ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------------
NGÔ NGỌC HÂN
VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁN BỘ
TRONG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐOÀN CƠ SỞ
Ở NÔNG THÔN HÀ TĨNH HIỆN NAY (1991-2012)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành Chính trị học
Hà Nội – 2013
i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------
NGÔ NGỌC HÂN
VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁN BỘ
TRONG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐOÀN CƠ SỞ
Ở NÔNG THÔN HÀ TĨNH HIỆN NAY (1991-2012)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học
Mã số: 60 31 02 01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Đỗ Xuân Tuất
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
6
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
7
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
8
6. Đóng góp của luận văn
8
7. Kết cấu của luận văn
8
Chƣơng 1. TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁN BỘ VÀ XÂY DỰNG
9
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
1.1. TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÁN BỘ VÀ CÔNG TÁC CÁN BỘ
9
1.2.4. Kiểm soát, kiểm tra cán bộ
43
1.2.5. Chế độ, chính sách đối với cán bộ
45
1.3. QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN VIÊN THANH
46
NIÊN VÀ CÁN BỘ ĐOÀN
1.3.1. Vai trò, vị trí của đoàn viên, thanh niên trong tư tưởng Hồ Chí Minh
46
1.3.2. Công tác xây dựng cán bộ Đoàn theo tư tưởng Hồ Chí Minh
47
iv
Chƣơng 2. XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐOÀN CƠ SỞ Ở NÔNG
52
THÔN HÀ TĨNH HIỆN NAY DƢỚI ÁNH SÁNG TƢ TƢỞNG HỒ
2.3. THỰC TRẠNG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐOÀN CƠ
64
SỞ Ở NÔNG THÔN HÀ TĨNH HIỆN NAY
2.3.1. Ưu điểm trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở ở khu
66
vực nông thôn Hà Tĩnh
2.3.2. Những hạn chế cơ bản
70
2.3.3 Nguyên nhân ưu điểm và hạn chế
73
2.4. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM XÂY ĐỘI NGŨ CÁN
75
BỘ ĐOÀN CƠ SỞ Ở NÔNG THÔN HÀ TĨNH HIỆN NAY THEO
TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH
2.4.1. Xác định rõ tiêu chuẩn cơ bản của đội ngũ cán bộ Đoàn cơ sở ở
76
nông thôn hiện nay
88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
90
vi
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc
về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh soi
đường cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam hơn 80 năm qua. Ngày nay,
trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tư
tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng, kim
chỉ nam cho hành động của Đảng. Đó là sự tổng kết lịch sử, vạch rõ nguồn
gốc sâu xa mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong các thời kỳ cách
mạng, đồng thời chỉ rõ cơ sở lý luận và thực tiễn cho thắng lợi của sự nghiệp
đổi mới. Đúng như Đại hội X tiếp tục nhấn mạnh: “Đổi mới không phải xa rời
mà là nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng của Đảng và kim chỉ nam
cho hành động cách mạng”[19,70].
Tư tưởng Hồ Chí Minh rất toàn diện và phong phú, trong đó có tư
tưởng về cán bộ và công tác cán bộ, về cán bộ Đoàn và công tác thanh niên.
Theo Hồ Chí Minh, cán bộ “là những người đem chính sách của Đảng, của
Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình
hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính
sách cho đúng” [51,54]. Chính vì thế, trong suốt cuộc đời hoạt động cách
mạng của mình, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác cán bộ. Từ rất
Chiến lược phát triển thanh niên và nhiều chính sách về công tác thanh niên, tạo
điều kiện, cơ hội cho thanh niên rèn luyện cống hiến trưởng thành. Nhờ vậy,
không ít cán bộ Đoàn trong thực tiễn công tác đoàn đã trưởng thành và được
phân công giữ các cương vị chủ chốt trong cấp ủy, chính quyền, các ngành,
đoàn thể các cấp.
