa; là
môi trường thể chế, chính sách linh hoạt, năng động Những đặc trưng, tiềm
năng khác nhau đó tạo nên sự phân công lao động giữa các địa phương trong
nền kinh tế quốc gia. Vì vậy, chính sách, định hướng phát triển kinh tế vùng,
lãnh thổ và mỗi địa phương thống nhất với hệ thống phân công lao động của cả
nước và phải tận dụng được các dấu hiệu lợi thế vốn có.
Trong quá trình phát triển kinh tế, yếu tố lao động (được thể hiện bởi số và
chất luợng lao động-vốn nhân lực) có tầm quan trọng chiến lựơc. Lao động
không chỉ là đối tượng hưởng thụ những thành tựu phát triển kinh tế, vừa là chủ
thể tham gia vào quá trình sản xuất, tạo của cải cho xã hội dựa trên những điều
kiện khác sẵn có ở địa phương hoặc do các yếu tố thuận lợi mang lại từ bên
ngoài. Trên cơ sở phân công lao động giữa các địa phương trong nền kinh tế
quốc dân, xuất phát từ những tiềm năng phát triển của từng vùng, lãnh thổ thì
có các cách kết hợp, phân bổ nguồn lực lao động tương ứng. Sự chuyển dịch
trong cơ cấu lao động sẽ phải tương ứng với những thay đổi trong việc sử dụng

đảm bảo tính triệt để và bền vững trong sử dụng lao động
Trong thực tế phát triển của nền kinh tế thì các quy luật kinh tế luôn vận
động và tác động tới các chủ thể kinh tế và quy định việc sử dụng các nguồn
lực sản xuất. Cũng trong quá trình sản xuất tạo ra của cải vật chất thì một số
những tiềm năng đuợc coi là dấu hiệu lợi thế cho kinh tế vùng, lãnh thổ bứt phá
có thể sẽ không còn giữ được vị trí đó bởi có những nhân tố mới trong quá
trình vận động của nền kinh tế và tính phủ định của chính quá trình sản xuất vật
chất. Theo quan niệm của David Ricardo thì Ông cho rằng trong ngắn hạn cung
lao động được giả định là không co giãn với tiền lương nhưng trong dài hạn thì
lại co giãn hoàn toàn. Quan điểm này có ý nghĩa tham khảo hữu ích cho các
nước phát triển hiện nay đó là việc chuyển dịch cơ cấu lao động (bao gồm cả
chuyển dịch cung lao động và cầu lao động) phải xem xét sự phù hợp mang
tính dài hạn, nếu như thu nhập theo tiền luơng của nguời lao động tăng lên lại
đuợc khuyến khích bởi sự gia tăng mạnh mẽ của cung lao động thì sự gia tăng
của tiền luơng không còn nhiều ý nghĩa. Đối với các địa phương, vùng cũng
vậy, trong các điều kiện khác nhau thì định hướng phát triển và phương thức sử
dụng lao động cũng không giống nhau. Một khi việc sử dụng các dấu hiệu, tiềm
năng lợi thế không có tầm nhìn chiến lược kéo theo sự tăng cung và tăng cầu
lao động (cầu thứ phát) một cách bất hợp lý sẽ kéo theo hàng loạt các bất cập.
nếu tăng cung lao động quá mức mà quy mô, dung luợng kinh tế địa phuơng
không có khả năng hấp thụ hoặc không phù hợp định huớng thì sẽ là việc lãng
phí nguồn vốn lao động cho phát triển và tạo gánh nặng cho hệ thống an sinh
xã hội. Vì vậy, các nhà hoạch định cần có tầm nhìn chiến lược về chuyển dịch
SVTH: Nguyễn Như Tình Lớp: Kinh tế phát triển A
13
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S. Vũ Cương
cơ cấu lao động cho phù hợp với xu huớng vận động của kinh tế địa phương,
của toàn nền kinh tế trong dài hạn.
IV.Xu hướng chuyển dịch lao động trong nền kinh tế địa phương và các

