luận văn: Giải pháp phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường tự nhiên - Pdf 12

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: “Giải pháp phát triển du lịch gắn
với bảo vệ môi trường tự nhiên.”
PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thế kỷ 21, con người đã đạt được những thành tựu vượt bậc trong tất cả
các lĩnh vực. Chúng ta tự hào đã có thể thám hiểm các vì sao,tự hào vì Internet
đã kéo cả thế giới lại gần, tự hào về công nghệ sinh học đã có thể can thiệp vào
bản đồ gen. Con người đã biết hưởng thụ những tiện nghi chưa từng có: những

một ngành du lịch thân thiện với môi trường-du lịch bền vững là ưu tiên của tất
cả các quốc gia.
2.Mục đích và nhiệm vụ đề tài
2.1.Mục đích
Nghiên cứu những tác động qua lại giữa môi du lịch và môi trường từ đó
đề tìm và đề xuất các phương pháp, phương án để nhằm phát triển du lịch mà
vẫn bảo tồn được các tài nguyên hình thành nên du lịch.
2.2Nhiệm vụ
-Làm rõ các khái niệm cơ bản về du lịch và môi trường
-Tác động qua lại giữa du lịch và môi trường
-Đề xuát giải pháp phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường
3.Đối tượng và phạm vi đề tài
Hoạt động du lịch, môi trường du lịch tự nhiên;
4.Các phương pháp nghiên cứu đề tài
-
Phương pháp thống kê:
-Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu
-Phương pháp bản đồ
-Phương pháp dự báo PHẦN HAI: NỘI DUNG
Chương1:Các khái niệm cơ bản về du lịch và môi trường

1. Đặc điểm, ý nghĩa và xu hướng phát triển của du lịch
1.1Đặc điểm và ý nghĩa của du lịch
1.1.1.Đăc điểm
-Du lịch là ngành không khói, ít gây ô nhiễm môi trường, giúp khách du
lịch vừa được nghỉ ngơi, giảm strees vừa biết thêm nhiều điều hay mới lạ mà
khách chưa biết. Du lịch còn góp phần phát triển kinh tế của đất nước, tạo việc

đầu tư. Nhưng khác với các ngành khác, ngành du lịch có một cấu trúc độc đáo -
đó là ngành được tạo nên bởi rất nhiều doanh nghiệp nhỏ của các loại dịch vụ
khác nhau. Vì thế, sự đầu tư của nhà nước vào cơ sở hạ tầng (hệ thống đường sá
công viên ) và đôi khi cả kiến trúc thượng tầng (nghệ thuật văn hóa dân
gian ) nhằm tạo điều kiện cho du lịch phát triển sẽ khích thích sự đầu tư rộng
rãi của các tầng lớp nhân dân và của các doanh nghiệp nhỏ.
+ Thúc đẩy sự phát triển của địa phương
Thường những vùng có khả năng thu hút khách du lịch là những vùng có
phong cảnh thiên nhiên đẹp nhưng nền kinh tế còn ít phát triển. Khi du lịch phát
triển, sự tiêu dùng của khách du lịch sẽ làm cho sự phân phối tiền tệ và cơ hội
tìm việc làm đồng đều hơn. Do vậy, du lịch là một trong những biện pháp hữu
hiệu để giúp tăng tốc những vùng có tốc độ phát triển kinh tế thấp.
+ Du lịch là phương tiện tuyên truyền và quảng cáo không mất tiền cho nước
chủ nhà
Khi khách đến du lịch, khách có điều kiện làm quen với một số mặt hàng ở
nước mà họ đến. Khi trở về đất nước của mình, khách bắt đầu tìm kiếm những
mặt hàng đó ở thị trường địa phương và nếu không tìm thấy, khách có thể yêu
cầu cơ quan ngoại thương nhập khẩu những mặt hàng ấy. Theo cách này, du lịch
quốc tế góp phần tuyên truyền cho nền sản xuất của nước du lịch chủ nhà. + Tạo nên hiệu quả kinh tế liên đới trong du lịch
Tiêu dùng của khách du lịch sẽ tạo nên thu nhập của các doanh nghiệp du
lịch. Các doanh nghiệp du lịch lại tiêu dùng các thu nhập của mình và lại tạo nên
thu nhập cho các ngành khác và cứ như thế nó tạo nên một chuỗi tiêu dùng - thu
nhập - tiêu dùng - thu nhập và chuỗi này tiếp tục cho đến khi có sự “rò rỉ” làm
chuỗi này tạ
-Ý nghĩa về mặt xã hội
+ Du lịch củng cố cộng đồng
Du lịch có thể tăng cường sức sống cho cộng đồng theo nhiều cách. Du lịch