2
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, trước yêu cầu ngày càng cao của
sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mở cửa, hội nhập kinh tế
Quốc tế, cán bộ Đoàn và công tác cán bộ Đoàn cũng bộc lộ những khó khăn,
hạn chế, yếu kém về nhiều mặt, nhất là ở vùng nông thôn, trong đó có địa bàn
nông thôn ở tỉnh Hà Tĩnh như: Một bộ phận thanh niên sống thiếu lý tưởng,
giảm sút niềm tin, ít quan tâm tới tình hình đất nước, thiếu ý thức chấp hành
pháp luật, sống thực dụng, xa rời truyền thống văn hóa dân tộc. Học vấn của
một bộ phận thanh niên nhất là thanh niên nông thôn còn thấp; nhiều thanh
niên thiếu kiến thức, thiếu kỹ năng, thiếu trình độ chuyên môn, trình độ kỹ
thuật...; Tính độc lập, chủ động, sáng tạo, năng lực thực hành sau đào tạo của
thanh niên còn yếu, chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hóa. Bên
cạnh đó, một số cấp ủy đảng chưa quan tâm đúng mức lãnh đạo công tác thanh
niên, thiếu đôn đốc, kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện các chủ
trương, nghị quyết của Đảng về công tác thanh niên; công tác quy hoạch, đào
tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ trẻ chưa thực sự được coi trọng; chưa làm
tốt công tác phát triển đảng trong thanh niên; hiện nay đa số Bí thư, Phó Bí thư
Đoàn cơ sở chưa được đào tạo, bồi dưỡng cơ bản về kiến thức và kỹ năng
nghiệp vụ công tác Đoàn. Theo khảo sát trình độ chính trị từ Trung cấp trở lên
tỷ lệ còn thấp Bí thư đoàn cơ sở đạt 48,77%, Phó Bí thư 27,47%; tỷ lệ qua đào
tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ công tác Đoàn được cấp chúng chỉ rất thấp
Bí thư 26,95%, Phó Bí thư 9,39% [7,4]; chưa chủ động trong việc phát hiện
bộ; vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ trong xây dựng đội ngũ cán bộ
hiện nay… Liên quan đến đề tài này có thể thấy một số công trình sau:
- Nhóm nghiên cứu về cán bộ và công tác cán bộ có:
+ Bài viết của GS.TS Mạch Quang Thắng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về
cán bộ và công tác cán bộ” in trong tác phẩm “Đạo đức, phong cách, lề lối
làm việc của cán bộ, công chức theo tư tưởng Hồ Chí Minh”của Ban Tổ chức
cán bộ Chính phủ, Viện Khoa học tổ chức Nhà nước xuất bản năm 1998.
4
Bài viết đã chỉ rõ những nét khái lược nhất về quan điểm của Chủ tịch
Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của cán bộ và công tác cán bộ, những yêu cầu cơ
bản của người cán bộ cách mạng.
+ Công trình của nhóm tác giả: Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm
(Đồng chủ biên): “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Nxb.
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001.
+ Bùi Đình Phong: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán
bộ”, Nxb. Lao động, Hà Nội, 2002.
+ Nguyễn Duy Hùng (Chủ biên): “Luận cứ khoa học và một số giải
pháp xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường hiện nay”, Nxb. Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2008.
- Nhóm công trình nghiên cứu về Đoàn và công tác Đoàn:
+ Đoàn Nam Đàn: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên”,
Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008;
+ Doãn Đức Hảo: “Xây dựng đội ngũ cán bộ Đoàn cơ sở trong giai
đoạn hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ Chính trị học, 2009;
Công trình của tác giả Doãn Đức Hảo là một công trình khoa học
nghiên cứu tương đối toàn diện về đội ngũ cán bộ Đoàn cơ sở, công trình đánh
giá được thực trạng, nguyên nhân nhất là chỉ rõ những nhân tố tác động đến
3.1 Mục đích
Qua phân tích sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ để xây
dựng đội ngũ cán bộ Đoàn cơ sở ở nông thôn tỉnh Hà Tĩnh hiện nay, luận văn
góp phần làm sáng tỏ các tổ chức trong hệ thống chính trị ở Hà Tĩnh đã vận
dụng đúng đắn quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh để xây dựng đội ngũ cán bộ
6
Đoàn nói chung và cán bộ đoàn cơ sở ở nông thôn Hà Tĩnh nói riêng đáp ứng
yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ cơ sở lý luận chung về cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ theo
tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Quan điểm, chủ trương thực hiện nhiệm vụ xây dựng cán bộ Đoàn ở
nông thôn Hà Tĩnh của các tổ chức trong hệ thống chính trị của địa phương.
- Nêu lên những vấ n đề c ấp thiết đang đặt ra và xác định một số giải
pháp chủ yếu nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ Đoàn cơ sở ở nông thôn Hà Tĩnh
đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của tổ chức Đoàn.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ được thể hiện trong các bài nói, bài
viết của Người.
Cán bộ Đoàn cơ sở và công tác xây dựng đội ngũ cán bộ Đoàn cơ sở ở
nông thôn Hà Tĩnh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn, phạm vi lý thuyết: Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ
Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ.
