LUẬN VĂN: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ vào việc đổi mới phương pháp lãnh đạo và phong cách công tác của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Hưng Yên hiện nay doc - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ
vào việc đổi mới phương pháp lãnh đạo và
phong cách công tác của đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp cơ sở ở tỉnh Hưng Yên hiện nay mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm vừa qua, thế giới đã xảy ra biết bao nhiêu những biến
động to lớn trên rất nhiều phương diện, nhưng công cuộc đổi mới ở Việt Nam vẫn
giành được những thành tựu quan trọng, được bạn bè thế giới khâm phục. Trong xu
thế toàn cầu hoá hiện nay, sự nghiệp đổi mới của nước ta đang đứng trước những
thời cơ và cả thách thức mới, đòi hỏi chúng ta phải tỉnh táo, phán đoán, xử lý kịp
thời mới có thể giữ vững ổn định chính trị và tiếp tục phát triển kinh tế. Để đáp ứng
và giải quyết được những yêu cầu, nhiệm vụ đó, điều đầu tiên và cấp thiết nhất đối
với Đảng ta là phải có được một đội ngũ cán bộ vừa “hồng” vừa “chuyên” từ Trung

hướng, những giải pháp nhằm nâng cao một bước năng lực của cán bộ chủ chốt cấp
cơ sở, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Bởi bên cạnh những mặt đã
làm được, đội ngũ cán bộ ở Hưng Yên, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
vẫn còn nhiều bất cập về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực lãnh đạo, quản
lý làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và hiệu quả công việc.
Với mong muốn được góp phần làm sáng tỏ thêm những quan điểm, tư
tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cán bộ, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng, năng lực của đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp cơ sở ở Hưng Yên nói riêng, tôi chọn đề tài: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh về cán bộ vào việc đổi mới phương pháp lãnh đạo và phong cách công tác
của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Hưng Yên hiện nay” làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ chuyên ngành Hồ Chí Minh học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tư tưởng Hồ Chí minh về cán bộ và công tác cán bộ là vấn đề quan trọng,
thu hút được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu trong nước. Đã có nhiều
công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ dưới
nhiều góc độ khác nhau. Có những công trình đi vào nghiên cứu toàn bộ nội dung tư
tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, có công trình chỉ đi vào khía cạnh nhỏ
trong công tác cán bộ. Các công trình nghiên cứu của các tác giả được công bố dưới
dạng chuyên đề, luận văn thạc sỹ, các bài đăng trên các sách, báo, tạp chí, kỷ yếu
hội thảo khoa học. Đó là nguồn tư liệu quý báu giúp tôi kế thừa trong quá trình
nghiên cứu, hoàn thiện đề tài của mình. Ví dụ như công trình: Phương pháp và
phong cách Hồ Chí Minh của GS. Đặng Xuân Kỳ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1997; Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ của PGS.TS Bùi Đình
Phong, Nxb Lao động, Hà Nội, 2002; Đạo đức, phong cách, lề lối làm việc của cán
bộ, công chức theo tư tưởng Hồ Chí Minh của Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ, chuyên đề khoa

tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và vận dụng vào thực tiễn trên địa bàn tỉnh Hưng
Yên.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Trên cơ sở làm rõ một số nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về
cán bộ, luận văn vận dụng để đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
ở Hưng Yên, từ đó đề ra phương hướng, giải pháp nhằm đổi mới phương pháp lãnh
đạo và phong cách công tác của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Hưng Yên
hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt tới mục đích nghiên cứu trên, đề tài có nhiệm vụ làm rõ:
- Phân tích một số nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ;
- Đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh Hưng
Yên hiện nay, trọng tâm là phương pháp lãnh đạo và phong cách công tác;
- Đề xuất phương hướng và giải pháp đổi mới phương pháp lãnh đạo và
phong cách công tác của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Hưng Yên theo tư
tưởng Hồ Chí Minh;
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ
- Phạm vi nghiên cứu:
Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ là vấn đề lớn. Trong phạm vi luận văn này,
tôi chỉ nghiên cứu một số nội dung chủ yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ:
Vị trí cán bộ; tiêu chuẩn cán bộ; phương pháp lãnh đạo và phong cách công tác của
cán bộ từ đó làm cơ sở lý luận cho việc đánh giá thực trạng và đề ra phương
hướng, giải pháp nhằm đổi mới phương pháp lãnh đạo và phong cách công tác của
đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Hưng Yên trong sự nghiệp đổi mới đất
nước hiện nay.