giáo dục. Thu nhập tăng thì nhu cầu du lịch và chi phí cho du lịch tăng nhanh.
Thu nhập càng cao, càng nhiều gia đình đi du lịch.
Để có thể đi du lịch và thực hiện tiêu dùng du lịch, con người phải có điều
kiện vật chất đầy đủ. Đó là điều kiện cần thiết để biến nhu cầu du lịch nói chung
thành nhu cầu du lịch (nhu cầu có khả năng chi trả). Do vậy phúc lợi vật chất
của nhân dân là điều kiện có ý nghĩa quyết định trong sự phát triển du lịch.
Nhiều công trình nghiên cứu đều cho thấy rằng khi thu nhập du lịch tăng lên thì
nhu cầu du lịch cũng gia tăng, hoặc những người có thu nhập cao thì đi du lịch
nhiều hơn.
Giáo dục là nhân tố kích thích du lịch. Trình độ giáo dục được nâng cao
thì nhu cầu du lịch sẽ tăng lên rõ rệt, sự ham hiểu biết và mong muốn tìm hiểu
cũng tăng lên và trong nhân dân, thói quen đi du lịch sẽ hình thành ngày càng rõ.
Ở Liên Xô cũ, người ta đã tổng kết được rằng trình độ văn hóa tăng lên thì số
người nghỉ tại nhà giảm đi. Cụ thể là từ 36% trong số những người có trình độ
sơ cấp xuống còn 28% ở những người có trình độ trung cấp và 7% ở những ngư-
ời có trình độ cao cấp. Những kết quả điều tra ở Mỹ cũng tương tự, những gia
đình mà người chủ gia đình có trình độ văn hóa càng cao thì tỷ lệ đi du lịch càng
lớn. Giáo dục có liên quan chặt chẽ với thu nhập và nghề nghiệp. Tuy còn có
một số trường hợp ngoại lệ, song về cơ bản là như vậy. Những người có trình độ
giáo dục cao sẽ có nghề nghiệp phù hợp với mức thu nhập cao. Sự tập trung dân cư vào các thành phố, sự gia tăng dân số, tăng mật độ
dân cư, sự thay đổi cấu trúc, độ dài tuổi thọ đều có liên quan mật thiết với sự
phát triển du lịch.
Con người không thể đi du lịch nếu không có thời gian. Do vậy thời gian
rỗi là điều kiện tất yếu cần thiết để có thể tham gia vào hoạt động du lịch. Thời
gian rỗi của người dân ở từng nước được qui định trong luật lao động hoặc theo
hợp đồng lao động ký kết.
Thời gian rỗi có thể tăng lên nếu con người nếu sử dụng hợp lý quỹ thời

trí dành cho tầng lớp trung lưu. Sau thời gian hoạt động du lịch bị gián đoạn bởi
hai cuộc Thế chiến, khát vọng được đi du lịch dường như đã tăng lên mạnh mẽ
hơn trước. Người ta bỏ lại những đau khổ và lo âu của chiến tranh đằng sau họ
và khao khát đi du lịch. Chính nhờ đó mà du lịch lại phát triển nhanh chóng khi
những xung đột, mâu thuẫn lắng xuống và sự bình thường hóa được thiết lập
giữa các quốc gia.
Bước phát triển quan trọng nhất của du lịch trong thời đại công nghiệp là
ở lĩnh vực giao thông. Sự xuất hiện ô tô và máy bay cũng ảnh hưởng không nhỏ
tới hoạt động du lịch. Hai loại hình giao thông này đã trở thành phương tiện du
lịch được tầng lớp trung lưu, tầng lớp có số lượng đông đảo tín nhiệm. Tầng lớp
người này trong xã hội đều hội đủ điều kiện thời gian và tài chính cho hoạt động
du lịch Nhưng du lịch đường thủy vẫn có vẻ được chuộng hơn và thuận tiện
hơn. Vào thế kỷ XVIII – XIX, tàu thủy là phương tiện thích hợp với những
chuyến đi tới các vùng thuộc địa, đất mới như châu Phi, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, châu
Á, Viễn Đông để mở rộng thị trường tiêu thụ, các con đường buôn bán và mở
rộng thuộc địa. Trong khi các con tàu tung hoành khắp các biển, việc xuất hiện
các đầu máy hơi nước, đường ray đã làm phong phú thêm các loại hình giao
thông đường bộ.
Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cơ cấu thành phần du khách có nhiều
thay đổi. Du lịch không còn là một đặc quyền của tầng lớp quý tộc, tầng lớp trên
của xã hội nữa. Xu thế quần chúng hoá thành phần du khách trở nên phổ biến ở mọi nước. Và trong bối cảnh đó, du lịch đại chúng thời hiện đại đã tự khẳng
định mình. Lý do của hiện tượng này cũng là do mức sống của người dân được
nâng cao, giá cả dịch vụ và hàng hóa không đắt, các phương tiện giao thông, vận
tải lưu trú phong phú và thuận tiện. Ngoài ra còn phải kể đến chính sách của
chính quyền. Ở nhiều nơi, nhà nước có những chính sách khuyến khích người
dân đi du lịch do thấy rõ được ý nghĩa của hiện tượng này đối với sức khoẻ cộng
đồng. Ví dụ Chính phủ Nhật Bản đề ra chủ trương khuyến khích người dân đi du