- Giới hạn về mặt không gian và thời gian nghiên cứu: nghiên cứu về
đội ngũ cán bộ Đoàn và công tác cán bộ Đoàn cơ sở ở nông thôn Hà Tĩnh
trong những năm đổi mới, tập trung vào giai đoạn hiện nay, nhất là từ sau khi
1.1.1. Khái niệm cán bộ
Mặc dù chưa đưa ra một định nghĩa nào thật đầy đủ về cán bộ nhưng
qua các bài nói, bài viết, Hồ Chí Minh luôn khẳng định “cán bộ là cái dây
chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù
tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là những người đem chính sách
của Chính phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính
sách hay cũng không thực hiện được”[51,54]. Theo Người, cán bộ là những
người có trách nhiệm phục vụ nhân dân, phục vụ Đảng, Nhà nước chứ không
phải là người đứng trên hoặc đứng ngoài nhân dân. Họ có trách nhiệm đưa
đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với
nhân dân, để nhân dân hiểu rõ và tổ chức, vận động nhân dân thi hành. Đồng
thời, cán bộ cũng là người có trọng trách phải gần gũi nhân dân, nắm được
tâm tư, nguyện vọng, những bức xúc của quần chúng nhân dân phản ánh với
Đảng, Nhà nước để Đảng, Nhà nước đề ra chủ trương, đường lối, chính sách,
pháp luật cho đúng, phù hợp với quy luật vận động, phát triển của xã hội và
đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân.
Ngày nay, ở nước ta khái niệm cán bộ được hiểu theo nghĩa rộng hơn,
bao gồm: Tất cả những người được bầu cử vào các cơ quan Nhà nước, Đảng,
đoàn thể; những người được bổ nhiệm đảm nhiệm một công tác quản lý hoặc
được giao một công tác chuyên môn nào đó (cán bộ giảng dạy, cán bộ khoa
học kỹ thuật ...) trong các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị, biên chế và
hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
9
Theo từ điển tiếng Việt thì “cán bộ là người làm công tác có nghiệp vụ
chuyên môn trong cơ quan Nhà nước, người làm công tác có chức vụ trong
một cơ quan, một tổ chức”[72,5]. Một công trình nghiên cứu của các nhà khoa
học Việt Nam đã đưa ra định nghĩa: “Cán bộ là một khái niệm dùng để chỉ
những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức, có
hưởng tích cực đến hoạt động của tổ chức, điều chỉnh mối quan hệ liên quan
đến lãnh đạo, quản lý, điều hành hoạt động, duy trì, thúc đẩy và định hướng sự
phát triển của tổ chức.
Những đặc trưng trên là cơ sở để chúng ta phân biệt người cán bộ với
những đối tượng khác. Nếu thiếu một trong ba đặc trưng trên đều đưa đến nhận
thức phiến diện về cán bộ. Từ những đặc trưng trên, cán bộ được phân chia trên
nhiều lĩnh vực, nhiều chức danh, cấp độ khác nhau. Trong từng loại cán bộ đều
cần phải quy định tiêu chuẩn, tiêu chí, chức năng, nhiệm vụ khác nhau.
1.1.2. Vị trí, vai trò của cán bộ và công tác cán bộ theo tƣ tƣởng Hồ
Chí Minh
Xuất phát từ lý luận của Chủ nghĩa Mác –Lênin về cán bộ, rằng “Không
một phong trào cách mạng nào vững chắc được nếu không có một tổ chức ổn
định và duy trì được tính liên tục gồm những người lãnh đạo”[39,58], và
“Người cộng sản lãnh đạo chỉ có một cách duy nhất để chứng minh quyền
lãnh đạo của mình, đó là tìm cho mình được nhiều, ngày càng nhiều những
người phụ tá…, biết giúp đỡ họ làm việc, biết đề bạt họ, biết giới thiệu và chú
ý đến kinh nghiệm của họ”[42,407], Hồ Chí Minh xác định việc xem xét vị trí,
vai trò của cán bộ phải đặt trong tổng hoà các mối quan hệ đa chiều. Từ thực
tiễn hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã khẳng định cán bộ là nhân tố quyết
định sự thành hay bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của
đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng, Người
nói “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”[50,240],
11
nghĩa là khi đã có chính sách đúng thì sự thành công hay thất bại của chính
sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và nơi kiểm
tra…cả ba điều ấy đều rất quan trọng và quyết định ở người cán bộ.
