Vai trò của nhà nước trong thực hiện dân chủ ở nước ta hiện nay - Pdf 27

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dân chủ là khát vọng sâu xa cũng là thành tựu của cuộc đấu tranh lâu
dài của dân tộc và của loài người. Trong xã hội ta, xã hội do nhân dân làm
chủ thì dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế -
xã hội, vừa là cơ chế và phương thức để vận hành quyền lực của nhân dân
trong quản lý nhà nước và tổ chức đời sống xã hội.
Tập trung dân chủ là nguyên tắc căn bản, là một yêu cầu tự nhiên và tất
yếu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
với tư cách là một chế độ chính trị. Tập trung dân chủ trong nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa là sự cần thiết hợp lý để cho nhân dân tránh được
những thói xấu tệ hại của thứ dân chủ bất chấp pháp luật, kỷ cương. Điểm quan
trọng của nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý nhà nước theo tinh thần
của nhà nước pháp quyền là đề cao tinh thần tôn trọng pháp luật, hoạt động hợp
hiến, hợp pháp thực hiện sự bình đẳng của mọi tổ chức và cá nhân trong pháp
luật xác định rành mạch quy chế, chức trách bổn phận công chức trước nhà
nước và xã hội. Đó là cơ chế để khẳng định rằng: “Sự kết hợp đúng đắn tập
trung dân chủ và dân chủ là yếu tố quyết định sức mạnh và hiệu lực của bộ máy
nhà nước ta”. Đảng ta coi đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược của cách
mạng Việt Nam, là động lực của sự phát triển xã hội; coi phương châm “dân
biết, dân bàn, dân kiểm tra” là biểu hiện cụ thể về quyền làm chủ của nhân dân
trong đời sống cơ sở. Thực tế trong thời gian qua thực hiện chỉ thị của Bộ chính
trị về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và Nghị định
07/1999/NĐ-CP ngày 13/2/1999 của chính phủ ban hành về quy chế dân chủ
đã chứng minh được tính đúng đắn và sáng tạo của Đảng và Nhà nước ta.
Qua hơn hai mươi năm thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế
nước ta chuyển mạnh sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
1
hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế khu vực và thế giới; cổ phần hoá
doanh nghiệp nhà nước là một giải pháp tất yếu đang được đẩy mạnh theo
lộ trình mà chính phủ đã định.

nhà nước ta trong thực thi thực hiện dân chủ.
- Đề ra được một số giải pháp để nâng cao vai trò và thực thi tốt hơn
vai trò của nhà nước trong thực hiện dân chủ thời gian tới.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
- Nghiên cứu về dân chủ, vai trò của nhà nước trong thực hiện dân
chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động.
- Thực trạng được xem xét trong thời kỳ đổi mới, chủ yếu từ 1998
đến nay; đề ra giải pháp cho giai đoạn từ nay đến 2020.
4. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp chung: Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Macxit.
- Phương pháp cụ thể: Tổng kết lý luận, thực tiễn; điều tra, khảo sát,
phân tích, tổng hợp.
5. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương.
Chương 1: Dân chủ, vai trò của nhà nước trong thực hiện dân chủ -
một số vấn đề lý luận
Chương 2: Thực trạng vai trò của nhà nước trong thực hiện dân chủ
và những vấn đề đặt ra.
Chương 3: Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò của nhà
nước trong việc thực hiện dân chủ của nhà nước ta hiện nay.
3
CHƯƠNG I
DÂN CHỦ, VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG
THỰC HIỆN DÂN CHỦ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề dân chủ
Dân chủ là một khái niệm thuộc phạm trù chính trị có nguồn gốc từ
thời kỳ Hylạp cổ đại. Có nhiều định nghĩa về dân chủ, nhưng định nghĩa
được thừa nhận phổ biến nhất là quyền lực của nhân dân, chính quyền của

