Vai trò của nhà nước đối với công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong hội nhập kinh tế quốc tế ở Đài Loan - Pdf 24


1
LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Mấy thập kỷ qua, làn sóng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đã và đang
diễn ra ở nhiều nước đang phát triển. Ngày nay, khi toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới diễn
ra sâu rộng do tác động của cách mạng khoa học - công nghệ thời đại thì CNH, HĐH chỉ
có thể thành công và được rút ngắn khi có chiến lược đúng đắn, gắn v
ới các chính sách,
giải pháp điều hành phù hợp với những biến động của tình hình kinh tế trong nước và
quốc tế. Thực tế, một số quốc gia và lãnh thổ đã sớm thành công trong công nghiệp hoá
và gia nhập hàng ngũ NIEs, trong đó có Đài Loan. Sự thành công của Đài Loan có
nguyên nhân rất quan trọng là sự định hướng và điều tiết của nhà nước. Điều đó đã để lại
những bài học kinh nghi
ệm về vai trò của nhà nước đối với CNH, HĐH trong hội nhập
kinh tế quốc tế.
Ở nước ta, sự nghiệp CNH, HĐH theo đường lối đổi mới của Đảng ta đạt được
những thành tựu quan trọng. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng về kinh tế - xã hội và bước
sang giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH nhằm mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Tuy nhiên, trong xu thế toàn cầu
hoá kinh tế đang diễn ra ngày một mạnh mẽ thì yêu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh và bền
vững ở nước ta đang đứng trước những thời cơ và thách thức to lớn đối với CNH, HĐH
trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Điề
u đó càng
khẳng định vai trò cần thiết của nhà nước trong định hướng, điều hành CNH, HĐH ở
nước ta.
Đó là lý do nghiên cứu sinh chọn đề tài nghiên cứu: “Vai trò của nhà nước đối với
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Đài Loan trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế (thời
kỳ 1961 - 2003) - Bài học kinh nghiệm và khả năng vận dụng vào Việt Nam”.
2. Tổng quan các công trình đã nghiên cứu có liên quan đến luậ

nghiệp hoá của các nền kinh tế Đông Á do Nguyễn Trần Quế chủ biên (2000); Một số vấn
đề về công nghiệp hoá, hiệ
n đại hoá ở Việt Nam của Đỗ Hoài Nam (2004); Kinh tế học
phát triển về công nghiệp hoá và cải cách nền kinh tế của Đỗ Đức Định (2004)… đã đề
cập và nghiên cứu về các chính sách của nhà nước nhằm thúc đẩy CNH, HĐH trong hội
nhập kinh tế quốc tế ở một số nước Đông Á, trong có có Đài Loan và rút ra những bài học
kinh nghiệm cho Việt Nam.
Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu toàn diệ
n, có tính hệ thống về
vai trò của nhà nước Đài Loan đối với CNH, HĐH trong hội nhập kinh tế quốc tế theo
giác độ lịch sử kinh tế.
3. Mục tiêu của đề tài luận án
- Làm rõ vai trò của nhà nước đối với CNH, HĐH ở Đài Loan trong quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế.
- Rút ra một số bài học kinh nghiệm về vai trò của nhà nước đối với CNH, HĐH
trong hội nhập kinh tế
quốc tế ở Đài Loan có ý nghĩa thực tiễn với nước ta hiện nay.
4. Những đóng góp mới của luận án
- Làm rõ hơn cơ sở lý luận về vai trò của nhà nước đối với CNH, HĐH trong hội
nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt với những nước có nền kinh tế ở điểm xuất phát thấp đang
thực hiện CNH, HĐH nhằm đẩy nhanh tiến trình phát triển.
- Tập trung nghiên cứu làm rõ thực trạng về vai trò nhà nước đối với CNH, HĐH ở
Đài Loan trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế (thời kỳ 1961 - 2003) để rút ra một số
bài học kinh nghiệm về vai trò của nhà nước trong CNH, HĐH.
- Luận giải khả năng vận dụng một số kinh nghiệm về vai trò của nhà nước đối với
CNH, HĐH trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
của Đài Loan với nước ta hiện nay.
Đồng thời, đề xuất một số kiến nghị để tăng thêm tính khả thi trong vận dụng các kinh
nghiệm đó.


lục, luận án được kết
cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về vai trò của nhà nước đối với công nghiệp hoá, hiện đại
hoá trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Chương 2: Vai trò của nhà nước đối với công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong hội
nhập kinh tế quốc tế ở Đài Loan (thời kỳ 1961 - 2003) và bài học kinh nghiệm.
Chương 3: Khả năng vận dụng một số kinh nghiệm về vai trò của nhà nước đối
với công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong hội nhập kinh tế quốc tế ở Đài Loan vào nước
ta hiện nay.