Hồ Chí Minh cho rằng “cán bộ là gốc của mọi công việc”[50,269] nên
người cán bộ không phải là “ông quan cách mạng”, càng không phải là người
hệ với quần chúng nhân dân, trong sự tương quan về nhiệm vụ. Trong đó,
người cán bộ vừa là chủ thể lãnh đạo, điều hành, vừa là đối tượng và là lực
lượng tổ chức thực hiện.
Song song với khẳng định vị trí, vai trò của cán bộ, Hồ Chí Minh cũng
đồng thời khẳng định tầm quan trọng của công tác cán bộ. Theo Người công
tác cán bộ là một bộ phận trong công tác xây dựng Đảng, là công tác Đảng
liên quan chặt chẽ với việc xác định đường lối, chủ trương, chính sách và
nhiệm vụ chính trị, với việc sắp xếp tổ chức, bộ máy, cơ chế và đổi mới
phương thức lãnh đạo của Đảng trong cả hệ thống chính trị. Công tác cán bộ là
hoạt động của chủ thể có đủ thẩm quyền và trách nhiệm pháp lý, nhằm tạo ra
một đội ngũ cán bộ đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, có lập trường chính
trị vững vàng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của đất nước. Hồ Chí Minh
yêu cầu giai cấp vô sản và chính đảng của mình muốn giành được quyền lãnh
đạo, giữ vững được chính quyền thì phải đào tạo được một đội ngũ cán bộ
trung thành, đáp ứng được nhiệm vụ cách mạng. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo đó
phải thực sự chuyên nghiệp, tận tâm với nước, tận hiếu với dân, phải là lực
lượng rường cột của đất nước, có phẩm chất, trí tuệ, có đạo đức cách mạng
trong sáng, có năng lực tổ chức thực hiện. Không chỉ yêu cầu, Hồ Chí Minh
còn là người tổ chức thực hiện. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của
mình, Người luôn quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Ngay từ
những năm 1925, sau khi tiếp nhận học thuyết của Chủ nghĩa Mác – Lênin và
tìm ra con đường đấu tranh giải phóng dân tộc. Người đã trực tiếp mở các lớp
13
đào tạo, huấn luyện cán bộ cho cách mạng. Và sau này khi đã trở thành chủ
tịch nước, vấn đề cán bộ và công tác cán bộ lại được Hồ Chí Minh quan tâm
hơn bao giờ hết. Đào tạo cán bộ như thế nào, sử dụng cán bộ ra sao, cán bộ
cần có những tiêu chuẩn gì?... là những nội dung được Hồ Chí Minh đưa ra
trong rất nhiều bài nói, bài viết của mình ở các lớp chỉnh huấn, với các cấp,
thiện dân sinh, nâng cao dân trí, làm cho dân hiểu rõ nghĩa vụ và quyền lợi của
người làm chủ đất nước. “Làm sao cho dân biết hưởng quyền dân chủ, biết
dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”[57,223].
Hai là phải biết yêu thương con người. Yêu thương con người trong tư
tưởng đạo đức Hồ Chí Minh xuất phát từ truyền thống nhân nghĩa của dân tộc,
kết hợp với chủ nghĩa nhân văn của nhân loại, chủ nghĩa nhân đạo cộng sản.
Người coi yêu thương con người là phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất. Yêu
thương con người thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân trong quan
hệ xã hội. Cũng có lẽ vì tình yêu bao la rộng lớn ấy, mà Người đã dành cả
cuộc đời mình để thực hiện “một ham muốn, ham muốn tột bậc làm sao cho
nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai
cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Một thứ ham muốn khác lạ,
không dành cho mình, không phải cho gia đình, anh em, họ hàng mình mà là
cho quê hương, dân tộc và cho cả nhân loài. Đó là thứ tình yêu, sự khát vọng
về một thế giới đại đồng. Vì thế, với Hồ Chí Minh người cán bộ, đảng viên để
hoàn thành tốt sự nghiệp mà nhân dân giao phó, thực sự xứng đáng là người
đầy tớ trung thành của nhân dân thì yêu cầu mà Người đặt ra là tinh thần hy
sinh, phục vụ nhân dân, tin tưởng và yêu mến nhân dân, quan hệ mật thiết với
nhân dân, yêu thương đồng bào, đồng chí, yêu thương nhân loại. Người cán bộ
đảng viên phải biến tình yêu ấy thành lẽ sống: sống có tình, có nghĩa, sống có
trước có sau. Người luôn căn dặn cán bộ, đảng viên phải có tình đồng chí, yêu
thương lẫn nhau, không bao che, bảo vệ nhau điều sai, điều không đúng, kéo
bè, kết cánh mà nên tôn trọng nguyên tắc tự phê bình và phê bình để góp ý,
15
sữa chữa cho nhau một cách chân thành. Người nói: Nhân dân ta từ lâu đã
sống với nhau có tình có nghĩa như thế. Từ khi có Đảng ta lãnh đạo và giáo
dục, tình nghĩa ấy càng cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào đồng chí,
tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà. Biết chủ nghĩa Mác - Lênin là phải
tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì
vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá. Chỉ có một thứ ham là
ham học, ham làm, ham tiến bộ”[50,252]. Những hành vi trái với liêm như:
cậy đục khoét dân, ăn của đút hoặc trộm của công làm của tư; Dìm người giỏi
để giữ địa vị của mình là đạo vị; gặp việc phải mà sợ khó nhọc, nguy hiểm,
không giám làm là tham vật úy lao; Gặp giặc mà không giám đánh là tham
sinh úy tử.