chúng ta có chế độ nhà nước của nhân dân. Ở đây, chế độ nhà nước –
không chỉ tự nó, xét theo bản chất của nó, mà còn xét theo sự tồn tại của
nó, theo tính hiện thực của nó – ngày càng hướng tới cơ sở hiện thực của
nó, tới con người hiện thực, nhân dân hiện thực và được xác định là sự
nghiệp của bản thân nhân dân. Chế độ nhà nước ở đây xuất hiện đúng
chân tướng của nó, tức là xuất hiện với tính cách là sản phẩm tự do của
con người.
Cùng xuất phát từ con người, nhưng C.Mác khác những bậc tiền bối
của ông là phát hiện ra những quy luật vận động của đời sống xã hội, quan
điểm về giai cấp và đấu tranh giai cấp trong cuộc sống đấu tranh để cải tạo
xã hội. Đặc biệt là C.Mác đã phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô
sản trong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Từ hoạt động thực tiễn và hoạt động lý luận, C.Mác ngày càng ý thức
rõ hơn về vị trí và tầm quan trọng của vấn đề dân chủ trong cuộc đấu tranh
của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản và toàn bộ chế độ tự bản.
C.Mác đã nhận thức rằng, giành lấy dân chủ là một mục tiêu, một nội dung
của giai đoạn thứ nhất của cuộc cách mạng vô sản. Việc giai cấp vô sản trở
thành giai cấp thống trị cũng có nghĩa là giai cấp vô sản giành lấy dân chủ.
5
Xây dựng nhà nước của giai cấp vô sản, của nhân dân lao động cũng có
nghĩa là xây dựng nền dân chủ của giai cấp vô sản, nền dân chủ của nhân
dân lao động.
Lênin quan niệm: Dân chủ là một chế độ nhà nước nên dân chủ mang
tính giai cấp. Dân chủ tồn tại dưới hình thức cụ thể, biến đổi cùng với sự
thay đổi của các phương thức sản xuất và kết cấu giai cấp của xã hội. Vì
vậy nó phát triển cùng với sự thay thế qua các hình thái kinh tế - xã hội từ
thấp đến cao.
Khi chủ nghĩa tư bản ra đời và Nhà nước của giai cấp tư sản được tổ
chức theo hình thức chính thể cộng hoà thì nền dân chủ có một bước phát
triển vượt bậc trên phương diện tư tưởng cũng như trên thực tế. Về tư

xây dựng và thực thi quyền lực nhà nước Xô Viết là mục đích và là động
lực để củng cố chính quyền Xô Viết. Người chỉ rõ: việc thu hút được mọi
người lao động tham gia quản lý là một trong những ưu thế quyết định của
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa… Vì rằng một thiểu số người, tức là Đảng
không thể hiện được chủ nghĩa xã hội. Theo Lênin, chính quyền Xô Viết
không phải là cái gì xa rời mà đó là bộ máy gần gũi với nhân dân, nhân dân
bất kể ở cương vị nào, ngành nghề gì cũng có thể tham gia quản lý bộ máy
đó. Lênin cũng coi trọng sự công khai của chính quyền trong việc thực hiện
công việc quản lý. Người cho rằng: điều khác nhau căn bản giữa nhà nước
xã hội chủ nghĩa và các nước khác là ở chỗ chính quyền công khai với mọi
người, làm việc trước mặt quần chúng, quần chúng dễ dàng gần gũi, nó
trực tiếp sinh ra từ quần chúng, là tổ chức đại biểu cho quần chúng nhân
dân và ý chí của họ. Và trong thực tế nơi nào, lúc nào đó nếu gặp khó khăn,
có những khuyết điểm nếu báo cáo công khai trước quần chúng thì để được
quần chúng độ lượng thông cảm và cùng góp phần khắc phục, giải quyết.
7
V.Lênin – lãnh tụ của cuộc cách mạng XHCN đầu tiên, đã đặt biệt
nhấn mạnh tính giai cấp của nhà nước, của dân chủ, khi mà cuộc đấu tranh
giai cấp đang diễn ra quyết liệt và vấn đề giành chính quyền được đặt ra
một cách trực tiếp. Khi phân tích sâu sắc những hạn chế của dân chủ tư
sản, tính tất yếu khách quan của việc dùng bạo lực cách mạng đập tan nhà
nước tư sản giành lấy chính quyền, giành lấy dân chủ. V.Lênin cũng nhấn
mạnh tính lịch sử của dân chủ và phân tích sâu sắc thêm tư tưởng của chủ
nghĩa Mác về sự tiêu vong của nhà nước và chế độ dân chủ. V.Lênin khẳng
định rằng, không có dân chủ trừu tượng mà bao giờ dân chủ cũng có nội
dung cụ thể, dân chủ với giai cấp này, không dân chủ với giai cấp kia.
V.Lênin viết:
Chế độ dân chủ là một hình thức nhà nước, một trong những hình
thái của nhà nước. Cho nên, cũng như mọi nhà nước, chế độ dân chủ là
việc thi hành có tổ chức, có hệ thống sự cưỡng bức đối với người ta. Một

Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”
2
. Muốn có dân chủ
thì phải chống quan liêu tham nhũng vì những cái đó đối lập với dân chủ.
Người còn nhận thấy vai trò, tầm quan trọng của việc thực hành dân chủ.
“Thực hành dân chủ là cái chìa khoá vạn năng có thể giải quyết mọi khó
khăn
3
. Có thực hành dân chủ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thì mới
đem lại hạnh phúc, ấm no, tự do bình đẳng cho mọi người dân lao động. Đó
cũng là mục tiêu phấn đấu của chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi
trọng thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân: dân chủ về kinh tế,
dân chủ về chính trị. Theo người: có dân chủ thì dân mới tin, mới dám nói,
mới có sự sáng tạo. Phải thực hiện một nền dân chủ chân chính, không hình
thức, không cực đoan. Không cho phép lợi dụng và lạm dụng dân chủ để
xâm phạm lợi ích của nhà nước, của nhân dân.
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, T10, tr.698
2 Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb CTQG, T10, tr 293.
3 Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb CTQG, T10, tr 249.
9
Về dân chủ trong lĩnh vực chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn
mạnh phải xây dựng một Nhà nước do nhân dân lao động làm chủ. Đây là
tư tưởng nhất quán trong cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh. Nhà nước
Việt Nam kiểu mới thể hiện khối đại đoàn kết dân tộc trong liên minh công
nông và trí thức là gốc ngày càng có một vị trí quan trọng. Tất cả mọi
người Việt Nam, không phân biết gái, trai, giàu, nghèo, nòi giống, dân tộc,
tôn giáo đều là người chủ của nhà nước, có trách nhiệm xây dựng nhà
nước. Tính chất dân chủ nhân dân là đặc trưng nổi bật của chính quyền nhà
nước kiểu mới. Trong nước ta, nhân dân là người nắm giữ mọi quyền lực,
còn các cơ quan Nhà nước do nhân dân tổ chức ra, nhân viên Nhà nước và

6
.
Theo Hồ Chí Minh việc đáp ứng và thoả mãn nhu cầu, lợi ích của
nhân dân là tiêu chí số một để đánh giá hiệu quả, năng lực hoạt động của
Nhà nước, của đội ngũ cán bộ. Bác cho rằng cần phải chống đặc quyền, đặc
lợi, khắc phục những tiêu cực trong bộ máy nhà nước là nhu cầu và việc
làm thường xuyên, đảm bảo cho Nhà nước thật sự là công bộc của dân. Nếu
thấu hiểu và làm đúng tư cách đó thì mỗi cán bộ, công chức có thể phòng,
tránh, ngăn ngừa không phạm phải những lỗi lầm kể trên. Còn nếu: “Ai đã
phạm những lầm lỗi trên đây là phải hết sức sửa chữa, nếu không tự sửa
chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung”
7
Nói tóm lại toàn bộ tư tưởng của Hồ Chí Minh về vấn đề dân chủ là
làm sao xây dựng một chế độ do dân, mục đích đem lại đời sống tinh thần
và vật chất cho nhân dân ngày càng tốt hơn. Đây là ham muốn, ham muốn
tột bậc của Người.
5 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, T10. Tr 47-48
6 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, T10, tr.152.
7Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, T10, Tr. 58
11
Nói về vai trò của nhà nước trong việc thực hiện dân chủ, Chủ tịch
Hồ Chí Minh khẳng định dân chủ cho nhân dân lao động được thực hiện
bằng nhà nước. Với quan điểm đó, sau cách mạng tháng Tám năm 1945,
ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, mặc dù còn bề bộn
công việc chống giặc đói, giặc dốt, Người đã đưa ra chủ trương nhanh
chóng tổ chức tổng tuyển cử, thành lập Quốc hội để quản lý mọi hoạt động
xã hội; đồng thời công tác soạn thảo và ban hành Hiến pháp đã được Người
đưa vào chương trình nghị sự. Việc thể hiện rõ tinh thần dân chủ của chế độ
ta và trở thành “dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có
tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà”. Trong cuộc tổng tuyển cử đó,

