Nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty thông tin di động VMS MobiFone trong hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 28

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Sau hơn 20 năm đổi mới, đặc biệt là trong xu thể hội nhập kinh tế
quốc tế có thể thấy sự phát triển mạnh mẽ của tất cả mọi lĩnh vực, mọi ngành,
nghề của đât nước. Mức tăng trưởng kinh tế liên tục tăng cao, GDP ngày càng
cao, khối lượng đóng góp của các ngành nghề vào GDP ngày càng lớn và theo
xu hướng giảm dần tỷ trọng đóng góp của ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng
của ngành công nghiệp và dịch vụ.
Chúng ta đã trở thành thành viên thứ 150 của WTO. Điều này đã mở
ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp bưu chính viễn thông Việt Nam nói
riêng và thành phần kinh tế khác nói chung với thị trường rộng mở, đầu tư
nước ngoài sẽ tốt hơn nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức để các
doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trong một môi trường cạnh tranh mà
các đối thủ sẽ hơn hẳn chúng ta về cả vốn, công nghệ, cả trình độ quản lý....
Hiện nay, với 6 nhà cung cấp cùng nhau chia sẻ thị trường thông tin di
động Việt Nam. Bằng các chiến lược, chính sách chương trình khác nhau đã
và đang làm nên một cuộc chiến cạnh tranh giành giật thị trường vô cùng sôi
động và hứa hẹn sẽ còn sôi động hơn khi có thêm sự tham gia của các nhà đầu
tư nước ngoài trong thời gian tới.
Công ty thông tin di động VMS MobiFone, đơn vị dẫn đầu ngành thông
tin di động Việt Nam, mạng điện thoại di động được ưa chuộng nhất Việt
Nam, với lịch sử 14 năm hoạt động và phát triển, cũng đã và đang nỗ lực hết
minh để củng cố địa vị của mình trên thị trường. Nhưng, chúng ta đang sống
trong môi trường hội nhập và phát triển. Vị trí giành được hôm nay nhưng có
thế sẽ bị đối thủ giành giật mất vào ngày mai. Nhất là khi phải đối mặt cùng
các nhà đầu tư nước ngoài, những nhà đầu tư mà từ lâu đã coi Việt Nam là
mảnh đất màu mỡ để phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực bưu chính viễn thông.
Đỗ Thị Thu Thuỷ QTKD Thương mại 45B- ĐH KTQD
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Từ thực tiễn thị trường, sau một thời gian thực tập tại công ty thông

Chương I
Những vấn đề cơ bản về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của 1 doanh
nghiệp trong hội nhập kinh tế quốc tế.
I, Hội nhập kinh tế quốc tế và sự cần thíêt phải nâng cao khả năng cạnh
tranh của các doanh nghiệp
1. Đánh giá tổng quan về tình hình phát triển kinh tế của Việt Nam năm
2006.
Năm 2006, kinh tế nước ta phát triển trong điều kiện trong nước và thế
giới có những sự kiện nổi bật: Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Hội nghị
APEC 2006 tại Hà Nội thành công tốt đẹp, Việt Nam đã chính thức trở thành
thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO) và thông qua quy chế bình
thường vĩnh viễn với Hoa Kì( PNTR).... Bên cạnh đó, cũng có không ít các
yếu tố khó khăn tác động không thuận đến sản xuất và đời sống dân cư: Ở
trong nước là ảnh hưởng của bão số 1, bão số 6, bão số 9 và các bất thường về
thời tiết khác; dịch bệnh trong nông nghiệp..., trên thị trường quốc tế, giá cả
nói chung, đặc biệt là giá xăng dầu diễn biến phức tạp và có chiều hướng
tăng. Tuy nhiên, nhờ có sự chỉ đạo và điều hành sát sao của Chính phủ thông
qua các chính sách phù hợp, kịp thời, cùng với sự nỗ lực của các ngành, các
cấp, các doanh nghiệp và toàn dân, kinh tế tiếp tục phát triển, chính trị, xã hội
ổn định. Có thể đánh giá tình hình phát triển kinh tế năm 2006 như sau:
Tổng sản phẩm trong nước năm 2006 theo giá so sánh ước tính tăng
8,17% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ
sản tăng 3,4%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,37%; khu vực dịch
vụ tăng 8,29%. Trong 8,17% tăng trưởng chung, khu vực nông, lâm nghiệp và
thuỷ sản đóng góp 0,67 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng
Đỗ Thị Thu Thuỷ QTKD Thương mại 45B- ĐH KTQD
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đóng góp 4,16 điểm phần trăm và khu vực dịch vụ đóng góp 3,34 điểm phần
trăm.

vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 16,3%, bằng 116,1%.
-Vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước năm 2006 ước
tính thực hiện 64,1 nghìn tỷ đồng, bằng 114,1% kế hoạch cả năm, trong đó
vốn đầu tư do trung ương quản lý xấp xỉ 18 nghìn tỷ đồng, bằng 103,3%; vốn
do địa phương quản lý 46,1 nghìn tỷ đồng, bằng 119%.
- Đầu tư trực tiếp của nước ngoài năm 2006 tiếp tục phát triển. Tính
từ đầu năm đến 18/12/2006, cả nước có 797 dự án đầu tư nước ngoài được cấp
giấy phép với tổng số vốn đăng ký 7,57 tỷ USD, bình quân 1 dự án đạt 9,5 triệu
USD.
 Thương mại
-Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ năm 2006 ước tính
đạt 580,7 nghìn tỷ đồng (tính theo giá thực tế) tăng 20,9% so với năm trước và
tăng trên 13%, nếu loại trừ yếu tố giá, đây là mức tăng tương đối cao so với
mức tăng trưởng, chứng tỏ sức mua tăng và tiêu dùng của dân cư tăng lên.
Trong tổng mức, kinh tế nhà nước tăng 8,2%; kinh tế tập thể tăng 20,8%; kinh
tế cá thể tăng 22,4%; kinh tế tư nhân tăng 25%; kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài tăng 21,5%
- Tổng mức lưu chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu năm 2006 ước tính
đạt 84 tỷ USD, tăng 21% so với năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 22,1%;
nhập khẩu tăng 20,1%; nhập siêu là 4,8 tỷ USD, bằng 12,1% kim ngạch xuất
khẩu (các con số tương ứng của năm trước là 4,54 tỷ USD và 14%).
-Xuất khẩu hàng hoá năm 2006 ước tính đạt 39,6 tỷ USD và đã vượt
4,9% so với kế hoạch cả năm, trong đó khu vực kinh tế trong 16,7 tỷ USD, tăng
Đỗ Thị Thu Thuỷ QTKD Thương mại 45B- ĐH KTQD
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
20,5% so với năm trướ Xuất khẩu dịch vụ năm 2006 ước tính đạt 5,1 tỷ USD,
tăng 19,6% so với năm 2005, trong đó một số dịch vụ có tỷ trọng cao đạt mức
tăng trên 20% như: du lịch, tăng 23,9%; vận tải hàng không tăng 35,5%; dịch
vụ hàng hải tăng 27,5%; dịch vụ tài chính tăng 22,7%. Nhập khẩu hàng hoá

và cạnh tranh là vấn đề đang trở nẻn ngày càng khách quan hơn. Cùng với xu
thế đó, ngành bưu chính viễn thông mà cụ thể là lĩnh vực thông tin di động đã
và đang có nhiều biến đổi sâu sắc. Các nhà cung cấp mới xuất hiện, các dịch
vụ đưa ra ngày càng đa dạng đang làm cho cuộc chiến cạnh tranh giữa các
mạng càng trở nên gay gắt hơn bao giờ hết.
2. Những cơ hội và thách thức của Việt Nam khi hội nhập kinh tế quốc tế.
Gia nhập vào các tổ chức kinh tế lớn trên thế giới, đặc biệt là việc trở
thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO đã đưa vị trí
của Việt Nam lên một tầm cao mới khẳng định vị thế đất nước ta, dân tộc ta
đối với cộng đồng quốc tế, là một minh chứng hùng hồn về quyết tâm và nghị
lực của nhân dân ta xây dựng một quốc gia độc lập, tự chủ, ổn định về chính
trị, công bằng, gắn kết về xã hội, phát triển mạnh mẽ về kinh tế, xứng đáng là
một trong những nền kinh tế phát triển năng động, sẵn sàng thực hiện các cam
kết chung với cộng đồng quốc tế. Thêm vào đó là chủ trương cải cách mở cửa
kêu gọi đầu tư nước ngoài, tích cực xây dựng phát triển kinh tế theo xu hướng
đa dạng hoá đa phương hoá đã tạo ra cho các doanh nghiệp rất nhiều những
cơ hội và thách thức:
Các cơ hội khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế.:
Sau hơn 20 năm đổi mới, bộ mặt của nước ta có thể nói đã thay đổi hoàn
toàn, được đánh giá là quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế vào hàng nhanh
nhất trên thế giới, Việt Nam đang từng ngày từng giờ nỗ lực vì sự phát triển
phồn thịnh quốc gia. So với các nước trong khu vực, Việt Nam đựoc đánh giá
Đỗ Thị Thu Thuỷ QTKD Thương mại 45B- ĐH KTQD
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài, vì có nguồn nhân lực
dồi dào, thì trường tiêu thụ rộng lớn với dân số hơn 83 triệu người , có thành
phần là dân số trẻ, sức mua lớn, khả năng tiêu thụ hàng hóa là rất lớn, thêm
vào đó là các chính sách khuyến khích đầu tưmỏ cửa thị trường của nhà nước,
xu thế hội nhập càng mở ra cho nước ta nhiều cơ hội thu hút các nhà đầu tư