4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TRONG HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1.1. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
1.1.1.1. Khái niệm công nghiệp hoá
Thực tiễn ở nhiều nước cho thấy, công nghiệp hoá diễn ra rất phong phú, đa dạng về
mô hình bởi nó là quá trình phức tạp và bao hàm phạm vi rộng lớn. Do thời điểm xuất
phát và phương thức tiến hành khác nhau nên bản thân khái niệm công nghiệp hoá cũng
được quan niệm theo những cách tiếp cận khác nhau. Luận án đã nêu ra một số quan niệm
về công nghiệp hóa như quan niệ
m công nghiệp hóa cổ điển, quan niệm công nghiệp hóa
của Liên Xô, của Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp quốc (UNIDO)... Nhìn
chung, mỗi cách quan niệm về công nghiệp hoá trên đây đều có nhân tố hợp lý, nó tuỳ
thuộc vào hoàn cảnh cụ thể và gắn với những yêu cầu đặt ra trong phát triển. Tuy nhiên,
các quan niệm này chưa đề cập đến một nội dung quan trọng là khía cạnh cơ chế, thể chế
củ

mới, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
-
Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng hiện đại.
- Thứ ba, tạo ra những chuyển biến cơ bản về thể chế và xã hội.
- Thứ tư, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế.
1.1.2.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến CNH, HĐH trong hội nhập kinh tế quốc tế
* Các nhân tố bên trong bao gồm các nguồn lực (vốn, công nghệ, nhân lực), th
ể chế,
cơ chế huy động và phân bổ sử dụng các nguồn lực, dung lượng thị trường...
* Các nhân tố bên ngoài:
- Thứ nhất, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại thúc đẩy sự phát triển của
phân công lao động quốc tế
- Thứ hai, các công ty xuyên quốc gia ngày càng phát triển mạnh, đóng vai trò then
chốt và chi phối nền kinh tế thế giới
- Thứ ba, sự gia tăng ảnh hưởng của các tổ
chức kinh tế, tài chính quốc tế đối với
các quốc gia trong hội nhập kinh tế quốc tế
- Thứ tư, xu hướng đối thoại, hợp tác kinh tế giữa các quốc gia ngày càng mở rộng
và phát triển
1.2. VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TRONG
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.2.1. Một số lý thuyết về vai trò của nhà nước đối với sự phát triển kinh tế
Trong lịch sử, đã có nhiều lý thuyết kinh tế theo những cách tiếp cận khác nhau bàn
về vai trò của nhà nước đối với sự phát triển kinh tế. Luận án đã khái quát một số trường
phái lý thuyết kinh tế học bàn về vai trò của nhà nước như Trường phái Keynes, Trường
phái Tân cổ điển; Trường phái chính hiện đại; Tr
ường phái Cấu trúc luận và Thuyết tự do
mới... Luận án còn đề cập đến các lý thuyết về phương pháp và công cụ giải quyết những
vấn đề kinh tế của các nước đang phát triển và lý thuyết về lợi thế so sánh – cơ sở của
chính sách thương mại quốc tế. Mặc dù còn những quan điểm chưa đồng nhất nhưng về

c. Về chính sách huy động vốn cho CNH, HĐH
d. Về chính sách phát triển khoa học - công ngh

e. Về chính sách phát triển nguồn nhân lực
f. Về chính sách thúc đẩy xuất khẩu
g. Về chính sách đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật

Chương 2
VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở ĐÀI LOAN (THỜI KỲ 1961 - 2003)
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

2.1. KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI ĐÀI LOAN GIAI ĐOẠN 1949 - 1960

Luận án đã khái quát về điểu kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội để thấy được
những khó khăn và thuận lợi của Đài Loan khi bước vào công nghiệp hóa. Đồng thời,
luận án cũng khái quát về tình hình công nghiệp hóa theo chiến lược thay thế nhập khẩu
để làm rõ thành tựu và những khó khăn thách thức của Đài Loan nếu tiếp tục duy trì chiến
lược này.
2.2. VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CNH, HĐH TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC
TẾ Ở ĐÀI LOAN (THỜI KỲ 1961 - 2003)
2.2.1. Giai đoạn 1961 - 1982

7
2.2.1.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội
- Chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu đã bộc lộ rõ những hạn chế.
- Hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế, sự phát triển mạnh của khoa học kỹ thuật
đã tạo điều kiện cho Đài Loan cơ hội tiếp thu những nguồn lực từ nước ngoài để phát
triển các ngành kinh tế hướ
ng về xuất khẩu.