nghiệp - Dịch vụ tăng khá nhanh, đồng thời tỷ trọng lao động trong những
SVTH: Nguyễn Như Tình Lớp: Kinh tế phát triển A
14
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S. Vũ Cương
ngành sản xuất nông nghiệp có hiệu quả cao (chăn nuôi, thủy sản) với phương
thức sản xuất tiên tiến hơn cũng có xu hướng tăng dần. Chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa tác động tích cực tới chuyển
dịch cơ cấu lao động, vì vậy mà người lao động có xu hướng chuyển từ các
công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp sang làm các công việc đòi
hỏi có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao hơn. Tăng tỷ trọng lao động trong
ngành công nghiệp khai khoáng ( thế mạnh của tỉnh về tài nguyên khoáng sản) ,
và giảm tỷ trọng lao động trong các ngành khai thác gây ảnh hưởng đến môi
trường phá bỏ tính bền vững trong phát triển kinh tế.
2. Những yếu tố tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động
Theo đề án :” Đào tạo nghề với chuyển dịch cơ cấu lao động ở Việt Nam
hiện nay” trên “tailieu.vn” thì các yếu tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu lao
động bao gồm 4 yếu tố: thứ nhất là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế; thứ hai là Cơ
chế chính sách của Đảng và Nhà nước; thứ ba là Điều kiện kinh tế xã hội và
chính trị; và cuối cùng là nhân tố Các điều kiện dân số, tự nhiên, môi trường.
Theo luận văn tốt nghiệp 47-20 “Chuyển dịch cơ cấu lao động theo
ngành trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2010-2020 đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa” thì các nhân tố tác động tới chuyển dịch cơ cấu lao
động theo ngành gồm 3 nhóm: thứ nhất là nhóm nhân tố về kinh tế xã hội ( bao
gồm có tốc độ tăng trưởng kinh tế và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế; nhân tố
đầu tư; nhân tố thu nhập và di cư lao động giữa các khu vực; quá trình công
nghiệp hóa và đô thị hóa; sức hút của vùng kinh tế trọng điểm); nhóm thứ hai là
nhóm nhân tố phát triển nguồn nhân lực (Trình độ văn hóa chuyên môn kỹ
thuật của người lao động; Quy mô dân số; Chất lượng đào tạo nguồn nhân lực);
và cuối cùng là nhóm nhân tố hệ thống chính sách.

động làm công ăn lương).
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S. Vũ Cương
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
2.1. Nhóm nhân tố tự nhiên, môi trường, địa lý
Đây là nhóm yếu tố khách quan liên quan đến điều kiện tự nhiên, thiên
nhiên như tài nguyên đất, tài nguyên rừng, biển, môi trường sinh thái, khí hậu,
thời tiết tác động nhiều đến sản xuất nông nghiệp, vì thế làm chuyển dịch cơ
cấu lao động trong ngành nông nghiệp. Các yếu tố này sẽ là điều kiện thuận lợi
hoặc khó khăn trong việc phát triển sản xuất các ngành, nghề phi nông nghiệp
nhất là các ngành phát triển cơ sở hạ tầng (giao thông, bến cảng ), xây dựng
các khu công nghiệp, phát triển các trung tâm thương mại, dịch vụ, các trung
tâm thương mại, khu du lịch sẽ tạo ra được nhiều việc làm hơn giúp thu hút
được nhiều lao động từ ngành nghề nông nghiệp chuyển sang ngành này. Mặt
khác, yếu tố này còn tác động đến chuyển dịch cơ cấu lao động thông qua việc
khai thác và phát triển lợi thế so sánh về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh
thái, địa lý của các vùng trong nền kinh tế thị trường. Đây là một trong những
hướng tác động quan trọng có tính chất đột phá trong chiến lược phát triển phát
SVTH: Nguyễn Như Tình Lớp: Kinh tế phát triển A
16
Tự nhiên/môi trường/địa lý: điều kiện tự nhiên,
tài nguyên: đất đai, rừng, biển; khí hậu, thiên
tai, lợi thế tự nhiên phát triển công nghiệp, du
lịch, nông nghiệp…
Kinh tế/thể chế/hành chính/thị trường: vốn đâu
tư, tăng trưởng, thu nhập, tiền lương, hội
nhập, thị trường tài chính, KHKT, …
Nguồn nhân lực/con người: trình độ học vấn,
trình độ CMKT, cơ cấu dân số, di cư, hệ thống
dạy nghề và hạ tầng cơ sở TTLĐ …

