đạo đức sinh thái với việc bảo vệ môi trường tự nhiên ở nông thôn hà nội hiện nay - Pdf 11


LUẬN VĂN:

Đạo đức sinh thái
với việc bảo vệ môi trường tự nhiên
ở nông thôn Hà Nội hiện nay
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, Đảng ta đó đề ra đường lối đổi
mới toàn diện, mở ra bước ngoặt trong sự ngiệp xây dựng và phát triển đất nước. Việc
chuyển từ mô hỡnh kinh tế tập trung quan liờu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định
hướng xó hội chủ nghĩa cho phộp chỳng ta tận dụng, huy động mọi nguồn lực để phát
triển đất nước. Sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đạt được những thành tựu

đức sinh thái. Do vậy chúng tôi chọn đề tài “Đạo đức sinh thái với việc bảo vệ môi trường
tự nhiên ở nông thôn Hà Nội hiện nay " làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành triết học.
2. Tỡnh hỡnh nghiờn cứu liờn quan đến đề tài
Vấn đề đạo đức sinh thái và việc bảo vệ môi trường nói chung, môi trường nông
thôn nói riêng đó cú nhiều cụng trỡnh nghiờn cứu và nhiều tỏc giả đó cú những bài viết
trờn cỏc tạp chớ khoa học xó hội trờn cả nước như:
- Quốc hội nước Cộng hũa xó hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam: Luật bảo vệ
môi trường…Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004.
- Bộ Tài nguyên và môi trường: Báo cáo của Bộ tài nguyên và môi trường về
việc triển khai thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường…(Tại Hội
nghị môi trường toàn quốc 4/2005).
- Trần Lê Bảo (chủ biên): Văn hoá sinh thái nhân văn, Nhà xuất bản Văn hoá-
Thông tin 2001.
- Phạm Văn Boong: í thức sinh thỏi và vấn đề phát triển lâu bền, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
- Các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 1995.
- Bùi Văn Dũng: Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường cho sự
phát triển lâu bền, Luận án tiến sĩ triết học, Viện Triết học, 1999.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Chỉ thị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường
trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, 1998.

- Hỏi đáp về bảo vệ tài nguyên môi trường nông thôn Việt Nam, 2004.
- Bộ Chính trị, Nghị quyết số 41- NQ/TU về bảo vệ môi trường trong thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Trần Sỹ Phán: Đạo đức sinh thái- vấn đề cần được quan tâm, Tạp chớ Giỏo dục
lý luận, số 7/2006.
- Trần Sỹ Phán: Quan điểm của Mác- Ăngghen về mối quan hệ giữa con người
và giới tự nhiên, Tạp chớ Lý luận chớnh trị, số 6/2006.
- Hồ Sỹ Quý: Về đạo đức môi trường Tạp chí triết học, số 9/2006

4.2. Phạm vi nghiên cứu
Là những nhân tố, những điều kiện tác động đến môi trường tự nhiên và đạo đức
sinh thái trên địa bàn nông thôn thành phố Hà Nội. Những số liệu và tài liệu khảo sát
chủ yếu được đề cập từ năm 2005 trở lại đây.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về môi
trường, đạo đức, nông nghiệp và nông thôn…. Ngoài ra, việc thực hiện bản luận văn này tác
giả cũn tham khảo những cụng trỡnh khoa học đó cụng bố cú liờn quan đến vấn đề đạo đức
sinh thái, vấn đề môi trường nông thôn hiện nay ở nước ta - nhất là trên địa bàn thành phố Hà
Nội.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận chung của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với phương pháp cụ thể như:
điều tra xó hội học, thống kê, so sánh…
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Hệ thống hoá những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và Đảng ta, làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu và luận giải về đạo đức
sinh thái trên phương diện triết học; đặc biệt là làm rừ một số đặc trưng cơ bản của đạo