chất lượng cuộc gọi ngày càng được nâng cao, đem lạio nhiều các dịch vụ tiện
ích, các dịch vụ giá trị gia tăng cho người tiêu dùng.
Các thách thức đối với các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam:
Trên thực tế, các cơ hội đối với các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn ở
dạng tiềm năng, còn các thách thức thì đã là rất hiện thực. Khi đã trở thành
thành viên của WTO, sự cạnh tranh chắc chắn sẽ khốc liệt hơn hiện nay rất
nhỉều, đặc biệt với phần kinh doanh dịch vụ,vì theo cam kết, thị trường dịch
vụ không có hạ tầng mạng sẽ mở rộng hơn so với cam kết trong BTA.
Bên nước ngoài khi liên doanh có quyền nâng mức vốn góp lên cao hơn,
khả năng kiểm soát của nước ngoài đối với việc điều hành kinh doanh dịch vụ
cũng lớn hơn... đây cũng là nguy cơ mà các doanh nghiệp phải đối mặt.
Quy mô mạng lưới của chúng ta còn nhỏ bé, năng lực của doanh nghiệp
còn chưa cao, sức cạnh tranh của các doanh nghiệp bưu chính viễn thôn còn
yếu. Cách thức cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp, chất lượng dịch vụ cao của
các đối tác sẽ tạo nên một áp lực ghê gớm đối với hoạt động dịch vụ vốn còn
khá non trẻ của các doanh nghiệp trong nước.
Hệ thống luật pháp cũng là một nguy cơ đối với các doanh nghiệp kinh
doanh trong lĩnh vực thông tin di động. Hệ thống luật pháp của chúng ta chưa
đồng bộ, thêm vào đó là các thông lệ điều ước quốc tế. Gây cho các doanh
nghiệp không ít các khó khăn.
Đỗ Thị Thu Thuỷ QTKD Thương mại 45B- ĐH KTQD
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Như vậy, hội nhập kinh tế quốc tế, đã đem laị cho các doanh nghiệp Việt
Nam noí chung và các doanh nghiệp trong ngành bưu chính viễn thông nói
riêng nhiều các cơ hội để tăng khả năng kinh doanh trong thời đại mới nhưng
đồng thời cũng đưa lại nhiều thách thức cho các doanh nghiệp để có thể tồn
tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng trỏ nên khốc liệt hơn.
II. Khả năng cạnh tranh và các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp

phá huỷ mang tính sáng tạo. Các nhà tư tưởng mang trường phái trọng nông
là những người đầu tiên phát hiện ra ý ngĩa của cạnh tranh thông qua việc
nghiên cứu biến động về giá cả. Họ cho rằng, giá cả tự nhiên bao gồm lao
động chứa trong sản phẩm và địa tô, nếu có bất thường nào đó xảy ra thì giá
thị trường này có thể chênh lệch với giá tự nhiên trong một thời gian ngắn.
Khi đó, cạnh tranh sẽ hoạt động tích cực để điều chỉnh cho giá thị trường trở
về giá tự nhiên. Adam Smith là người đã tiếp thu và hoàn thiện nội dung này
và bổ sung vào đó các yếu tố cạnh tranh của bên cầu, và như vậy, ông được
coi là người đầu tiên đưa ra luận điểm tương đối đầy đủ hoàn thiện về lý
thuyết cạnh tranh.C. Marx định nghĩa: Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu
tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi
trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch.
Theo cuốn từ điển kinh doanh(xuất bản năm 1992 ở Anh), cạnh tranh
trong cơ chế thị trường được định nghĩa là: Sự ganh đua kình địch giữa các
nhà kinh doanh nhằm tranh giành tài nguyên sản xuất cùng 1 loại về phía
mình
Trong Đại từ điển tiếng Việt có ghi: Cạnh tranh là 1 khái niệm được sử
dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Để đơn giản hoá, có thể hiểu cạnh tranh
là một sự ganh đua giữa 1 nhóm người mà sự nâng cao vị thế của người này
Đỗ Thị Thu Thuỷ QTKD Thương mại 45B- ĐH KTQD
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sẽ làm giảm vị thế của người kia. Điều kiện cho sự cạnh tranh trên 1 thị
trường là : có ít nhất 2 chủ thể quan hệ đối kháng và có sự tương ứng giưa sự
cống hiến và phần được hưởng của mỗi thành viên trên thị trường…
Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghịêp của tổ chức hợp tác và Phát
triển kinh tế( OECD) đã đưa ra khái niệm cạnh tranh như sau: Là khả năng
của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, và vùng trong việc tạo ra việc làm và
thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.
Vậy khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp có thể được định nghĩa như

Ngày nay, trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt và quyết liệt,
một doanh nghiệp muốn có vị trí vững chắc trên thị trường thì phải có một
tiềm lực đủ mạnh và sử dụng các nguồn lực đang có một cách hiệu quả để có
thẻ cạnh tranh được trên thị trường, đó chính là sức cạnh tranh của doanh
nghiệp( hay còn được gọi là khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp)
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện ở nhiều mặt. Các doanh
nghiệp phải luôn luônn đưa ra các phương án , các giải pháp tối ưu nhất để giảm
chi phí sản xuất để từ đó giảm giá thành, giá bán, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào sản xuất , nâng cao hiệu quả quản l để nâng cao chất lượng sản phẩm, tổ
chức tốt mạng lưới bán hàng và biết chọn đúng thời điểm bán hàng nhằm thu hút
được khách hàng , mở rộng thị trường.
Chỉ tiêu tổng hợp nhất để đánh giá sức cạnh tranh của một doanh nghiệp là
thị phần mà doanh nghiệp đã chiếm được. Thị phần càng lớn thể hiện rõ khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp càng mạnh. Để tồn tại và có sức cạnh tranh , doanh
nghiệp phải có sức cạnh tranh , doanh nghiệp phải chiếm giữ được thị trường bất
kể nhiều hay ít, chính điều này đã phản ánh được quy mô tiêu thụ của doanh
nghiệp. Qua đó, ta cũng có thể đánh giá được khả năng cạnh tranh của mỗi doanh
nghiệp, ưu thế cũng như các điểm mạnh yếu tương đối của doanh nghiệp so với
các đối thủ cạnh tranh trong ngành.
Đỗ Thị Thu Thuỷ QTKD Thương mại 45B- ĐH KTQD
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nâng cao khả năng cạnh tranh là một điều tất yếucủa mỗi doanh nghiệp hoạt
động trong cơ chế thị trường nhất là trong thời kỳ hội nhập và phát triển hiện nay.
Để nâng cao khả năng cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải thực hiện nghiêm
ngặt một chu trình chất lượng và đảm bảo các yếu tố của chất lượng tổng hợp
Để tăng cường khả năng cạnh tranh, doanh nghiệp không thể không chú đến
các yếu tố về giá và các dịch vụ sau bán. Đó là những yếu tố mà khách hàng nào
cũng quan tâm khi thấy sản phẩm mà họ định mua thỏa mãn nhu cầu của họ.
2. Các chỉ tiêu sử dụng để đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

