Bài tập học kỳ môn Luật tài chính – Nguyễn Đức Hải
Đề bài số 9: Vai trò của pháp luật thuế ở nước ta hiện nay – các
giải pháp chủ yếu để phát huy vai trò đó trong điều kiện phát triển kinh
tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Bài làm
Hơn 20 năm qua, Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới kinh tế,
mở cửa và hội nhập, hệ thống chính sách thuế đã được cải cách và hoàn
thiện không ngừng để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước. Việc
nghiên cứu vai trò của pháp luật thuế và những giải pháp chủ yếu để phát
huy vai trò đó trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập
quốc tế có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao hiệu lực của hệ thống pháp
luật thuế. Từ đó, phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn tới.
I.Lý luận chung về thuế và pháp luật thuế.
1.Khái niệm chung về thuế:
Thuế là hiện tượng tất yếu, xuất hiện và tồn tại cùng với các hiện
tượng kinh tế - xã hội khác. Sự xuất hiện, phát triển của thuế gắn với mỗi
giai đoạn, lợi ích mà nhà nước sử dụng nó làm công cụ điều tiết nguồn
thu của nền kinh tế xã hội ấy.
Để đưa ra khái niệm mới về thuế hoàn toàn không đơn giản. Các
nhà kinh tế học đã có quá trình nghiên cứu sâu sắc ở nhiều khía cạnh
khác nhau nhằm tìm khái niệm thuế theo cách đánh giá của mình. Các
Mác viết: “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước, là thủ đoạn đơn
giản để kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc
chi tiêu của nhà nước” (Các Mác, Awngghen tuyển tập, tập 2, Nxb Sự
thật). Bằng cách định nghĩa khác, các nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng
thuế là “một hình thức phân phối thu nhập tài chính của Nhà nước để
thực hiện chức năng của mình, dựa vào quyền lực chính trị, tiến hành
phân phối sản phẩm thặng dư của xã hội một cách cưỡng chế và không
hoàn lại” (Đại từ điển kinh tế thị trường). Ở khía cạnh nghiên cứu thuế
với tư cách là một nội dung điều chỉnh của luật pháp, các chuyên gia về
thuế từ khách hàng sang người kinh doanh. Thuế gián thu có ưu điểm
thường hạn chế sự phản ứng thuế từ người gánh chịu thuế nhưng lại
không tạo ra sự bình đẳng về điều tiết thu nhập của những đối tượng có
thu nhập chênh lệch.
Nếu căn cứ vào đối tượng tính thuế, có thuế đánh vào tài sản, thuế
đánh vào thu nhập và thuế tiêu dùng.
Thuế tài sản là thuế đánh vào bản thân tài sản chứ không phải
đánh vào phần thu nhập phát sinh từ tài sản đó. Các loại thuế như thuế
nhà đất, thuế vốn, thuế chuyển nhượng tài sản, chuyển nhượng vốn là
loại thuế tài sản.
Thuế đánh vào thu nhập chỉ thực hiện đối với những đối tượng có
giá trị thặng dư phát sinh từ tài sản của họ. Các loại thuế như thuế thu
nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân có đối tượng tính thuế là
những phần thu nhập phát sinh trong quá trình sử dụng tài sản của mình
hay do kết quả của lao động…
Thuế tiêu dùng, phần lớn là loại thuế gián thu như thuế giá trị gia
tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt.
2
Bài tập học kỳ môn Luật tài chính – Nguyễn Đức Hải
Ngoài các tiêu chí phân loại và nội dung phân loại trên đây, còn có
rất nhiều tiêu chí phân loại và nội dung phân loại thuế, tùy theo mục đích
của người nghiên cứu đánh giá.
2.Khái niệm pháp luật thuế
Quan hệ thu, nộp thuế giữa Nhà nước và dân cư được thực hiện
dựa trên những căn cứ pháp lý nhất định, đó chính là pháp luật thuế.