đức sinh thái, vai trũ của đạo đức sinh thái với việc bảo vệ môi trường tự nhiên ở nông
thôn.
- Phân tích những nhân tố tác động, những biến đổi của đạo đức sinh thái ở một
địa phương có tính đặc thù như thủ đô Hà Nội.
- Đề xuất những giải pháp để nâng cao vai trò của đạo đức sinh thái nhằm bảo vệ
môi trường tự nhiên ở nông thôn Hà Nội.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7.1. Về mặt lý luận
- Từ tiếp cận triết học đó nêu và luận giải một cách hệ thống các luận điểm cơ

sinh học, nhân học đương thời, Ph.Ănghen đó chỉ ra rằng: Lao động là điều kiện cơ bản
đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức độ mà trên một ý
nghĩa nào đó chúng ta phải nói: Lao động đó sỏng tạo bản thân con người.
Nhưng lao động không chỉ sáng tạo ra của cải vật chất, mà hành động lịch sử đầu
tiên của con người với tư cách là con người xó hội đó tạo ra các năng lực, các phẩm
chất như: nhận thức, thẩm mỹ, đạo đức; đồng thời lao động đó sỏng tạo ra mối quan hệ
song trựng giữa con người với con người và con người với tự nhiên
C.Mác từng chỉ ra rằng, hành động lịch sử đầu tiên của con người là lao động.
Nhưng lao động với tư cách là lao động thỡ khụng bao giờ là một hành động đơn lẻ, cá
biệt. Trong các quan hệ giữa người với người, nghĩa là trong cỏc quan hệ xó hội, con
người tiến hành lao động để thoả món nhu cầu sống cũng như các lợi ích của mỡnh.
Nhờ cú tư duy, con người nhận ra sự cần thiết của sự tương trợ lẫn nhau trong lao động.

Tính tất yếu này đũi hỏi một hy sinh nhất định lợi ích cá nhân cho lợi ích của người
khác, lợi ích của cộng đồng. Nhưng đổi lại, lao động của con người có hiệu quả hơn. Sự
tương trợ đó, ban đầu được thể hiện trên cơ sở con người ý thức được tính tất yếu về
mặt lợi ích của sự tương trợ lẫn nhau. Nhưng sự tương trợ lẫn nhau một khi đó trở thành
thúi quen, tập quỏn thỡ khi đó con người nảy sinh khát vọng tương trợ tự nguyện. Khát
vọng đó chính là tỡnh cảm đạo đức đầu tiên của con người. Hành vi được điều chỉnh bởi
ý thức và khỏt vọng tương trợ tự nguyện chính là hành vi đạo đức đầu tiên của con
người. Từ lao động và cùng với lao động, sự tương trợ lẫn nhau được mở rộng ra các
lĩnh vực sống của con người, xó hội. Đó chính là cơ chế của sự hỡnh thành đạo đức. Nó
hiện diện như một phương thức đặc thù của sự điều chỉnh hành vi con người. Sự điều
chỉnh ấy dựa trên cơ sở tự giác, tự nguyện và ưu tiên lợi ích của cộng đồng, xó hội.
Xuất phỏt từ vai trũ lao động đối với sự hỡnh thành, tồn tại và phỏt triển con
người, C.Mác đi đến quan niệm về tính quy định, xét đến cùng của phương thức sản
xuất, của tồn tại xó hội đối với toàn bộ cỏc lĩnh vực cũn lại của xó hội. Trong lời tựa
của tỏc phẩm ''Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị'' C.Mác viết: Phương thức sản
xuất đời sống vật chất quyết định các quy trỡnh sinh hoạt xó hội, chớnh trị và tinh thần
núi chung. Khụng phải ý thức của con người quyết định ý thức của họ; trỏi lại tồn tại xó