hàng không), thủy lợi, điện, các trung tâm thương mại/chợ, các thành phố, thị
trấn, thị tứ Tốc độ phát triển cơ sở hạ tầng càng nhanh thì các ngành phi
nông nghiệp càng phát triển và theo quy luật của di dân thì lao động nông
nghiệp sẽ di chuyển sang ngành nghề phi nông nghiệp càng nhanh.
2.4. Nhóm yếu tố kinh tế, thể chế, hành chính, thị trường
Đây là nhóm nhân tố quan trọng nhất tác động mạnh đến chuyển dịch cơ
cấu lao động: Yếu tố kinh tế liên quan đến chuyển dịch cơ cấu lao động chủ
yếu là tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, vấn đề đầu tư và hiệu
quả đầu tư, năng suất lao động, độ mở của nền kinh tế trong hội nhập Các
yếu tố này nếu được phát huy trên cơ sở CNH-HĐH và hội nhập sâu rộng vào
nền kinh tế thế giới, thu hút được nhiều vốn FDI, ODA, tăng xuất khẩu sẽ
mở ra không gian kinh tế rộng lớn và tiền đề cho phát triển các ngành, các
SVTH: Nguyễn Như Tình Lớp: Kinh tế phát triển A
17
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S. Vũ Cương
vùng, các thành phần kinh tế , phân công lại lao động xã hội, nhất là rút được
lao động từ nông nghiệp, nông thôn chuyển sang phi nông nghiệp.
Yếu tố thể chế rất quan trọng, thậm chí trong điều kiện nhất định, có vai trò
quyết định đến chuyển dịch hoặc hạn chế việc chuyển dịch cơ cấu lao động. Đây là sự
can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế, vào thị trường lao động (cả phía cung và
phía cầu lao đông, kết nối cung – cầu lao động ) thông qua cơ chế, chính sách, pháp
luật theo xu hướng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động trên cơ sở hướng vào giải
phóng sức sản xuất, phát triển các ngành, các vùng (luật doanh nghiệp, luật đầu tư,
luật cạnh tranh, luật thương mại ) và giải phóng sức lao động (Bộ luật lao động, luật
day nghề, luật lao động Việt nam làm việc ở nước ngoài theo hợp động ); xây dựng
và thực hiện các chuơng trình mục tiêu (về việc làm, giáo dục và đào tạo, dạy nghề,
giảm nghèo, 135 ) sẽ tạo ra động lực mới và tháo gỡ những khó khăn, những nút
thắt, những rào cản đối với chuyển dịch cơ cấu lao động. Đặc biệt, các chính sách
kinh tế vĩ mô tác động mạnh nhất và trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu lao động là

của mỗi dân tộc, nhất là năng lực ứng phó với sự thay đổi của lao động) để đáp
ứng nhu cầu của thị trường cũng chính là một mặt quan trọng của chuyển dịch
cơ cấu lao động.
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
SVTH: Nguyễn Như Tình Lớp: Kinh tế phát triển A
19
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S. Vũ Cương
Qua những lý luận ở trên, chúng ta đã có một khung lý thuyết để dựa vào
đó phân tích, đánh giá xem sự chuyển dịch cơ cấu lao động là có hợp lý hay
không. Sự chuyển dịch cơ cấu lao động hợp lý góp phần quan trọng trong sự
phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, vùng, cũng như của các quốc gia. Để thấy
hiểu rõ hơn về sự chuyển dịch cơ cấu lao động chúng ta đi phân tích thực trạng
của tỉnh Tuyên Quang qua các năm từ 2005 đến 2009 (chương II) để rồi đưa ra
các đánh giá về sự chuyển dịch này và kết luận xem chuyển dịch cơ cấu lao
động có hợp lý hay không?
CHƯƠNG 2
SVTH: Nguyễn Như Tình Lớp: Kinh tế phát triển A
20
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S. Vũ Cương
THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VÀ
CƠ CẤU LAO ĐỘNG Ở TUYÊN QUANG
I.Giới thiệu chung về tỉnh Tuyên Quang
1. Điều kiện tự nhiên
1.1. Vị trí địa lý
Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc, phía Bắc giáp tỉnh Hà Giang; phía
Đông và Đông Bắc giáp Thái Nguyên, Bắc Kạn và Cao Bằng; phía Tây giáp Yên
Bái; phía Nam giáp Phú Thọ và Vĩnh Phúc. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 586.690
ha, trong đó có 70% diện tích là đồi núi. Phân bố địa giới hành chính của tỉnh gồm