Cán bộ là một danh xưng rất đẹp, đầy niềm tự hào và vinh dự trong nhân dân
ta. Nói đến cán bộ là nói đến một lớp người mới, sẵn sàng chịu đựng mọi gian khổ,
hy sinh cho cách mạng, gắn bó mật thiết với nhân dân, gần gũi với dân chúng. Cán
bộ có nhiều cách hiểu với phạm vi rộng hẹp và ở từng nước khác nhau. ở nước ta
cán bộ được sử dụng phổ biến từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Nói đến
định nghĩa cán bộ là gì? người ta thường nhắc tới hai phía cạnh: Người cán bộ có
chức vụ ở cơ quan nhà nước hoặc trong một tổ chức nào đó.
Trong đời sống xã hội, theo cách hiểu thông thường, cán bộ được coi là tất cả
những người thoát ly, làm việc trong các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể, quân
đội, được hưởng lương.
Trong Từ điển Tiếng Việt, xuất bản năm 1993, khái niệm cán bộ được định
nghĩa là:
Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước (như
cán bộ nhà nước, cán bộ khoa học, cán bộ chính trị)
Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt
với người thường không có chức vụ.
Trong suốt cuộc đời làm cách mạng của mình, Hồ chí Minh rất coi trọng vấn
đề cán bộ và công tác cán bộ. Người coi vấn đề cán bộ là một trong những vấn đề
then chốt quyết định đến sự thành bại của cách mạng. Hồ Chí Minh khẳng định:
“Cán bộ là gốc của mọi công việc”, và “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu
dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê
liệt. Cán bộ là người đem chính sách của chính phủ, của Đoàn thể thi hành trong
nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được”. [45, tr.
54]. Do đó, Người yêu cầu mỗi cán bộ phải luôn tự rèn luyện, phải luôn giữ được tư
cách của người cán bộ cách mạng. Trước hết, theo Hồ Chí Minh người cán bộ cách
mạng phải là người luôn giữ chủ nghĩa cho vững, ít ham muốn về vật chất, ngày
đêm nghĩ đến sự nghiệp cách mạng, sẵn sàng hi sinh tất cả vì sự nghiệp giải phóng

được nếu không có một tổ chức ổn định và duy trì được tính liên tục gồm những
người lãnh đạo” [34, tr.158].
Theo Lênin không có một đội ngũ cán bộ đông đảo về số lượng, đặc biệt đảm
bảo về chất lượng thì không thể nói tới quyền lãnh đạo. Lênin cho rằng: “Người
cộng sản lãnh đạo chỉ có một cách duy nhất để chứng minh quyền lãnh đạo của
mình, đó là tìm cho mình được nhiều, ngày càng nhiều những người phụ tá…, biết
giúp đỡ họ làm việc, biết đề bạt họ, biết giới thiệu và chú ý đến kinh nghiệm của
họ” [37, tr.407].