động kinh doanh của doanh nghiệp trong cạnh tranh.
- Phạm vùng phủ sóng: được đánh giá qua các tiêu thức sau:
+ Số lượng trạm thu phát sóng
+ Diện tích vùng phủ sóng
Phạm vi vùng phủ sóng càng rộng , số lượng trạm thu phát sóng càng
nhiều, chứng tỏ quy mô đầu tư của doanh nghiệp càng lớn.
- Thị phần và số lượng thuê bao: Thị phần là số phần trăm thị trường
doanh nghiệp chiếm lĩnh được. Đối với doanh nghiệp Thông tin di động, thị
phần được đo bằng số lượng thuê bao doanh nghiệp phát triển được. Số lượng
thuê bao thì đựơc đánh giá qua 2 tiêu thức là số lượng thuê bao đang hoạt
động và số lượng thuê bao trên mạng.
- Lãi suất trên mỗi một thuê bao: Lãi suất trên mỗi thuê bao được đánh
giá qua hành vi tiêu dùng của khách hàng. Khách hàng tiêu dùng nhiều dịch
vụ của doanh nghiệp thì lãi suất trên mỗi thuê bao cao và ngược lại. Sự tiêu
dùng nhiều hay ít của khách hàng thể hiện trên sản lượng đàm thoại và các
sản lượng giá trị gia tăng của dịch vụ theo thời gian. Với chi phí cố định
không thay đổi, tỷ lệ tổng doanh thu trên tổng số thuê bao cũng thể hiện rõ nét
chỉ tiêu này.
Đỗ Thị Thu Thuỷ QTKD Thương mại 45B- ĐH KTQD
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Chất luợng mạng lưới: được đánh giá qua 2 chỉ tiêu
+ Tỷ lệ ngẽn mạng: là tỷ lệ số cuộc gọi không thực hiện được trên tổng
số cuộc gọi đã thực hiện
+ Tỷ lệ rớt cuộc gọi: Là số phần trăm số cuộc gọi đang thực hiện thì bì
ngắt giữa chừng trên tổng số cuộc gọi đã thực hiện.
Đối với các doanh nghiệp, chỉ tiêu này có thể đo được chính xác nhờ các
thiết bị chuyên dùng.
 Chỉ tiêu định lượng:
- Chăm sóc khách hàng: Công tác chăm sóc khách hàng là dịch vụ hậu

Đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ
thì cạnh tranh trở nên cần thiết vì:
- Cạnh tranh được coi như cái sàng để lựa chọn và đào thải các doanh
nghiệp. Vì vậy, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp có vai trò cực
kỳ to lớn.
- Cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Cạnh
tranh tạo ra động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh
nghiệp tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Cạnh tranh đưa lại cho khách hàng các loại sản phẩm tốt hơn , đáp ứng
ngày càng cao hơn nhu cầu tiêu dùng. Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát
triển, không còn cách nào khác phải ngày càng hoàn thiện mình, đưa ra các
loại hình dịch vụ có chất lượng cao hơn, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị
trường. Muốn vậy thì doanh nghiệp cần áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật tiên
tiến, cung ứng các sản phẩm có chất lượng ngày càng cao hơn.
- Trong xu thế hội nhập và phát triển, không chỉ có các doanh nghiệp
trong nước mà còn có cả các doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp
nước ngoài có tiềm lực lớn hơn các doanh nghiệp trong nước cả về vốn, kỹ
thuật, công nghệ… thì đòi hỏi các doanh nghiệp trong nướccàng phải quan
Đỗ Thị Thu Thuỷ QTKD Thương mại 45B- ĐH KTQD
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tâm hơn nữa đến vấn đề làm như thế nào để cạnh tranh khi mà đối thủ hơn
mình về mọi mặt…
3.2 Đối với người tiêu dùng
Có cạnh tranh, hàng hoá sẽ có chất lượng cao hơn, số lượng chủng loại
nhiều hơn, mẫu mã phong phú đa dạng hơn để đáp ứng các yêu cầu ngày càng
cao của người tiêu dùng. Vì vậy, đối với người tiêu dùng, cạnh tranh sẽ có các
tác dụng sau:
- Người tiêu dùng có thể thoải mái lựa chọn sản phẩm mà theo họ là phù
hợp với yêu cầu và khả năng chi trả của họ

