MỤC LỤC
Trang
A. LỜI MỞ ĐẦU: 1
B. NỘI DUNG: 1
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT THUẾ: 1
1. Định nghĩa: 1
2. Đối tượng điều chỉnh: 1
II. VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT THUẾ: 2
1. Pháp luật thuế tạo cơ sở pháp lý quan trọng và ổn định cho nguồn thu, đáp
ứng yêu cầu chi tiêu của nhà nước: 2
2. Pháp luật thuế được sử dụng như một công cụ điều tiết kinh tế, thực hiện
đường lối trong một thời kì nhất định của nhà nước: 3
3. Nhà nước có thể sử dụng công cụ pháp luật thuế để kiểm tra gián tiếp hoạt
động sản xuất kinh doanh: 4
III. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT THUẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY: 4
IV. GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT
THUẾ TRONG ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ HỘI
NHẬP QUỐC TẾ: 7
1. Cải tiến và hoàn thiện chính sách thuế, hệ thống pháp luật nói chung và pháp
luật thuế nói riêng: 8
2. Về phạm vi điều chỉnh của thuế: 8
3. Vấn đề thuế suất: 10
4. Kiên quyết chống thất thu, nâng cao trình độ nghiệp vụ và nhận thức của mỗi
cán bộ thu thuế, mặt khác cũng tăng cường thanh tra kiểm tra để phát hiện và xử
lý ngay sai phạm: 12
5. Về vấn đề quản lý thuế: 13
6. Tăng cường công tác bồi dưỡng đội ngũ công chức thuế và phát triển cơ sở hạ
tầng thuế: 14
7. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật thuế: 14
C. KẾT LUẬN 14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
nhằm hình thành nguồn thu ngân sách nhà nước để thực hiện các mục tiêu xác
định trước.
2. Đối tượng điều chỉnh:
2
Việc đưa ra đối tượng điều chỉnh của luật thuế chỉ có ý nghĩa xác định rõ
những loại chủ thể với những đặc tính nhất định sẽ là đối tượng hướng tới hoặc
cần được bảo vệ bởi các văn bản pháp luật trong nước cũng như văn bản pháp
luật quốc tế về thuế. Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động và nội dung hoạt động của
các chủ thể, đối tượng điều chỉnh của pháp luật thuế bao gồm: nhóm các quan hệ
phát sinh trong quá trình quản lý thuế, nhóm các quan hệ phát sinh trong quá
trình xử lý vi phạm và khiếu nại về thuế. Trong đó, Nhà nước với tư cách là chủ
thể quyền lực, luôn là một bên tham gia quan hệ thuế và trực tiếp chi phối quan
hệ đó. Các quan hệ đều nhằm hướng tới việc chuyển giao bắt buộc một nguồn
tài chính vào cho nhà nước. Nguồn tài chính đó nhằm phục vụ lợi ích công cộng,
điều chỉnh xã hội ở tầm vĩ mô.
II. VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT THUẾ:
Thuế và nhà nước là hai phạm trù lịch sử luôn đi cùng nhau, chi phối và
phụ thuộc nhau. Vì vậy, thuế vừa được hiểu là công cụ kinh tế hỗ trợ cho sự tồn
tại của nhà nước và bộ máy nhà nước; mặt khác, thuế lại được nhà nước sử dụng
như là công cụ để thực hiện nhiệm vụ mục tiêu nhất định. Mặc dù bất kỳ nhà
nước có chủ quyền nào cũng được quyền đánh thuế nhưng để nguồn thu từ thuế
trở thành hiện thực, nhà nước phải sử dụng pháp luật như là công cụ hữu hiệu và
đặc thù nhất của mình để giải quyết các mục tiêu định trước. Có thể chỉ ra các
vai trò cơ bản của pháp luật thuế như sau:
1. Pháp luật thuế tạo cơ sở pháp lý quan trọng và ổn định cho nguồn thu,
đáp ứng yêu cầu chi tiêu của nhà nước:
Pháp luật thuế bao gồm các quy phạm pháp luật xác định quyền thu thuế
của nhà nước, nghĩa vụ nộp thuế của các chủ thể có điều kiện. Điều này có nghĩa
nguồn thu từ thuế chỉ có thể có được khi các bên thực hiện đúng quy định pháp
luật thuế. Trước hết, cần khẳng định nguồn thu từ thuế có vụ trí quyết định đến
thuế còn có quy định ưu đãi miễn giảm thuế nhằm khác phục suy thoái về tài
chính, tạo sự ổn định và phát triển của các doanh nghiệp.