Khi bàn về vai trò của cán bộ trong sự nghiệp cách mạng, Hồ Chí Minh luôn
đặt cán bộ trong tổng hoà các mối quan hệ đa chiều. Hồ Chí Minh xác định: “Cán
bộ là những người đem chính sách của đảng, của chính phủ giải thích cho dân
chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời, đem tình hình dân chúng báo cáo cho đảng,
cho chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng. Vì vậy cán bộ là gốc của mọi
công việc” [45, tr.269] . Trong quá trình tổ chức thực hiện, cán bộ phải nắm bắt tâm
tư, nguyện vọng của nhân dân, thu nhận được những kinh nghiệm thực tiễn để phản
ánh với đảng và nhà nước, hoàn thiện đường lối, chính sách ngày càng phù hợp với
đòi hỏi khách quan của cuộc sống. Tuy nhiên, để có đủ trình độ năng lực, có thể đáp
ứng được yêu cầu nhiệm vụ, Đảng phải coi trọng công tác giáo dục, huấn luyện, đào
tạo cán bộ. Người nói: huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng.
Hồ Chí Minh cho rằng: “Cán bộ là tiền vốn của đoàn thể. Có vốn thì mới làm
ra lãi. Bất cứ chính sách công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi.
Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn” [46, tr.46].
Theo Hồ Chí Minh, cán bộ có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong sự
nghiệp cách mạng, bởi vì chủ trương chính sách của nhà nước có đúng, cán bộ làm
sai, cán bộ yếu kém thì cũng không có hiệu quả. Hồ Chí Minh đã đi xa hơn, sâu hơn
chỉ ra cội rễ của vấn đề một cách vừa cụ thể, vừa có tính tổng quát: Khi đã có chính
sách đúng thì sự thành công hay thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức
công việc, nơi lựa chọn cán bộ và nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài thì chính sách
dù đúng mấy cũng vô ích. Đồng thời, Hồ Chí Minh khẳng định vai trò của người


Người đề ra tiêu chuẩn của đội ngũ cán bộ không phải từ ý muốn chủ quan của bản
thân, mà do yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng. Muốn sự nghiệp cách
mạng thành công, đất nước được độc lập, nhân dân được tự do, hạnh phúc để đồng
bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành đòi hỏi những người cán
bộ phải vừa có “đức” vừa có “tài” vừa “hồng” vừa “chuyên” sẵn sàng hy sinh vì
độc lập tự do của tổ quốc, ở mọi lúc mọi nơi luôn đặt lợi ích của đảng, của dân tộc,
của nhân dân lên trên hết, trước hết.
Theo Hồ Chí Minh, những tiêu chuẩn căn bản của người cán bộ cách mạng
là:
1.2.1. Đạo đức cách mạng là gốc của người cán bộ
Theo Hồ Chí Minh đã là người cán bộ cách mạng thì phải có đạo đức cách
mạng. Giữ được đạo đức cách mạng mới có thể trở thành người cán bộ cách mạng
chân chính. Bởi vì: Mọi việc thành công hay thất bại, chủ yếu là do cán bộ có thấm
nhuần đạo đức cách mạng hay không, Người cho rằng: Người đảng viên, người cán
bộ tốt, muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó
hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào
thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công, vô tư. Mình đã chí công, vô tư thì khuyết điễm sẽ
ngày càng ít, mà những tính tốt như sau ngày càng thêm.
Đồng thời người nhắn mạnh: Người cách mạng thì phải có đạo đức cách
mạng làm nền tảng, mới hoàn thành nhiệm vụ cách mạng. Người coi đạo đức của
người cách mạng như gốc của cây, ngọn nguồn của suối của sông; “Cũng như sông
thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có
gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi
mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [45, tr.252 - 253].
Hồ Chí Minh cho rằng:
Làm cách mạng là để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới, là một sự
nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một

lập tự do, dân chủ, hạnh phúc cho dân, sống cuộc sống của dân, nói tiếng nói của
dân. Hiếu với dân là mỗi cán bộ, Đảng viên phải biết tin vào dân, dựa và dân, gần
gũi, giúp đỡ dân, lo cho cuộc sống của dân ngày càng tốt hơn. Người nhấn mạnh:
“Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”
[44, tr.47]. Chính quyền phải có trách nhiệm lo cho dân: Làm cho dân có ăn, làm
cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân có học hành.