phải mặc da thú để che kín người. Vỡ vậy, đối với họ ăn mặc kính đáo là một chuẩn
mực đạo đức. Tỡnh cảm xấu hổ đối với lối ăn mặc thiếu kín đáo phát triển mạnh hơn so
với những tộc người da đỏ sống ở vùng nhiệt đới. Một số người da đỏ ở Nam Mỹ cho
đến nay vẫn cũn sống khoả thõn. Khớ hậu nhiệt đới khiến họ không hỡnh thành ý thức
và tỡnh cảm đạo đức đối với trang phục.
Ngày nay, các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển rất chú trọng
việc khẳng định bản sắc dân tộc của văn hóa và đạo đức. Nhiều quốc gia đó xõy dựng
bảng giỏ trị tinh thần - đạo đức với những nguyên tắc nền tảng làm cơ sở định hướng
giá trị cho hoạt động của cả cộng đồng cũng như cho từng người dân.
Ở nước ta, yêu cầu xây dựng "hệ giá trị và chuẩn mực xó hội mới phự hợp với
truyền thống, bản sắc dõn tộc và yờu cầu thời đại" đó được khẳng định tại Đại hội đại

biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng. Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương
khóa VIII đó cụ thể húa yờu cầu này thành những chuẩn mực, những đức tính dưới đây:
- Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vỡ độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xó hội, cú ý chớ vươn lên, đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đoàn kết
với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vỡ hũa bỡnh, độc lập dân tộc, dân chủ
và tiến bộ xó hội.
- Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vỡ lợi ớch chung.
- Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa,
tôn trọng kỷ cương, phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện
môi trường sinh thái.
- Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất
cao vỡ lợi ớch của bản thân, gia đỡnh, tập thể và xó hội.
- Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trỡnh độ chuyên môn, trỡnh độ thẩm
mỹ và thể lực.
Triết học Mác-Lênin không phủ nhận tính phổ biến toàn nhân loại của đạo đức,
nhưng khẳng định rằng, trong điều kiện xó hội cú giai cấp đối kháng thỡ khụng thể cú
một nền đạo đức chung thống nhất cho mọi giai cấp. Ph.Ănghen từng chỉ ra rằng: Con
người dù tự giác hay không tự giác, rút cục đều rút ra những quan niệm đạo đức của

về sự hoà hợp giữa con người và tự nhiên cũng xuất hiện khá sớm. Khác với phương
Đông, ở phương Tây tồn tại khuynh hướng đề cao đến mức tuyệt đối hoá vai trũ của con
người trong mối quan hệ với tự nhiên. Triết học Hy Lạp cổ đại tôn vinh vị trí và vai trũ
con người, Protagor coi con người là thước đo của vạn vật. Chủ nghĩa duy lý thế kỷ
XVII - XVIII đó nhấn mạnh rằng, con người là trung tâm của vũ trụ, là chúa tể của giới
tự nhiên.
Ki tô giáo quan niệm thế giới và con người là sản phẩm của Chúa sáng tạo ra,
con người là hỡnh ảnh của Chỳa, nên con người cũng có khả năng sáng tạo và có quyền
thống trị giới tự nhiên…Những quan niệm đó là cơ sở cho sự nảy nở và phỏt triển triết
lý con người chinh phục theo kiểu “thống trị”, “tước đoạt” tự nhiên trong suốt một thời
gian dài, để lại những hậu quả môi trường to lớn mà ngày nay con người đang phải nỗ
lực tỡm cỏch khắc phục.

Khi bàn về mối quan hệ lại là sự tác động lẫn nhau giữa con người và tự nhiên.
C.Mác và Ph.Ăngghen cũng đề cập đến tương đối nhiều và khá tập trung, mặc dù các
ông không dành trọn tác phẩm vào cho chủ đề này. Rải rác trong các tác phẩm khác
nhau, kể cả ở ''thời Mác trẻ'' cũng như ở ''thời trưởng thành'', các nhà kinh điển đó
bàn đến vấn đề này khá sâu sắc, không ít vấn đề môi sinh hiện đại mà chúng ta
thường coi là được đặt ra do sự phát triển của xó hội cụng nghiệp ở thế kỷ XX lại ít
nhiều đó được C.Mác và Ph.Ăngghen suy ngẫm.
Trong tác phẩm Chống Đuy-rinh, khi phê phán quan điểm của Đuy-rinh cho rằng
tính thống nhất của thế giới là ở sự tồn tại của nó. Ph.Ăngghen đó khẳng định:
Tính thống nhất của thế giới không phải ở sự tồn tại của nó, mặc dù tồn
tại là tiên đề của tính thống nhất của nó, vỡ trước khi thế giới có thể là một
thể thống nhất thỡ trước hết thế giới phải tồn tại đó Tớnh thống nhất thực sự
của thế giới là ở tớnh vật chất của nú, và tớnh vật chất này được chứng minh
không phải bằng vài ba lời lẽ khộo lộo của kẻ làm trũ ảo thuật mà bằng một
sự phát triển lâu dài và khó khăn của triết học và khoa học tự nhiên [43,
tr.67].
Rừ ràng, với khẳng định này, trong chừng mực nhất định, Ph.Ăngghen cũng đó