minh thường xuyên chủ trương: “đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận
và tìm cách giải quyết”.
Theo Hồ Chí Minh giá trị và ý nghĩa của dân chủ chỉ có được khi và
chỉ khi nhân dân lao động thực hiện được quyền lợi thiết thực. Một nhà
nước dân chủ là một nhà nước thể hiện ý chí và quyền lực của dân, mưu
cầu hạnh phúc cho dân, phụng sự lợi ích của dân, thoả mãn những nhu cầu
hợp lý của các tầng lớp nhân dân trong xã hội. Những nhu cầu lợi ích đó
phải được thực hiện một cách công bằng, chính đáng, bảo đảm sự phát triển
hài hoà của các cá nhân và mục tiêu phát triển chung của xã hội. Nhà nước
sẽ không làm tròn chức năng của mình nếu rơi vào chủ nghĩa quan liêu. Nó
chỉ thực hiện tốt chức năng của mình khi phát huy được mọi khả năng của
quần chúng, phải đảm bảo cho dân có quyền thực sự tham gia quản lý nhà
nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định nhà nước là nhà nước của dân, do
dân, vì dân đó là nhà nước dân chủ tiến bộ, nhưng nhà nước đó sẽ quan
liêu, mất dân chủ khi đội ngũ cán bộ của nó xa dân, không gần dân, học
dân, không chú ý lắng nghe ý kiến và nguyện vọng của dân. Người từng
viết: “Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê
13
bình để làm tròn nhiệm vụ của mình là người đầy tớ trung thành, tận tuỵ
của nhân dân ta”. Không dừng lại ở đó, theo Hồ Chí minh, nhân dân còn là
người có quyền bãi miễn không chỉ quan chức các cấp, mà còn có cả quyền
bãi toàn thể chính phủ khi khẳng định rằng: “Nếu Chính phủ làm hại dân
thì dân có quyền đuổi Chính phủ”.
Hoàn chỉnh Hiến pháp và pháp luật phải đi đôi với hoàn chỉnh về tổ
chức và hoạt động của bộ máy nhà nước làm cho hệ thống lập pháp, hành
pháp và tư pháp thực sự trở thành một bộ máy hoạt động thống nhất vì lợi
ích của nhân dân. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh rất chú trọng khắc phục
những khuyết tật trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Tình
trạng những người có chức có quyền xa dân, gây phiền hà, sách nhiễu, ức
hiếp nhân dân, vi phạm quyền dân chủ của người dân, vi phạm kỷ cương,

1980 và Hiến pháp năm 1992, ngày 28/11/2013 Hiến pháp nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi Hiến pháp 1992) được Quốc hội khoá
XIII kỳ họp thứ VI thông qua ngày 28/11/2013: Trong chương I “Chế độ
chính trị” khẳng định: Điều 1. Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân. Nước CNXH Việt Nam do nhân dân làm chủ; Tất cả quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân
với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống
nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước
trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Điều 2. Nhà
nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn
trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục
15
tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có
cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.
Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta đã đẩy mạnh việc thực hiện dân
chủ trên các lĩnh vực tư tưởng, chính trị và đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế.
Vấn đề dân chủ từng bước được thể chế hoá, trước hết là ở lĩnh vực kinh tế,
thể hiện cách nhìn mới, cách tiếp cận mới, thực tiễn hơn, biện chứng hơn
về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Những thành tựu do đổi mới mang lại đã
góp phần làm thay đổi đời sống kinh tế, trên cơ sở đó Đảng và Nhà nước
ta, nhân dân ta có điều kiện để nhìn nhận sâu sắc hơn về các vấn đề dân
chủ trong chính trị, trong quản lý nhà nước. Chính vì thế mà các nhiệm kỳ
Đại hội VII, Đại hội VIII đã dành sự chú ý thích đảng đến dân chủ trong
chính trị, đã đặt ra một cách dứt khoát mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách nền hành chính vốn nặng nề và trì trệ của
chế độ tập trung quan liêu bao cấp trước đây.
Trong bối cảnh đó Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VIII) của Đảng đã
ra đời và nhấn mạnh về vấn đề phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Bộ
Chính trị đã ra Chỉ thị số 30/CT-TW ngày 18/2/1988 về việc xây dựng và

Thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nghị số 29/1998/NĐ-CP ngày
11/5/1998 về thực hiện quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Nghị định
số 71/1998/NĐCP ngày 08/9/1998 về thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt
động của cơ quan nhà nước và Nghị định số 07/1999/NĐCP ngày
13/2/1999 về thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của các doanh
nghiệp nhà nước.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX được coi là đại hội của trí tuệ, dân
chủ đoàn kết, đổi mới khẳng định lại mục tiêu xây dựng một chế độ dân
chủ thông qua Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách các thể chế
và phương thức hoạt động của Nhà nước, mở rộng và đa dạng hoá các hình
17
thức tập hợp nhân dân. Coi đoàn kết dân tộc là động lực của phát triển xã
hội. Đại hội đã đưa “dân chủ” thành một trong năm mục tiêu quan trọng
của cách mạng nước ta trong thời kỳ mới: dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X là đại hội “trí tuệ, đổi mới, đoàn
kết và phát triển bền vững” với chủ đề là: Nâng cao năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn
diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển.
Phát huy dân chủ, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI tiếp tục nhấn mạnh và khẳng
định: dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển; Đảng
CSVN gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát
của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của
mình.
Những quan điểm trên đã được luật hoá thành những nguyên tắc
Hiến định trong các bản Hiến pháp của nước ta từ khi Nhà nước dân chủ ra
đời đến nay. Các bản Hiến pháp đều ghi rõ: ở nước ta tất cả các quyền lực
trong nước đều thuộc về nhân dân, thể chế qua các nguyên tác:

Hai là, trong tổ chức và hoạt động của mình, quyền lực nhà nước là
thống nhất, không phân chia nhưng có sự phân công và phối hợp chặt chẽ
giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp
và tư pháp.
Quyền lực nhà nước là thống nhất. Điều đó xuất phát từ quan điểm:
trong chủ nghĩa xã hội “tất cả quyền lực thuộc về nhân dân” nhân dân là
chủ thể của quyền lực nhà nước. Trong cơ chế tập trung thống nhất đo,
trong mỗi cơ quan nhà nước khác nhau (cơ quan lập pháp, cơ quan hành
19
pháp cơ quan tư pháp) có chức năng và vị trí không như nhau trong việc
thực hiện các quyền lực trên, nhưng không có bất kỳ cơ quan nhà nước nào
trong số đó đứng biệt lập ra lại có thể thực hiện đầy đủ chức năng của
mình. Do vậy sự phố hợp giữa các cơ quan đó là điều kiện cần thiết.
Ba là, trong tổ chức và hoạt động của mình, nhà nước pháp quyền
XHCN quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ. Chỉ khi đó mới bảo đảm sự
thống nhất tổ chức và hành động, phát huy đồng bộ và kết hợp chặt chẽ sức
mạnh của cả cộng đồng và từng cá nhân, của cả nước và từng địa phương,
của cả hệ thống bộ máy và từng tổ chức cấu thành nó. Tập trung dân chủ
đối lập với tập trung quan liêu cũng như phân tán cục bộ.
Bốn là, Nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội theo pháp luật và
bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục nâng cao đạo đức XHCN cho
nhân dân.
Pháp luật phải trở thành công cụ điều tiết chủ yếu các quan hệ xã hội
nhất là trong xã hội dân chủ, như C.mác đã khẳng định: Dưới chế độ dân
chủ, không phải con người tồn tại vì luật pháp, mà luật pháp tồn tại vì con
người… chỉ có chế độ dân chủ mới là sự thống nhất chân chính giữa cái
phổ biến và cái đặc thù. Nhà nước được tổ chức, hoạt động phù hợp với
pháp luật, pháp luật phải được chấp hành nghiêm minh và thống nhất đối
với mọi cá nhân và tổ chức. Bảo vệ pháp luật, giữ vững kỷ cương xã hội có
ý nghĩa to lớn trong việc thực hiện dân chủ của nhân dân. Muốn vậy, nhà