Hiếu với dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh là dù mỗi cán bộ dù ở bất cứ cương
vị gì, giữ trọng trách gì cũng phải xuất phát từ dân, thực hành dân chủ, “Làm sao
cho dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói,
dám làm” [52,tr.223].
Hồ Chí Minh dạy rằng, Đảng và Chính phủ trước hết là người lãnh đạo, và là
công bộc của nhân dân chứ không phải là “ quan cách mạng”, không phải để “đè
đầu cưỡi cổ nhân dân”.
Trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của tổ
quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua,
kẻ thù nào cũng đánh thắng. Câu nói đó của người vừa là lời kêu gọi hành động, vừa là
định hướng chính trị, đạo đức cho mỗi người Việt Nam không phải chỉ trong cuộc đấu
tranh cách mạng trước mắt, mà còn lâu dài về sau.
Đối với cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh đã nói “điều chủ chốt nhất” của đạo
đức cách mạng là “quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng”, là
“tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân”, là “ trung với nước, hiếu với dân”,
hơn nữa là “ tận trung, tận hiếu” thì mới xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là
người đầy tớ thực trung thành của nhân dân.
Hai là, gần dân, quan hệ mật thiết với nhân dân, yêu thương con người
Hồ Chí Minh được thế giới tôn vinh là danh nhân văn hoá, trước hết bởi tư
tưởng nhân văn cao cả của Người. Đối với cán bộ, một trong những yêu cầu hàng
đầu mà Người đặt ra là tinh thần hy sinh, phục vụ nhân dân, tin tưởng và yêu mến

Hồ Chí Minh trước lúc đi xa còn dặn lại cán bộ, đảng viên phải có tình đồng chí,
yêu thương lẫn nhau. Tình yêu thương được thể hiện trên nguyên tắc phê bình và tự
phê bình một cách chân thành, nghiêm túc, giữa những người có cùng lý tưởng,
cùng phấn đấu cho một sự nghiệp. Nó hoàn toàn xa lạ với thái độ dĩ hoà vi quý, bao
che khuyết điểm cho nhau. Nó càng xa lạ với thái độ yêu nên tốt, ghét nên xấu, bè
cánh, là nguy cơ đưa đến những tổn thất cho Đảng, cho cách mạng. Hồ Chí Minh
nói:
Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa như thế. Từ
khi có Đảng ta lãnh đạo và giáo dục, tình nghĩa ấy càng cao đẹp hơn, trở
thành tình nghĩa đồng bào đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một
nhà. Biết chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa.
Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa, thì sao gọi là
hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin. [ 52, tr. 554]
Ba là, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
Đây là phẩm chất đạo đức gắn liền với hoạt động hàng ngày của mỗi người.
vì vậy, Hồ Chí Minh đã đề cập đến phẩm chất này nhiều nhất, thường xuyên nhất,
từ “Đường cách mệnh” cho đến bản “Di chúc” cuối cùng.
Hồ Chí Minh đã sử dụng những khái niệm, cần, kiệm, liêm, chính, chí công
vô tư của đạo đức phương Đông và đạo đức truyền thống Việt Nam. Người đã giữ
lại những gì tốt đẹp nhất của quá khứ, lọc bỏ những gì không còn phù hợp và đưa
vào những nội dung mới, với mục tiêu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất
đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mỗi chữ: cần, kiệm, liêm, chính, chí công
vô tư đã được Hồ Chí Minh giải thích rất rõ, rất cụ thể và dễ hiểu đối với mọi
người.
Theo Hồ Chí Minh: Cần tức là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế
hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không
lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm. Phải thấy rõ: Lao động là nghĩa vụ thiêng

Hồ Chí Minh khẳng định một dân tộc biết cần, kiệm, liêm là một dân tộc
giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ.