nào mà loài người cũn tồn tại thỡ lịch sử của họ và lịch sử tự nhiên quy định
lẫn nhau [42, tr.21, 25].
Như vậy, ngay từ khi hỡnh thành những tư tưởng duy vật đầu tiên của mỡnh về
lịch sử, con người và tự nhiên trong quan niệm của C.Mác đó thống nhất hữu cơ với
nhau, không tách rời nhau đến mức ''điều đó chẳng của chỉ có nghĩa là tự nhiên liên hệ
khăng khít với bản thân tự nhiên''. Quan điểm này nhất quán trong tư tưởng của C.Mác
và Ph.Ăngghen đến mói về sau. Chớnh vỡ thế, với C. Mác và Ph.Ăng ghen, những gỡ thự
địch với tự nhiên cũng tức là thù địch với con người. Theo các ông, những hành vi phá
hoại tự nhiên, phá vỡ sự hài hũa, cõn bằng của mối quan hệ con người - tự nhiên, xét về
mặt sinh thái, cũng đồng nghĩa với sự phá hoại cuộc sống của chính bản thân con người.
Với quan niệm đó, C.Mác kết luận rằng, chừng nào mà loài người cũn tồn tại thỡ
lịch sử của họ và lịch sử của tự nhiờn quy định lẫn nhau. Theo đó, quan hệ giữa con

người và tự nhiên là quan hệ đồng tiến hoá, cùng tồn tại và phát triển. Con người và xó
hội loài người không thể có sự phát triển ổn định, bền vững và hài hoà nếu con người
đối xử thô bạo với tự nhiên - cái “nôi”, cội nguồn, “thân thể vô cơ” của nó.
Như vậy, để tồn tại và phát triển con người không chỉ đối xử thân thiện với nhau
mà cũn phải đối xử thân thiện với tự nhiên. Do đó, nếu đạo đức xó hội giữ vai trũ điều
chỉnh hành vi của con người trong các mối quan hệ giữa con người với con người trong
xó hội, thỡ đạo đức sinh thái lại trực tiếp điều chỉnh hành vi của con người trong mối
quan hệ giữa con người với tự nhiên. Song, đạo đức sinh thái cũng là một biểu hiện đặc
thù của đạo đức xó hội, bởi vậy, trong xó hội, tự nhiờn là mắt khõu liên hệ giữa con
người và con người.
1.1.1.2. Khái niệm đạo đức sinh thái
Đạo đức sinh thái cũn được gọi là đạo đức môi sinh, đạo đức môi trường. Gọi là
đạo đức sinh thái vỡ căn cứ vào thuật ngữ “sinh thái” theo cả nguồn gốc tiếng Hy Lạp
“oikos” là nơi cư trú, nơi sinh sống, lẫn theo cách hiểu hiện đại, sinh thái là lĩnh vực của
các mối quan hệ qua lại và tác động lẫn nhau giữa cơ thể sống với môi trường xung
quanh chúng. Cụ thể là mối quan hệ qua lại và sự tác động lẫn nhau giữa con người xó
hội và sinh quyển - nơi con người và xó hội đang tồn tại.