Phát huy những yếu tố tích cực , hạn chế những mặt tiêu cực không chỉ
là nhiệm vụ của nhà nước , doanh nghiệp mà là nhiệm vụ chung của toàn bộ
cá nhân.
III, Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh nói chung và khả
năng cạnh tranh của công ty thông tin di động VMS MobiFone nói riêng
1. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh nói chung
1.1 Các nhân tố thuộc về doanh ngiệp
 Yêú tố về sản phẩm
Bất kỳ doanh nghiệp nào khi tham gian sản xuất kinh doanh đều phải trả
lời 3 câu hỏi: sản xuất cái gi? sản xuất như thế nào ? và sản xuất cho ai? Và
như vậy doanh nghiệp đã xây dựng cho mình chính sách về sản phẩm. Không
một doanh nghiệp nào hoạt động trên thị trường mà lại không có chính sách
về sản phẩm cho dù doanh nghiệp đó kinh doanh sản phẩm hữu hình hay vô
hình. Vấn đề doanh nghiệp cần giải quyết là làm như thế nào để sản phẩm của
mình đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thị trường.
Để có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp trên thị trường , doanh
nghiệp phải thực hiện đa dạng hoá sản phẩm. Sản phẩm của doanh nghiệp
luôn được hoàn thiện không ngừng để có thể theo kịp nhu cầu của thị trường
Đỗ Thị Thu Thuỷ QTKD Thương mại 45B- ĐH KTQD
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
bằng cách cải tiến các thông số của sản phẩm, thực hiện việc hoàn thiện mẫu
mã sản phẩm, phát huy thế mạnh các loại sản phẩm mà doanh nghiệp có khả
năng cạnh tranh đồng thời tìm kiếm các sản phẩm mới. Thực hiện đa dạng
hoá sản phẩm không chỉ để đảm bảo đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng, nhu
cầu thị trường, bảo đảm doanh thu có lãi mà còn là biện pháp tốt để phân tán
rủi ro trong kinh doanh khi cuộc cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt và
quyết liệt.
Cùng với đa dạng hoá sản phẩm, doanh nghiệp có thể dùng phương pháp
trọng tâm,tập trung vào các sản phẩm mà doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh,

Nam. Một khi chất lượng không còn được đảm bảo thì cũng có nghĩa là doanh
nghiệp bị mất khách hàng mất thị trường , nhanh chóng đi tới chỗ bị suy yếu
và phá sản,
Chất lượng sản phẩm thể hiện tính quyết định khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp. Nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ làm tăng sản lượng bán hàng
đồng thời thu hút đựoc khách hàng gắn bó lâu dài với sản phẩm, mở rộng thị
trưóng và nâng cao uy tín của doanh nghiệp
 Yếu tố giá cả
Giá cả của một sản phẩm trên thị trường đã được hình thành thông qua
quan hệ cung cầu. Giá cả đóng vai trò quyết định mua hay không mua của
khách hàng. Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh , “ khách hàng là
thượng đế” họ có quyền lựa chọn những gì mà họ cho là tốt nhất và cùng một
loại sản phẩm có mức giá thấp hơn, khi đó sản lượng tiêu thụ của doanh
nghiệp sẽ tăng lên.
Giá cả được thể hiện như một vũ khí cạnh tranh thông qua việc đánh giá
của sản phẩm: định giá thấp , định giá ngang thị trường hay chính là chính
sách giá cao. Với một mức giá ngang thị trường giúp doanh nghiệp giữ được
khách hàng, nếu doanh nghiệp tìm ra những giải pháp giảm gía thành lợi
Đỗ Thị Thu Thuỷ QTKD Thương mại 45B- ĐH KTQD
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhuận thu được sẽ tăng lên, hiệu quả kinh doanh sẽ cao. Ngược lại, với một
mức giá thấp hơn giá thị trường thì sẽ thu hút được khách hàng và tăng sản
lưọng tiêu thụ, doanh nghiệp sẽ có cơ hội thâm nhập thị trường, chiếm lĩnh thị
trường mới. Mức giá doanh nghiệp áp đặt cao hơn giá thị trường chỉ sử dụng
với các doanh nghiệp có tính độc quyền, điều này giúp doanh nghiệp thu được
nhiều lợi nhuận( lợi nhuận siêu ngạch)
Để chiếm lĩnh ưu thế trong cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải có sự lựa
chọn các chính sách phù hợp cho từng loại sản phẩm, từng giai đoạn trong
chu kỳ sản phẩm hay tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng vùng thị trường.