Chính: “ Nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn” [45, tr.643].
Đối với mình không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập, cầu tiến bộ, luôn tự
kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình.
Đối với người: không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới, luôn giữ
thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc.
Đối với việc: Để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà. Đã phụ trách
việc gì thì quyết làm cho được, cho đến nơi, đến chốn, không sợ khó khăn, nguy
hiểm, việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh. Mỗi
ngày cố làm một việc có lợi cho nước, cho dân.
Theo Hồ Chí Minh, cần, kiệm, liêm là gốc rễ của chính, Hồ Chí Minh còn ví
hình ảnh như một cây cần phải có gốc, rễ, cần phải có cành, lá, hoa quả mới hoàn
toàn. Con người cũng phải hoàn toàn như vậy, đối với người cán bộ cách mạng thì
không thể thiếu bốn đức ấy. Bởi người cán bộ phải làm gương trước, tức là làm cái
cho người ta soi sáng để sửa, do vậy cán bộ cách mạng phải chính trước mới giúp
được người thành chính.
Mình không chính mà muốn người khác chính là điều không thể. Mỗi cán bộ,
đảng viên cần, kiệm, liêm, chính là vô cùng cần thiết. Bởi vì: “Cán bộ các cơ quan,
các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền
mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút” [45, tr.641].
Chí công vô tư: Người nói “đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với
việc”, “khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì
mình nên đi sau”, “phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”.
Đối lập với chí công vô tư là dĩ công vi tư, đó là điều mà đạo đức mới đòi hỏi
phải chống lại.
Chí công vô tư về thực chất là nối tiếp cần, kiệm, liêm, chính; cần, kiệm,

Minh, cán bộ tốt nhất thiết phải là người có đủ phẩm chất và năng lực, mà những
phẩm chất và năng lực đó phải được biểu hiện bằng những việc làm cụ thể, hoàn
thành tốt nhiệm vụ được giao. Hồ Chí Minh không viết riêng một bài nào dành cho
tiêu chuẩn tài năng của người cán bộ, song tất cả các bài viết liên quan đến cán bộ
của người đều toát lên các yêu cầu tiêu chuẩn, tài năng, năng lực của cán bộ.
Quý trọng người hiền tài: “Chiêu hiền đãi sĩ” được thể hiện rất rõ trong tư
tưởng Hồ Chí Minh. Ngay từ khi chuẩn bị giành chính quyền và nhất là trong những
ngày đầu cách mạng còn non trẻ, Hồ Chí Minh đã có bài viết nổi tiếng để tập hợp
người tài cho cách mạng Việt Nam là nhân tài và kiến quốc và tìm người tài đức:
“Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài.
Trong số hai mươi triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài, có
đức”.… “nay muốn sửa đổi điều đó, trọng dụng những kẻ hiền năng, các
địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm
được những việc ích nước lợi dân, thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ
biết.
Báo cáo phải nói rõ: tên, tuổi, nghề nghiệp, tài năng, nguyện vọng
và chỗ ở của người đó.
Hạn trong một tháng, các cơ quan địa phương phải báo cáo ngay
cho đủ” [44, tr.451].
Tài năng không bỗng dưng mà có, Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ cách
mạng phải luôn chăm lo, rèn luyện, thực hiện lời dạy của Lênin là: “Học, học nữa,
học mãi !”, và chính Người là tấm gương sáng về tinh thần tự rèn luyện nâng cao
trình độ, không ngừng học tập để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng.
Tài luôn đi đôi với đức. Đức và tài có mối quan hệ biện chứng với nhau. Hồ
Chí Minh luôn kết hợp chặt chẽ hai yêu cầu này khi đánh giá, giáo dục, sử dụng cán
bộ. Hồ Chí Minh giải thích một cách đúng đắn rằng: đạo đức và tài năng là hai mặt
không thể tách rời trong mỗi người cán bộ cách mạng. Người luôn coi trọng tiêu chí

mà phủ nhận hay xem nhẹ mặt kia và ngược lại giữa hai mặt đức và tài.