sự đồng hành của nó chính là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho một tương
lai phát triển bền vững.
1.1.2. Đặc trưng cơ bản của đạo đức sinh thái
Đạo đức sinh thái là một hiện tượng xó hội. Trong quỏ trỡnh vận động của xó
hội, đạo đức sinh thái đó, đang và sẽ tiếp tục tồn tại cùng với sự tồn tại của đạo đức xó
hội. Ngoài những đặc trưng chung của đạo đức xó hội đạo đức sinh thái cũn cú những
nột đặc trưng riêng của nó.
Thứ nhất, tự nhiên và môi trường tự nhiên là khách thể và là đối tượng trực tiếp
trong quan hệ đạo đức.
Trong đạo đức xó hội, mối quan hệ giữa khỏch thể và chủ thể đạo đức (con
người, cá nhân, cộng đồng), đều có thể vừa là chủ thể vừa là khách thể đạo đức. Cũn
trong mối quan hệ đạo đức sinh thái (tức là đạo đức biểu hiện trong mối quan hệ giữa

con người với tự nhiên), con người bao giờ cũng là chủ thể đạo đức, cũn tự nhiờn bao
giờ cũng chỉ là khỏch thể. Ở đây, con người luôn là kẻ chủ động quan hệ, chủ động tác
động lên tự nhiên một cách có ý thức, có mục đích, cũn sự tỏc động của tự nhiên lên
con người và xó hội dự cú to lớn, mạnh mẽ đến đâu cũng chỉ là sự tác động mù quáng,
vô ý thức, hay là “sự phản xạ tự nhiên”, và sự phản xạ tự nhiên này trong vô thức nhưng
nó có quy luật buộc con người phải tôn trọng. Vỡ thế sự tỏc động của con người lờn tự
nhiờn nhằm khai thỏc phục vụ nhu cầu của mỡnh thỡ đồng thời con người lại phải có ý
thức bảo vệ, duy trỡ và phục hồi cỏc nguồn lực của tự nhiờn. Tức là, ở đây hoàn toàn
không phải chỉ là “chinh phục” và chiến thắng tự nhiên, mà phải thể hiện khai thác độ
tích cực, thân thiện với giới tự nhiên là ổn định và bền vững. Lời cảnh báo của Ph .Ăng
- ghen từ hơn 100 năm trước vẫn cũn nguyờn tớnh khoa học và ý nghĩa thời sự:
…chúng ta hoàn toàn không thống trị được giới tự nhiên như kẻ xâm
lược thống trị một dân tộc khác… xương thịt, máu mủ và đầu óc chúng ta là
thuộc về giới tự nhiên, chúng ta nằm trong lũng giới tự nhiờn, và tất cả sự
thống trị của chỳng ta đối với giới tự nhiên là ở chỗ chúng ta, khác với tất cả
các loài sinh vật khác, chúng ta nhận thức được quy luật giới tự nhiên và có
thể sử dụng được những quy luật đó một cách chính xác [43, tr.655].

đến lợi ích là phải nói đến giỏ trị, bởi vỡ lợi ớch gắn liền với giá trị. Giá trị được coi là
những gỡ thoả món nhu cầu và mang lại lợi ớch. Giỏ trị của khỏch thể tự nhiờn khụng
phải lỳc nào cũng cú thể thoả món nhu cầu và phục vụ lợi ớch của con người, hay nói
cách khác, không phải lúc nào con người cũng nắm bắt hết được giá trị của khách thể tự
nhiên. Bản thân từng yếu tố tự nhiên như động, thực vật, vi sinh vật, nước, ánh sáng,
không khí, đất, khoáng sản… đều có hai loại giá trị: giá trị nội tại và giá trị sử dụng. Giá
trị nội tại của các yếu tố tự nhiên là giá trị vốn có do những thuộc tính khách quan của
các yếu tố tự nhiên quy định và tạo thành bản chất khách quan của chúng mà không
phục thuộc vào nhu cầu và lợi ích của con người. Cũn giỏ trị sử dụng của cỏc yếu tố tự
nhiờn như thế nào, điều đó không chỉ phụ thuộc vào các thuộc tính khách quan, giá trị
nội tại của chỳng, mà cũn phụ thuộc vào chủ thể có được nhu cầu lợi ích gỡ từ cỏc yếu
tố tự nhiờn và trỡnh độ nhận thức của con người về các yếu tố tự nhiên đó. Một yếu tố