Nhân lực: Trong kinh doanh, con người là yếu tố quan trọng hàng đầu để
đảm bảo thành công. Kennichi Ohmae đã đặt con người ở vị trí số một, trên
cả vốn và tài sản khi đánh giá sức mạnh của một doanh nghiệp. Chính con
người với năng lực thật của họ mới lựa chọn đúng được cơ hội và sử dụng
đúng được các sức mạnh khác mà họ đã và sẽ có: vốn, tài sản, kỹ thuật, công
nghệ…một cách có hiệu quả để khai thác và vượt qua cơ hội. Đánh giá và
phát triển tiềm năng con người trở thành một nhiệm vụ ưu tiên mang tính
chiến lược trong kinh doanh. Các yếu tố nên quan tâm là:
- Lực lượng lao động có năng suất, có khả năng phân tích và sáng tạo:
liên quan đến khả năng tập hợp và đào tạo một đội ngũ những người lao động
có khả năng đáp ứng cao yêu cầu kinh doanh của doanh nghiệp. Để có khả
năng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ kinh doanh, một con người phải có thể hội
tụ đủ các yếu tố: tố chất- kiến thức- kinh nghiệm. Tố chất là yếu tố bẩm sinh,
kiến thức do học tập, ngiên cứu mà có, kinh nghiệm do quá trình tích luỹ cá
nhân trong lao động mà thành. Sự khác biệt về các yếu tố trên hình thành nên
những cá nhân có khả năng khác nhau: Người quản lý, người tham mưu,
người sáng tạo, ngưòi thừa hành… Một doanh nghiệp có sức mạnh về con
ngưòi là doanh nghiệp có khả năng và thực hiện lựa chọn đúng và đủ số lượng
Đỗ Thị Thu Thuỷ QTKD Thương mại 45B- ĐH KTQD
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lao động cho từng vị trí công tác và sắp xếp đúng ngưòi trong một thể thống
nhất theo yêu cầu của công việc.
- Chiến lược con ngưòi và phát triển nguồn nhân lực: Liên quan đến sức
mạnh tiềm năng của doanh nghiệp về con người. Chiến lược con người và
phát triển nguồn nhân lực cho thấy khả năng chủ động phát triển sức mạnh
con người của doanh nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu tăng trưỏng và đổi mới
thường xuyên, cạnh tranh và thích nghi của kinh tế thị trường. Chiến lược này
liên quan không chỉ đến những vấn đề về đội ngũ lao động hiện tại mà còn
khả năng thu hút nguồn lao động xã hội nhằm kiến tạo được cho doanh

dịch vụ khách hàng, và các nguồn lực của doanh nghiệp. Các nhân tố này, nếu
được lượng hoá thì chúng chính là yếu tố để đánh giá, đo lường khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
1.2 Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp
Bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động sản xuất kinh doanh bao giờ
cũng gắn liền với môi trường kinh doanh đó là các yếu tố ngoài doanh nghiệp
và do vậy , nó chịu sự tác động, ảnh hưởng của các nhân tố này:
 Phát triển kinh tế:
Đây là nhân tố quan trọng nhất tác động đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Sự ổn định hay bất ổn của nền kinh tế có tác động
trực tiếp đến hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Tính ổn định về kinh tế trước hết và chủ yếu là ổn định nền tài chính quốc
gia, ổn định tiền tệ, khống chế lạm phát. Nền kinh tế được ổn định sẽ là điều
kiện tốt để tăng trưởng. Khi một nền kinh tế phát triển với tốc độ cao sẽ kéo
theo sự tăng thu nhập cũng như khả năng thanh toán của người dân cũng tăng
lên. Mặt khác, nền kinh tế phát triển mạnh có ý nghĩa là khả năng tích tụ tư
bản lớn, và như vậy- tốc độ đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh sẽ tăng lên.
Đây chính là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp phát triển. Doanh nghiệp nào có
Đỗ Thị Thu Thuỷ QTKD Thương mại 45B- ĐH KTQD
25

Trích đoạn Xu hướng phát triển thị trường thông tin di động Việt Nam trong thời gian tớ Phương hướng phát triển kinh doanh của công ty thông tin di động VMS MobiFone trong thời gian tới. Duy trì củng cố vị trí dẫn đầu Xây dựng chiến lược phát triển thương hiệu MobiFone
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status