1.3 Phương pháp lãnh đạo và phong cách công tác của người cán bộ
cách mạng
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ
Chí Minh thường xuyên quan tâm đến việc xây dựng và sửa đổi cách lãnh đạo, cũng
như lối làm việc của tổ chức Đảng và của cán bộ, đảng viên.
Phương pháp lãnh đạo và phong cách công tác hay nói theo cách mà Hồ Chí
Minh thường dùng chính là cách lãnh đạo và tác phong làm việc. Những khái niệm
cách lãnh đạo, lề lối làm việc từ khi bước vào đổi mới, dần dần được thay bằng
khái niệm phương thức lãnh đạo và phong cách công tác, nhưng về nội dung, bản
chất quan niệm của Hồ Chí Minh không có gì thay đổi. Chính vì thế, tại Đại hội VI
của Đảng, đã xác định bốn mặt cần đổi mới: tư duy, tổ chức, cán bộ, phong cách
lãnh đạo và phong cách công tác. Phải đổi mới đồng bộ cả bốn mặt này, trong đó
phong cách lãnh đạo và phong cách công tác là một mặt có ý nghĩa quan trọng, trực
tiếp liên quan đến việc đưa đường lối đổi mới vào cuộc sống.
Đến Đại hội VII của Đảng, khái niệm phong cách lãnh đạo và công tác được
thay bằng khái niệm phương thức lãnh đạo và phong cách công tác. Tại sao như
vậy? Chính là để phân biệt rõ phương thức lãnh đạo là thuộc về các cấp uỷ Đảng
(từ Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đến các cấp uỷ đảng ở các
ngành, các địa phương và cơ sở), còn phong cách công tác là thuộc về từng cán bộ,
đảng viên. Như vậy có thể đi đến thống nhất về khái niệm: dù cách gọi có thể khác
nhau, nhưng nội hàm của khái niệm phương pháp lãnh đạo hay phương thức lãnh
đạo chỉ là một.
Có thể hiểu phương thức lãnh đạo của Đảng là những cách thức, hình thức,
biện pháp gắn liền với những quan điểm và nguyên tắc xác định, được các tổ chức
Đảng, các cấp uỷ Đảng lựa chọn và sử dụng để tác động vào những đối tượng mà
Đảng lãnh đạo, với tính chất chỉ đường, hướng dẫn cho những đối tượng đó thực

lối, chính sách của Đảng thấm sâu vào tâm lý quốc dân, đi vào cuộc sống, biến nghị
quyết của Đảng thành hành động của quần chúng, tạo ra các đột phá trong các lĩnh
vực cách mạng. Muốn cho công việc thành công phải có cán bộ tốt, có năng lực và
điều quan trọng là phải có phương pháp lãnh đạo đúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ
rõ những chức năng cơ bản của hoạt động lãnh đạo là xác định đường lối, tổ chức
lựa chọn và bố trí cán bộ; vận động, tuyên truyền, tổ chức cho quần chúng thực hiện
và kiểm soát việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng… Để làm tốt những
chức năng trên, người chỉ ra phương pháp lãnh đạo đúng phải tuân thủ ba khâu lớn:
Lãnh đạo đúng nghĩa là:
1. Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng. Mà muốn thế
thì nhất định phải so sánh kinh nghiệm của dân chúng vì dân chúng
chính là những người chịu đựng cái kết quả của sự lãnh đạo của ta.
2. Phải tổ chức thi hành cho đúng. Mà muốn vậy, không có dân
chúng giúp sức thì không xong.
3. Phải tổ chức kiểm soát, mà muốn kiểm soát đúng thì cũng phải
có quần chúng giúp mới được [45, tr.285 - 286].