tự nhiên được coi là có giá trị sử dụng khi nó được sử dụng như một phương tiện nhằm
thoả món nhu cầu, mang lại một lợi ớch nào đó cho chủ thể. Đặc điểm của loại giá trị sử
dụng các khách thể tự nhiên là hoàn toàn phụ thuộc vào nhu cầu của con người, một khi
nhu cầu của con người thay đổi, thỡ lập tức giỏ trị sử dụng của chỳng cũng thay đổi
theo. Ngoài ra, giá trị sử dụng của các yếu tố tự nhiên cũn bị quy định bởi sự nhận thức
của con người, bởi trỡnh độ phát triển của khoa học và công nghệ của xó hội. Trong khi
đó, giá trị nội tại của chúng (cái bản chất khách quan) về cơ bản không có gỡ thay đổi
trong suốt thời gian tồn tại của chúng. Vậy mà để thoả món nhu cầu ngày càng tăng của
con người, nhiều lúc vỡ những lợi ớch vị kỷ, trước mắt con người không những chỉ khai
thác, tận dụng triệt để những giá trị sử dụng của tự nhiên, mà cũn làm huỷ hoại đến
những giá trị nội tại của những yếu tố tự nhiên. Sự gia tăng các hoạt động của con
người, đó tạo nờn một sức ộp vụ cựng lớn đối với giới tự nhiên, vượt ra khỏi khả năng
chịu đựng của nó. Điều đó dẫn tới một mặt, nhiều tài nguyên quý giá, vốn được tạo hoá
tích luỹ từ hàng triệu năm đứng trước nguy cơ cạn kiệt, khan hiếm, mặt khác gây nên
tỡnh trạng ụ nhiễm, mất cân bằng sinh thái mà cho tới hụm nay nú khụng cũn là mầm
mống hậu hoạ nữa mà sự “trả thù” của tự nhiên đang diễn ra song hành với cuộc sống
con người hôm nay và ngày mai. Cho nên:

Khác với tất cả những quan niệm trên, triết học Mác đó nghiờn cứu con người và
tự nhiên trong sự thống nhất hữu cơ giữa chúng, đồng thời cũng chỉ ra sự khác nhau về
chất giữa con người xó hội với tự nhiên. Một mặt, chủ nghĩa Mác khẳng định sự ảnh
hưởng to lớn của tự nhiên đối với sự tồn tại và phát triển của con người và xó hội; mặt
khỏc, nhấn mạnh vai trũ đặc biệt quan trọng của con người và xó hội với tư cách là nhân
tố gây ra sự biến đổi không ngừng của tự nhiên.
Trong tác phẩm “Chống Đuy-rinh”, khi phê phán quan niệm của E.Đuy-rinh cho
rằng tính thống nhất của thế giới là ở sự tồn tại của nó, Ph.Ăngghen đó khẳng định:
Tính thống nhất của thế giới không phải ở sự tồn tại của nó mặc dù tồn
tại là tiền đề của tính thống nhất của nó, vỡ trước khi thế giới có thể là một
thể thống nhất thỡ trước hết thế giới phải tồn tại đó…Tớnh thống nhất thực sự
của thế giới là ở tớnh vật chất của nú, và tớnh vật chất này được chứng minh

không bằng vài ba lời lẽ khéo léo của kẻ làm trũ ảo thuật, mà bằng một sự lõu
dài và khú khăn của triết học và khoa học tự nhiên [43, tr.67].
Thế giới phong phú và đa dạng quanh ta, được cấu thành từ nhiều yếu tố, song suy
cho cùng có ba yếu tố cơ bản: giới tự nhiên, con người và xó hội loài người. Ba yếu tố đó
thống nhất với nhau trong một hệ thống “Tự nhiên - con người - xó hội”, vỡ rằng, chỳng
đều là những dạng thức khác nhau, những trạng thái, những đặc tính và những quan hệ
khác nhau của vật chất đang vận động.
Trong hệ thống đó, mỗi yếu tố đều có vị trí và vai trũ nhất định. Trong sự tác
động qua lại giữa xó hội và tự nhiên, yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng rất to lớn đến sự tồn
tại và phát triển của con người và xó hội, cũn yếu tố xó hội và con người ngày càng có
vai trũ quan trọng đối với sự biến đổi của tự nhiên.
Trong triết học, ''tự nhiên'' được hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa rộng thỡ tự
nhiờn là ''tất cả những gỡ đang tồn tại khách quan'', là toàn bộ thế giới với tất cả các
hỡnh thức biểu hiện muụn màu, muôn vẻ của nó. Theo nghĩa này, khái niệm ''tự nhiên''
đứng cùng bậc với khái niệm ''vật chất'' và khái niệm ''vũ trụ'' [45, tr.500]. Theo nghĩa
hẹp thỡ ''tự nhiờn'' là ''tập hợp các điều kiện thiên nhiên vốn sẵn có, tồn tại ngoài tác
động của con người (trước hết là môi trường địa lý) và những điều kiện vật chất cần