- Về khu vực dịch vụ, chính quyền Đài Loan khuyến khích phát triển những ngành
dịch vụ phục vụ sản xuất như vận tải, thông tin, dịch vụ tài chính, tiền tệ...
- Về nông nghiệp, chính sách của nhà nước tập trung phát triển một số loại sản phẩ
m
cây trồng, vật nuôi có năng suất cao để phục vụ xuất khẩu.
c. Chính sách huy động nguồn lực tài chính cho công nghiệp hoá
- Đảm bảo cân đối ngân sách nhằm tập trung chi cho công nghiệp hoá

8
- Chính sách khuyến khích đầu tư tư nhân
+ Chính quyền Đài Loan đã ban hành hệ thống các văn bản pháp luật nhằm tạo môi
trường pháp lý ổn định.
+ Nới lỏng các biện pháp kiểm soát nhập khẩu, cho phép các công ty tư nhân được
tự do xuất khẩu, miễn và giảm thuế đối với một số sản phẩm xuất khẩu.
+ Khuyến khích mô hình cơ cấu công nghiệp hai tầng.
+ Thực hiện những chính sách tr
ợ cấp, chính sách tín dụng lãi suất thấp.
Những chính sách ưu đãi và khuyến khích của nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi
cho kinh tế tư bản tư nhân phát triển. Đến những năm 1980, khu vực tư nhân có hơn 100
tập đoàn doanh nghiệp lớn, hơn 70 vạn doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) với tổng vốn
đầu tư là 7,2 tỷ USD, đóng góp 51,5% tổng vốn đầu tư của Đài Loan. Tính đến năm 1982,
các DNVVN chiếm 99,5% trong tổng số doanh nghiệp và chiếm 70% số lao động có việc
làm, chiếm 55% giá trị tăng thêm và 65% tổng kim ngạch xuất khẩu.
- Tăng cường huy động nguồn vốn từ các tầng lớp dân cư thông qua hệ thống ngân
hàng và các trung gian tài chính
+ Để tăng khả năng tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế cho đầu tư phát triển, nhà nước đã
thực hiện chính sách lãi suất thực dương.
+ Tạo điều kiện cho sự ra đời của các tổ chức tài chính phi ngân hàng như các công
ty bảo hiểm, các công ty đầu tư uỷ thác, các công ty tài chính ngắn hạn...
- Chính sách thu hút nguồn vốn nước ngoài

Nhìn chung, chính sách phát triển giáo dục - đào tạo đã giúp Đài Loan có mặt bằng
dân trí cao. Năm 1982, 21,51% tổng số lao động tốt nghiệp các trường trung cấp và đào
tạo nghề; số người tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng và sau đại học chiếm 11,12%.
f. Chính sách khuyến khích xuất khẩu
- Tiến hành cải cách chế độ tỷ giá hối đoái theo hướng thực hiện chế độ một tỷ giá
hối đoái thống nhất và hạ giá đồng tiền mới Đài Loan 62%.
- Chính phủ nới lỏng kiểm soát nhập khẩu và thực hiện chính sách tự do hoá đối với
các đầu vào nhập khẩu cần thiết cho việc sản xuất hàng xuất khẩu.
- Chính quyền có chính sách bảo hộ và trợ cấp với nhiều hình thức, thực hiện khen
thưởng cho những cơ sở có doanh thu xuất khẩu cao.
- Thành lập các khu chế xuất (Cao Hùng, Nam Tử, Đài Trung) nhằm thu hút các nhà
đầu tư nước ngoài để thúc đẩy xuất khẩu. Giai đoạn từ 1966 đến 1978, tổng kim ngạch
xuất khẩu của ba khu chế xuất là 7 tỷ USD, xuất siêu 1,68 tỷ USD.
g. Chính sách xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng
Chú trọng xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, đồng
bộ, bao gồm hệ thống giao thông vận tải, khu công nghiệp…
2.2.1.4. Kết quả chủ yếu của CNH, HĐH
- Kinh tế Đài Loan tăng trưởng bình quân năm trong thập kỷ 1960 là 8,3%; thập kỷ
1970 là 10,2%.

Hình 2.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế Đài Loan giai đoạn 1960-1982

Nguồn: Council for Economic Planning and Development, R.O.C: Taiwan
Statistical Data Book, 2004, p. 5.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status