Năm là, Nhà nước thực sự là nhà nước của dân, do dân, vì dân dựa
trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và
tầng lớp trí thức đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Đó là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp
công nhân và giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.
21
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, nhà nước là công cụ
chuyên chính của giai cấp thống trị về chính trị. Nguyên lý này đúng với
mọi nhà nước nói chung, nhưng với nhà nước ta do những đặc điểm về bản
chất giai cấp, nó lại là sự thể hiện của nền dân chủ cao nhất, do đó nó có
vai trò sáng tạo lớn nhất trong việc xây dựng xã hội mới xã hội XHCN, mà
đặc điểm cơ bản là:
- Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân. Cương lĩnh xây dựng đất nước ta trong thời kỳ quá
độ lên CNXH đã được Đảng ta chỉ rõ Nhà nước ta: “Là tổ chức thể hiện và
thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân”.
Nguyên tắc tối cao của nhà nước ta là “Tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân”. Nhân dân là một cộng đồng gồm nhiều dân tộc, có các
giai cấp và tầng lớp khác nhau sống trên cùng một lãnh thổ quốc gia, có
những lợi ích căn bản thống nhất và có mục đích chung là đi lên XHCN;
nhưng cũng có những mâu thuẫn nhất định mà nhà nước phải quản lý thống
nhất và điều chỉnh bằng pháp luật.
Cộng đồng nhân dân Việt Nam, trong đó từng cá nhân, từng công dân
không những không mất địa vị làm chủ của mình, mà còn được nhà nước
bảo đảm bằng luật pháp về quyền con người và các quyền công dân. Nhân
dân thực hiện quyền lực nhà nước và quyền làm chủ xã hội không phải với tư
cách từng người riêng rẽ, có lợi ích cá nhân tách rời và trái ngược với lợi ích
của cộng đồng. Thực hiện quyền lực nhà nước và quyền làm chủ xã hội không
những không thủ tiêu mà còn khẳng định sự tồn tại và tôn trọng, bảo vệ địa vị

hiệu quả và chất lượng bộ máy nhà nước được nâng cao. Dân chủ tiếp tục
được phát huy trên nhiều lĩnh vực. Dân chủ về kinh tế ngày càng được mở
rộng đã tác động tích cực đến việc giải phóng sức sản xuất, tốc độ tăng
trưởng GDP năm sau cao hơn năm trước. Kinh tế vĩ mô tương đối ổn định,
các mối quan hệ và cân đối chủ yếu trong nền kinh tế được cải thiện đáng
kể. Nhìn chung đời sống của nhân dân đã được nâng lên. Dân chủ về chính
trị có bước tiến quan trọng trong việc xây dựng hiến pháp và các bộ luật, ở
việc bầu cử dân chủ các cơ quan dân cử, ở chất lượng các kỳ họp Quốc hội,
Hội đồng nhân dân các cấp, hoạt động điều hành của Chính phủ, hoạt động
của Viện kiểm sát và Tòa án các cấp, cũng như tại các cuộc thảo luận của
nhân dân tham gia ý kiến xây dựng các dự án luật , trên tinh thần dân chủ
cùng thảo luận và biểu quyết công khai thật sự trên mọi diễn đàn và hoạt
động của các cơ quan Quốc hội và Chính phủ. Đồng thời, hệ thống hành
chính nhà nước các cấp đang được đổi mới từng bước cả trong thể chế,
chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức , chuyển dần sang phương thức
quản lý xã hội chủ yếu bằng pháp luật, phân biệt chức năng quản lý vĩ mô
của nhà nước với quyền tự do kinh doanh của các đơn vị kinh tế.
24
- Quốc hội đã có nhiều đổi mới về nội dung và phương thức hoạt
động, các buổi họp đã được truyền hình trực tiếp, các cuộc tranh luận chất
vấn giữa đại biểu Quốc hội và các thành viên Chính phủ đã được công
khai, hình thành cơ chế giải quyết kiến nghị của dân thông qua việc tiếp
xúc giữa đại biểu Quốc hội với cử tri. Lòng tin và sự tín nhiệm của dân đối
với Quốc hội được nâng lên. Trong việc bầu các cơ quan dân cử đã thực
hiện tốt hơn quyền đề cử, ứng cử, lựa chọn các đại biểu có chất lượng cao
hơn vào các cơ quan quyền lực nhà nước. Quốc hội khoá XI đã được cơ
cấu 25% đại biểu chuyên trách sẽ tạo cơ sở, nền tảng cho mọi hoạt động
của Quốc hội có chất lượng và hiệu quả hơn.
Về hoạt động lập pháp, Quốc hội đã ban hành nhiều Bộ luật, luật,
pháp lệnh, thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, cụ thể hóa các quy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status