sự “nhào nặn” của một lực lượng siêu nhiên nào đó. Ph.Ăng-ghen đó khẳng định rằng,
con người với bộ óc biết tư duy sáng tạo của mỡnh là sản phẩm cao nhất của sự tiến hoỏ
trong nhiều triệu năm của vật chất, là “một cơ thể phức tạp nhất mà giới tự nhiên sản
sinh ra được”. Mặt khác, lịch sử xó hội loài người đó, đang và sẽ tiếp tục chứng minh
rằng, tự nhiên là môi trường sống không thể thiếu của con người. Chính vỡ thế, con
người cần chung sống hài hoà với tự nhiên.
Ngày nay chúng ta thường phải nói nhiều đến “bảo vệ môi trường sống” và “bảo
vệ môi trường sinh thái”…Vậy, thực chất vấn đề môi trường sinh thái ngày nay là gỡ?
Chắc chắn đó không phải là vấn đề môi trường tự nhiên thuần tuý và trờn thực tế cũng
khụng cũn mụi trường tự nhiờn thuần tuý nữa. Ngày nay, khụng cú nơi nào trên thế giới
không có con người đó và đang sinh sống, dù đó là vùng hải đảo xa xôi hay miền núi
cao hẻo lánh, mà môi trường tự nhiên không chịu ít nhiều bởi sự tác động của con

người. Mọi nghiên cứu của con người đều nhằm mục đích tối cao là bảo vệ sự sống, sự
phát triển toàn diện của con người, sự sinh tồn của con người không chỉ gắn bó với môi
trường tự nhiên mà cũn gắn bú rất chặt chẽ với mụi trường xó hội, vỡ chỉ cú trong xó
hội con người mới trở thành Người đích thực.
Môi trường sống của con người phải là môi trường tự nhiên - xó hội hay là môi
trường tự nhiên - Người hoá. Môi trường sinh thái là môi trường có liên quan trực tiếp
đến sự sống của con người và xó hội. Nú trở thành đối tượng nghiên cứu của rất nhiều
ngành khoa học khác nhau.
Ở mức độ khái quát, môi trường sinh thái bao gồm tất cả những điều kiện xung
quanh có liên quan đến sự sống của sinh thể. Đối với con người, môi trường sinh thái là
tất cả những điều kiện tự nhiên, cả vô cơ và hữu cơ có liên quan đến sự sống của con
người, sự tồn tại và phát triển của xó hội. Như vậy, môi trường sinh thái là môi trường có
liên quan trực tiếp đến sự sống của con người và xó hội loài người. Do vậy, vấn đề môi
trường sinh thái ngày nay mà con người đang tập trung nghiên cứu để tỡm ra phương án tối
ưu giải quyết nó, thực ra là vấn đề quan hệ giữa con người, xó hội và tự nhiờn.
Suốt lịch sử tồn tại và phỏt triển của mỡnh, cựng với việc dựa vào giới tự nhiờn
để tồn tại, loài người cải biến, cải tạo và sáng tạo ra thế giới riờng của mỡnh. Từ khớa