huyện Na Hang, Chiêm Hoá, Hàm Yên và phía Bắc huyện Yên Sơn, độ cao phổ
biến từ 200 – 600 m và giảm dần xuống phía Nam, độ dốc trung bình 250, (2)
vùng đồi núi giữa tỉnh gồm: phía Nam huyện Yên Sơn, thị xã Tuyên Quang và
phía Bắc huyện Sơn Dương, độ cao trung bình dưới 500 m và hướng thấp dần từ
Bắc xuống Nam, độ dốc thấp dần dưới 250, (3) vùng đồi núi phía Nam tỉnh là
vùng thuộc phía Nam huyện Sơn Dương, mang đặc điểm địa hình trung du.
Khí hậu: Tuyên Quang mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có
hai mùa rõ rệt: mùa đông lạnh – khô hanh; mùa hè nóng ẩm mưa nhiều. Nhiệt độ
trung bình trong năm từ 22
0
C– 24
0
C, lượng mưa trung bình từ 1.500 mm – 1.800
mm; độ ẩm trung bình là 85%. Thường hay gặp phải những bất lợi của thiên nhiên
như hạn hán, lũ lụt đe dọa tới sản xuất và đời sống, đặc biệt là khu vực thị xã Tuyên
Quang và các huyện phía Nam.
Như vậy, với địa hình và khí hậu vốn có, sẽ là khó khăn cho Tuyên Quang
trong việc mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu tư, nhất là đầu tư tư nhân trong và ngoài
nước vào phát triển kinh tế địa phương.
Đặc trưng đất đai: Tuyên Quang bao gồm các nhóm chính: đất đỏ vàng trên
đá sét và đá biến chất, diện tích 389.834 ha, chiếm 67,2% diện tích tự nhiên; đất
vàng nhạt trên đá cát, có diện tích 66.986 ha, chiếm 11,55%; đất đỏ vàng trên đá
macma, diện tích 24.168 ha, chiếm 4,17% diện tích; đất vàng đỏ trên đá biến chất,
diện tích 22.602 ha, chiếm 3,89%; đất phù sa ven suối, diện tích 9.621 ha, chiếm
1,66%; đất dốc tụ - thung lũng, diện tích 8.002 ha, chiếm 1,38%; ngoài ra còn có
một số loại đất khác chiếm diện tích nhỏ: đất nâu vàng, đất mun vàng nhạt, đất nâu
đỏ; đất phù sa không được bồi đắp.
Đặc thù về tài nguyên đất đai, tài nguyên rừng và địa hình thuận lợi cho
phát triển kinh tế lâm nghiệp theo hướng kết hợp giữa trồng/ khai thác và bảo
vệ rừng, phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng và

trog thời gian dài. Vì vậy tỷ trọng lao động trong ngành công nghiệp tăng lên
nhanh chóng, và kèm theo đó lao động có trình độ, tay nghề cũng tăng lên.
2. Đặc điểm xã hội
2.1. Đặc điểm dân số, lao động
Theo tổng điều tra dân số năm 2009, quy mô dân số của tỉnh Tuyên Quang
năm 2009 là 727505 người (dân số nữ chiếm tỷ trọng 49,71%), tốc độ tăng dân số
bình quân hàng năm trong giai đoạn 2005-2009 đạt 0,54%. Dân cư tập trung chủ
yếu là ở nông thôn (87,11%). Các huyện đông dân của tỉnh bao gồm Sơn Dương
(chiếm 24,4% trong tổng số dân của tỉnh) và Yên Sơn (21,26%), tiếp đến là Chiêm
Hoá (18,95%) và Hàm Yên (15,22%), Thị xã Tuyên Quang (12,22%), và cuối cùng
là Nà Hang (7,96%).
Tốc độ tăng bình quân hàng năm của nguồn lao động lớn hơn nhiều so với tốc
độ tăng bình quân hàng năm của dân số. Tổng số người từ 15 tuổi trở lên năm 2009
SVTH: Nguyễn Như Tình Lớp: Kinh tế phát triển A
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status