khác đến đây vì cảnh quan hay vì muốn tìm hiểu một nền văn hoá phương Đông
đầy bản sắc và phần nào kỳ bí đối với họ. Những công trình kiến trúc tuy không
đồ sộ nhưng ẩn chứa một giá trị tinh thần to lớn, những phong tục tập quán khác
lạ luôn góp phần tạo nên những sản phẩm du lịch hấp dẫn.

Bảng1.1.Thay đổi thị phần khách du lịch
Khu vực Năm(Triệu) Dự báo(triệu) Tốc độ tăng
trưởng-(%)
Thị phần(%)
1995 2010 2020 1995-2020 1995 2020
Thế giới 565,4 1.006,4 1.561,1 4,1 100 100
Châu Âu 338,4 527,3 717,0 3,0 59,8 45,9
Đông Á/Thái
Bình Dương
81,4 195,2 397,2 6,5 14,4 25,4
Nam Á 4,2 10,6 18,8 6,2 0,7 1,2

Nguồn:WTO

Ở châu Á, khu vực các nước Đông Nam Á là một trong những khu vực có
hoạt động du lịch sôi động nhất. Nếu lấy tỷ lệ du khách trên đầu người dân thì
Singapore có tỷ lệ vào hàng thứ nhất trên thế giới: 3/1. Malaysia và Thái Lan
cũng được coi là những cường quốc du lịch đón du khách quốc tế trong khu vực.

Bảng.1.2. Hiện trạng khách du lịch quốc tế đến các nước Đông Nam Á
giai đoạn 1995-2002
Đơn vị tính:lượt khách

Brunei692.000

837.000850.000800.000

636.000984.093
1.116.925

Lào



260.000219.000287.000
262.997466.365
786.524

Mianma 117.000 172.000 189.000 201.000 199.000 270.000 217.212
Tổng 29.367.182 31.042.000 30.537.500 29.003.000 33.966.275 38.949.513 43.989.010
Nguồn:WTO,PATA,VNAT

1.2.4. Kéo dài thời vụ du lịch
Một trong những đặc điểm của hoạt động du lịch là mang tính thời vụ khá
rõ nét. Điều này có nghĩa là về bản chất, du lịch là một hoạt động bị lệ thuộc
nhiều vào thiên nhiên. Ngày nay với trình độ khoa học kỹ thuật và khả năng
kinh tế, con người đã và đang khắc phục được những hạn chế của thiên nhiên.
Do tính thời vụ là một yếu tố bất lợi trong kinh doanh cho nên người ta đã tìm

phong phú đa dạng các loại hình du lịch là những công viên, khu du lịch, khu
vui chơi giải trí phức hợp. . . Bất cứ hoạt động nào của du
lịch cũng có tác động hai chiều đến môi trường của nó. Cho nên trong hoạt động
du lịch cần có những quy hoạch hợp lý, chính sách và dự án tối ưu nhất nhằm
giảm thiểu tác động đến môi trường.
2.3.Môi trường du lịch tự nhiên
Là một bộ phận cấu thành nên môi trường du lịch nói chung, bao gồm tập
hợp các đối tượng tự nhiên sống (hữu cơ ) và không sống ( vô cơ ). Trong đó có
những đối tượng tự nhiên chưa bị con người con người tác động và cả những đối
tượng tự nhiên đã bị con người tác động, cải tạo ở những mức độ khác nhau,
song vẫn bảo tồn được một phần hoặc toàn bộ các đặc tính tự phục hồi và phát triển. Môi trường du lịch tự nhiên là toàn bộ không gian, lãnh thổ bao gồm các
nhân tố thiên nhiên như : đất, nước, không khí, hệ động vật trên cạn và dưới
nước… và các công trình kiến trúc cảnh quan thiên nhiên – nơi tiến hành các
hoạt động du lịch.
Môi trường du lịch tự nhiên được cấu thành một loạt các môi trường tự
nhiên bộ phận trong một hệ thống chung. Các môi trường bộ phận này tồn tại và
phát triển theo các quy luật của mình song có liên quan tác động mật thiết với
nhau bằng vô số các quan hệ nhiều chiều trong tương quan nhân quả và giải
quyết các mâu thuẫn về phát triển. Tuy nhiên vẫn đảm bảo bảo sự thống nhất nội
tại giữa các môi trường bộ phận trong một môi trường chung.
Môi trường tự nhiên có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển
và đa dạng hóa các hoạt động du lịch, tạo tiền đề cho sự phát triển các khu du
lịch. Ví dụ như các khu du lịch nổi tiếng như Phong Nha – Kẻ Bàng, Hạ Long,
Sa Pa, Đà Lạt … là những điểm du lịch dựa trên cơ sở môi trường tự nhiên với
những cảnh quan thiên nhiên đặc sắc. Bởi vì các thành phần cơ bản của môi
trường tự nhiên là những điều kiện cần thiết cho các hoạt động du lịch và có sức
hấp dẫn lớn đối với du khách, chính vì vậy mà “chúng”được trực tiếp khai thác