Trước hết phải quyết định mọi vấn đề cho đúng mà muốn quyết định mọi vấn
đề cho đúng thì “bất cứ việc to, việc nhỏ, chúng ta phải xét rõ và làm cho hợp trình
độ văn hoá, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm đấu tranh, lòng ham
muốn, tình hình thiết thực của quần chúng. Do đó mà tính cách làm việc, cách tổ
chức… Nếu không vậy, nếu cứ làm theo ý muốn, theo tư tưởng, theo chủ quan của mình
rồi đem cột vào cho quần chúng thì khác nào “khoét chân cho vừa giầy”… “ai cũng đóng
giầy theo chân, không ai đóng chân theo giầy”. Điều đó đòi hỏi muốn có nghị quyết
đúng, người lãnh đạo phải sâu sát, lắng nghe ý kiến của cơ sở, của quần chúng, chú trọng
nghiên cứu những sáng tạo của địa phương, đơn vị… hết sức tránh việc tuỳ tiện, phiến
diện, chủ quan trong việc định ra những chủ trương lãnh đạo: “vì vậy muốn giải quyết
vấn đề cho đúng, ắt phải họp kinh nghiệm cả hai bên lại” [45, tr.286].

hỏng việc của chúng ta”. Người yêu cầu phải chống giặc này như giặc ngoại xâm vì
chủ nghĩa cá nhân, tham ô, lãng phí làm tha hoá mất bao nhiêu cán bộ, đảng viên.
Nhiều đồng chí vào sinh, ra tử trong chiến tranh vẫn vững vàng vượt qua thì ngày
nay trong hoà bình đã bị kẻ thù này đánh gục. Đây là một vấn đề có ý nghĩa sâu sắc
trong cuộc đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên,
xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, thực hiện thắng lợi đường lối, nghị quyết của
Đảng trong thời kỳ mới.
Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, phương pháp lãnh đạo là phải gắn với công tác
kiểm tra. Điều này Đảng ta cũng xác định rõ: Lãnh đạo mà không kiểm tra coi như
không có lãnh đạo. Muốn kiểm tra có hiệu quả phải coi trọng hai vấn đề: “Một là,
việc kiểm soát phải có hệ thống, phải thường làm. Hai là, người đi kiểm soát phải là
những người rất có uy tín” [45, tr.287]. Công tác kiểm tra phải tiến hành ở mọi cấp,
từ trung ương đến cơ sở, phải có một hệ thống cơ quan chuyên trách, việc kiểm tra
phải tiến hành thường xuyên và người được chọn làm cán bộ kiểm tra phải có phẩm
chất, năng lực tốt và có uy tín. Đồng thời phải “khéo” kiểm tra theo hai cách:
Một là từ trên xuống: “tức là người lãnh đạo kiểm soát kết quả
những công việc của cán bộ mình.
Một cách nữa là từ dưới lên. Tức là quần chúng là cán bộ kiểm soát sự sai
lầm của người lãnh đạo và bày tỏ cái cách sữa chữa sự sai lầm đó. Cách này là
cách tốt nhất để kiểm soát các nhân viên” [45, tr.288].
Tổng kết kinh nghiệm, tổng kết thực tiễn cũng là vấn đề cực kỳ quan trọng
của phương pháp lãnh đạo để bổ sung, hoàn chỉnh và phát triển đường lối, nghị
quyết đã đề ra. Muốn tổng kết thực tiễn có kết quả tốt, yêu cầu người lãnh đạo phải
liên hệ mật thiết với quần chúng, với thực tiễn, không mắc bệnh quan liêu, bàn giấy
và với thái độ khiêm tốn, cầu thị, học hỏi nhân dân, học hỏi quần chúng. Tổng kết
thực tiễn có hai cấp độ: Thứ nhất là để rút kinh nghiệm và phổ biến kinh nghiệm
hay cho mọi nơi cùng làm, thứ hai là tổng kết thực tiễn để bổ sung, hoàn chỉnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status