Hệ thống pháp luật thuế mới được áp dụng thống nhất chung cho mọi
ngành nghề nhằm đảm bảo bình đẳng và công bằng xã hội về quyền và nghĩa vụ
đối với mọi thể nhân và pháp nhân. Vai trò điều tiết thu nhập của pháp luật thuế
thể hiện ở sự tác động của pháp luật thuế đối với các quan hệ phân phối và sử
dụng thu nhập trong xã hội. Nhà nước sử dụng công cụ thuế để điều hòa vĩ mô
thu nhập trong xã hội. Thông qua quy định của pháp luật thuế, Nhà nước điều
tiết thu nhập các đối tượng nộp thuế và các thành viên trong xã hội. Sự thay đổi
4
của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế đều tác động đến thu nhập và sử dụng
thu nhập trong xã hội.
3. Nhà nước có thể sử dụng công cụ pháp luật thuế để kiểm tra gián tiếp
hoạt động sản xuất kinh doanh:
Các cơ quan quản lý thuế cùng với đối tượng nộp thuế buộc phải tuân thủ
những quy định ắn với chế độ chứng từ hóa đơn, nội dung kinh doanh, quy mô
kinh doanh, hình thức kinh doanh… nhằm thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ
thuế. Điều đó cũng có nghĩa bằng việc quy định những vấn đề liên quan đến
nghĩa vụ thuế, nhà nước gián tiếp quản lí nền kinh tế, trên cơ sở đó có hệ thống
pháp luật ban hành, sửa đổi, bổ sung phù hợp định hướng trong từng giai đoạn
phát triển của đất nước. Mặt khác, thông qua việc kiểm tra việc tuân thủ pháp
luật thuế, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng có khả năng phát hiện và
xử lí kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật thuế nói riêng và vi phạm trong
quá trình hoạt động gắn với tư cách của đối tượng nộp thuế nói chung.
III. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT THUẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY:
Trong những năm qua, việc thực thi pháp luật thuế thu nhập đối với người
có thu nhập cao đã đem lại những kết quả nhất định. Một là, thuế thu nhập đối
với người có thu nhập cao góp phần tạo nguồn thu ngày càng đáng kể cho ngân
sách nhà nước. Theo số liệu dự toán ngân sách năm 2007, số thu từ thuế thu
nhập đối với người có thu nhập cao nhiều gấp 3 lần tổng số thu các loại thuế về
- Thứ hai, việc quản lí thu nhập của cá nhân hiện nay còn nhiều hạn chế, do
đó cơ quan thuế không có khả năng kiểm soát tốt thu nhập cá nhân, dẫn đến có
nhiều trường hợp trốn, lậu thuế.
Một trong những nguyên nhân cơ bản là hiện nay nước ta chưa có hệ
thống các quy định pháp lí cần thiết để minh bạch thu nhập. Với những cố gắng
rất lớn của cơ quan lập pháp, Luật phòng, chống tham nhũng ngày 9/12/2005 đã
ra đời và có hiệu lực ngày 01/6/2006, gần đây được cụ thể hoá bằng Nghị định
số 37/2007/NĐ-CP ngày 9/3/2007. Những văn bản này đã tạo cơ sở pháp lí để
một số chủ thể phải có nghĩa vụ kê khai tài sản, góp phần kiểm soát thu nhập.
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, các văn bản này nhằm kiểm soát và ngăn chặn
những thu nhập không hợp pháp chứ không phải nhằm quản lí nguồn thu nhập
hợp pháp để xác định nghĩa vụ nộp thuế. Do đó, những chủ thể có nghĩa vụ kê
khai thu nhập rất hẹp, chỉ bao gồm những chức danh quan trọng trong bộ máy
nhà nước. Từ đó có thể khẳng định, hệ thống những quy định nhằm quản lí thu
nhập chịu thuế thu nhập hiện còn rất sơ sài.
6