Pháp luật thuế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các
quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế giữa cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền và người nộp thuế nhằm hình thành nguồn thu ngân
sách Nhà nước để thực hiện các mục tiêu xác định trước. Việc đưa ra
khái niệm pháp luật thuế nhằm phân định ranh giới giữa các nhóm quan
nguồn thu ngân sách Nhà nước. Theo kết quả nghiên cứu về lịch sử tồn
tại và pháp triển của thuế qua các thời kỳ, ở các quốc gia đã cho thấy:
thu từ thuế chiếm phần lớn tổng thu ngân sách Nhà nước. Ở Việt Nam,
từ những năm 1990 trở lại đây, nguồn thu từ thuế đáp ứng phần lớn các
khoản chi tiêu ngân sách Nhà nước. Các luật thuế được ban hành đều xác
nhận “động viên một phần thu nhập vào ngân sách Nhà nước” như một
lý do cơ bản. Khoản thu từ thuế chiếm khoản 90% tổng thu ngân sách
Nhà nước (theo Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2001 –
2010). Điều này lý giải cơ cấu cân đối ngân sách Nhà nước được pháp
luật ghi nhận. Điều 8 Luật Ngân sách Nhà nước quy định rõ “Ngân sách
Nhà nước được cân đối theo nguyên tắc tổng thu từ thuế, phí, lệ phí phải
lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích lũy ngày càng cao
vào đầu tư phát triển”.
Cũng như pháp luật nói chung, pháp luật thuế có chức năng điều
chỉnh các quan hệ xã hội. Mục đích chủ yếu và quan trọng nhất của sự
điều chỉnh quan hệ pháp luật thu – nộp thuế là nhằm tạo lập quỹ ngân
sách Nhà nước. Hầu hết các quốc gia, thuế là hình thức chủ yếu mà pháp
luật quy định để thu ngân sách Nhà nước. Một nền tài chính quốc gia
lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu nội bộ của nền kinh tế quốc
dân. Trong điều kiện kinh tế thị trường, xuất phát từ phạm vi hoạt động
mà đòi hỏi Nhà nước phải ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật thuế
để tập trung nguồn tài chính vào ngân sách Nhà nước, từ đó mới đáp ứng
được nhu cầu chi ngày càng tăng.
Thuế là công cụ quan trọng nhất để phân phối lại tổng sản phẩm
xã hội và thu nhập quốc dân theo đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
nước ta. Hiện nay, nguồn thu nước ngoài đã giảm nhiều, kinh tế đối
ngoại chuyển thành có vay có trả. Trước tiên, thuế là một công cụ quan
trọng để góp phần ổn định trật tự xã hội, chuẩn bị điều kiện và tiền đề
cho việc phát triển lâu dài.
2.Pháp luật thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền
đến sự ổn định và tăng trưởng kinh tế. Bằng các quy định của pháp luật
thuế, Nhà nước tác động tích cực đến cung – cầu của nền kinh tế trong
tất cả các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Điều tiết tiêu dùng là hoạt động quan trọng của Nhà nước đối với
nền kinh tế thị trường. Thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà
nước tác động đến các quan hệ tiêu dùng của xã hội. Nhằm hạn chế việc
tiêu dùng đối với một số hàng hóa, dịch vụ. Nhà nước tăng thuế suất,
thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu…đối với việc sản xuất, kinh
doanh, tiêu dùng các loại hàng hóa đó.
Để thực hiện chính sách bảo hộ, khuyến khích sản xuất trong nước
và khuyến khích xuất khẩu, pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có
các quy định khuyến khích hoặc hạn chế việc xuất khẩu, nhập khẩu đối
với một số hàng hóa. Sự khuyến khích hoặc hạn chế này thể hiện tập
trung ở biểu thuế áp dụng có tính chấp phân biệt đối với các loại hàng
hóa xuất nhập khẩu.
5
Bài tập học kỳ môn Luật tài chính – Nguyễn Đức Hải
Trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế vận hành theo cơ chế
thị trường tất yếu dẫn đến tình trạng suy thoái về tài chính ở một số
doanh nghiệp. Đối với những ngành nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh
cần khuyến khích, ngoài các quy định chung, pháp luật thuế còn có các
quy định ưu đãi, miễn, giảm thuế nhằm khắc phục sự suy thoái về tài
chính, tạo sự ổn định và phát triển của các doanh nghiệp.
Thuế góp phần khuyến khích khai thác nguyên liệu, vật tư trong
nước để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu. Thông qua pháp luật
thuế, Nhà nước có tác động tích cực trong việc thúc đẩy sản xuất phát
triển trên cơ sở tận dụng và sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn lực
của đất nước trong việc điều chỉnh cung – cầu và cơ cấu kinh tế.
3.Pháp luật thuế là công cụ góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các
thành phần kinh tế và công bằng xã hội.