Chính là ngay thẳng, không tà phái, là đúng đắn, chính trực. Đối với
mình không tự cao, tự đại; đối với người không nịnh trên, khinh dưới, không
dối trá, lừa lọc, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết. Đối với việc
thì để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà. Được giao nhiệm vụ gì
quyết làm cho kỳ được, “việc thiện dù nhỏ mấy cũng làm; việc ác thì dù nhỏ
mấy cũng tránh”. Mỗi ngày cố làm một việc có lợi cho nước, cho dân, mỗi cán
bộ đảng viên là dù to hay nhỏ thì đều là người lãnh đạo nhân dân, muốn nhân
dân thực hiện thì tất yếu người cán bộ phải gương mẫu. Người nói mình không
chính mà muốn người khác chính là điều không thể và yêu cầu mỗi cán bộ,
đảng viên phải cần, kiệm, liêm, chính là vô cùng cần thiết.
Chí công vô tư: Chí công vô tư về thực chất là nối tiếp cần, kiệm, liêm,
chính; cần, kiệm, liêm chính sẽ dẫn đến chí công vô tư; ngược lại đã chí công,
vô tư một lòng vì nước, vì dân, vì Đảng thì nhất định sẽ thực hiện cần, kiệm,
liêm, chính và có nhiều tính tốt khác. Chí công là rất mực công bằng, công
tâm; vô tư là không được có lòng riêng, thiên tư, thiên vị “tư ân, tư huệ, hoặc
tư thù, tư oán”, đem lòng chí công, vô tư đối với người, với việc. “Khi làm bất
cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”,
17
“lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Muốn “chí công, vô tư” phải chiến thắng
được chủ nghĩa cá nhân. Đây là chuẩn mực của người lãnh đạo, người “giữ
cán cân công lý”, không được vì lòng riêng mà chà đạp lên pháp luật. Ngược
việc người ta rửa mặt hàng ngày, đó phải là việc làm thường xuyên, liên tục.
Người nói “Đạo đức cách mạng không phải tự nhiên mà có, cũng không phải
tự trên trời rơi xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát
triển, củng cố. Đạo đức cũng gống như như ngọc càng mài càng sáng, vàng
càng luyện càng trong”.
1.1.3.2. Người cán bộ phải có tài, có năng lực tổ chức, phương pháp
lãnh đạo đúng đắn
Theo Hồ Chí Minh, người có đức mà không có tài thì vô dụng. Song có
tài mà không có đức thì lại càng vô dụng hơn. Người yêu cầu người cán bộ
phải vừa có đức, vừa có tài. Tài năng đó là năng lực lãnh đạo và thực hành
công việc, được thể hiện thông qua những việc làm làm cụ thể, luôn hoàn
thành tốt nhiệm vụ được giao.
Tư tưởng sử dụng và quý trọng hiền tài của Hồ Chí Minh được thể hiện
từ rất sớm, ngay từ những ngày mới bắt đầu hoạt động cách mạng ở nước
ngoài, cho đến khi thành lập nhà nước cách mạnh, Người nói “Nước nhà cần
phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số hai mươi triệu đồng
bào chắc không thiếu người có tài, có đức”; “nay muốn sửa đổi điều đó, trọng
dụng những kẻ hiền năng, các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có
người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân, thì phải báo cáo
ngay cho Chính phủ biết”[49,451]. Và Đảng, Chính phủ phải có chính sách
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ trẻ. Trước lúc đi xa,
trong Di chúc thiêng liêng của mình, Người đã căn dặn: “Đảng cần phải chăm
lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế
xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách
mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết”[57,498]
19