chung của các nước này.
Nhằm tránh lặp lại những sai lầm đó, các nước đi sau trong tiến trỡnh cụng
nghiệp húa, đặc biệt là các nước đang phát triển đó ngày càng quan tâm nhiều hơn đến
khu vực nông nghiệp, nông thôn. Họ đó nhận thức sõu sắc hơn, đầy đủ hơn vai trũ tớch
cực của nụng nghiệp nụng thụn đối với quá trỡnh phỏt triển, coi hiện đại hoá nông
nghiệp nông thôn là một nội dung quan trọng trong chiến lược phỏt triển kinh tế - xó
hội. Thực tiễn của hàng loạt nước đang phát triển, đặc biệt là các nước thuộc khu vực
châu Á trong thời gian gần đây cho thấy nông nghiệp, nông thôn có vị trí, vai trũ quan
trọng đối với việc tăng trưởng và thúc đẩy phát triển của cỏc ngành kinh tế khỏc. Phỏt
triển nụng nghiệp, nụng thụn khụng phải là một yờu cầu riờng của khu vực này, mà cũn
liờn quan trực tiếp đến nhiều vấn đề khác của quốc gia như vấn đề đô thị, môi trường
sinh thái. Theo đó, mục tiêu phát triển nông nghiệp nông thôn không bó hẹp trong giới

hạn phục vụ lợi ích riêng, trước mắt của khu vực này; hơn thế, nó phục vụ trực tiếp cho
sự phỏt triển bền vững vỡ lợi ớch lõu dài của cỏc quốc gia.
Ngày nay, yêu cầu đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, nông thôn không thuần tuý
là việc riêng của các nước đang phát triển, mà nó cũn trở thành nhiệm vụ chung của cỏc
nước có khu vực nông thôn rộng lớn cũn trong tỡnh trạng lạc hậu. Trong điều kiện nền
kinh tế mở, hội nhập kinh tế quốc tế và các nước đang, sẽ cũn phụ thuộc lẫn nhau nhiều
hơn, thỡ phỏt triển nụng nghiệp, nụng thụn trở thành mối quan tõm của cộng đồng thế
giới và là vấn đề này đang tăng lên không chỉ vỡ nú liờn quan đến việc thoả món một số
nhu cầu cơ bản của con người, mà vỡ nú cũn gắn liền với mụi trường sinh thái - ngôi
nhà chung của nhân loại.
1.2.1.2. Về nông thôn và môi trường tự nhiên ở nông thôn
* Quan niệm về “nông thôn”
Trước hết, nông thôn là một tổng thể, một hệ thống xó hội trờn một địa bàn tự
nhiên nhất định. Nói đến nông thôn, chúng ta không chỉ nói đến sản xuất nông nghiệp
với những điều kiện tự nhiên của nó mà cũn núi đến dân cư, đến các quan hệ xó hội, cỏc
thiết chế xó hội hợp thành bộ mặt xó hội của nú, khiến cho nó khác với những đặc điểm
dân cư không phải nông thôn. Nói đến nông thôn chúng ta cũng cũn nói đến những điều

Nông thôn không phải là một phạm trù vĩnh cửu. Nó chỉ xuất hiện khi xó hội
chia thành hai địa bàn cư trú của cư dân gắn liền với sự phân công lao động lớn nhất của
xó hội: sự tỏch rời giữa thành thị và nụng thụn. Trong "Hệ tư tưởng Đức", C.Mác và
Ph.Ăngghen đó vạch rừ: “Sự phân công lớn nhất của lao động vật chất và tinh thần là sự
tách rời thành thị và nông thôn. Sự đối lập giữa thành thị và nông thôn xuất hiện với
bước quá độ từ thời đại dó man lờn thời đại văn minh" [40, tr.53].
Với ý nghĩa đó, “Nông thôn đó là một loại hỡnh cộng đồng xó hội - lónh thổ được
hỡnh thành một cỏch nhất định về mặt lịch sử trong quá trỡnh phõn cụng lao động xó hội,
mà đặc điểm của nó là có số lượng dân cư ít ỏi, mật độ dân cư tương đối thấp, là vai trũ
đáng kể của lao động nông nghiệp” [47, tr.94].
* Về môi trường tự nhiên ở nông thôn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status