tự nhiên, ảnh hưởng đến đất đai,động thực vật và các quá trình hoạt động địa
mạo. Thông thường thì nững nơi có khí hậu và thời tiết đặc trưng,dễ chịu thì sẽ
có sức lôi cuốn du khách ở những nơi khác hơn là những nơi có thời tiết khắc
nghiệt. Nói chung thì mỗi loại hình du lịch khác nhau thường đòi hỏi những điều
kiện khí hậu khác nhau. Ví dụ như khách du lịch biển sẽ ưu thích nhưng điều
kiện khí hậu như: số giờ nắng trong ngày nhiều; không có mưa hoặc mưa ít
trong thời vụ du lịch; nhiệt độ của không khí trung bình; nhiệt độ nước biển từ
20 C đến 25 C. Không chỉ vậy, mà tổ hợp của sự thay đổi theo mùa rõ rệt của
các đới nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến sự phát triển và các hoạt động của ngành
du lịch. Sự thay dổi này sẽ quyết định tính đa dạng của các loại hình vui chơi
giải trí của khu du lịch. Trong việc đáp ứng các nhu cầu và thỏa mãn của du
khách thì khu du lịch có càng nhiều khả năng cung cấp các dịch vụ vui chơi giải trí đa dạng thì càng thu hút được nhiều du khách hơn. Ngoài ra điều kiện thời
tiết và khí hậu còn ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến du lịch hoặc các
hoạt động về du lịch. Những hiện tượng thời tiết khắc nghiệt như bão, lũ lụt, khô
hạn cũng gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động du lịch.
Một nhân tố cũng không kém phần quan trọng trong du lịch là chất lượng
không khí của khu du lịch. Môi trường không khí ảnh hưởng đến việc quy hoạch
các khu du lịch nghỉ dưỡng, đến tổ chức mùa vụ khai thác du lịch. Những biến
động của môi trường không khí như sự biến động về chế độ nhiệt,mưa,
ẩm,gió… gây ra nhiều biến động đến đời sống sản xuất của cả nhân loại trong
đó có cả hoạt động du lịch.
2.3.4.Môi trường nước:
Môi trường nước bao gồm nguồn nước mưa, nước mặt, nước ngầm. Trong
đó nguồn nước mặt có vai trò vô cùng quan trọng vì nó liên quan trực tiếp đến
việc phát triển giao thông vận chuyển của du khách bằng đường thủy,khả năng
cung cấp nước và chất lượng nước ( nước ngọt, nước biển, nước khoáng…)
phục vụ cho nhu cầu , sinh hoạt, vui chơi , giải trí và tắm biển, nghỉ dưỡng,chữa

Tai biến môi trường là các sự cố hay các rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động
của con người, hoặc do biến đổi bất thường của thiên nhiên, gây suy thoái môi
trường nghiêm trọng. ví dụ như :hạn hán, bão lụt, động đất…và các sự cố môi
trường do con người gây ra như: rò rỉ hóa chất độc hại, cháy nổ, sử dụng bom
nguyên tử….bất kỳ loại tai biến nào cũng có thể gây ra thiệt hại nghiêm trọng
cho du lịch nếu chúng làm thay đổi các điều kiên tự nhiên, xã hội và làm xáo
trộn các hoạt động du lịch. Ngoài ra, các tai biến môi trường xã hội, bắt nguồn
từ các xung đột trong xã hội như xung đột tôn giáo, xung đột giữa các sắc tộc,
giữa các quốc gia. Tai biến môi trường sẽ làm giảm chất lượng môi trường du
lịch, ảnh hưởng đến tính mạng du khách, tác động xấu đến tâm lý du khách, làm
cho họ cảm thấy bất an khi lưu lại điểm du lịch đó. Vì vậy, cùng với những biện
pháp và nỗ lực chung để hạn chế các tai biến môi trường như sự sẵng sàng trong
tình trạng đối phó với thiên tai, cũng cần có những nghiên cứu đánh giá và quan
trắc mang tính khoa học cao nhằm thành lập các bản đồ, sơ đồ phân vùng tai biến các nguy cơ, sự cố nhằm đảm bảo an toàn và hiệu quả trong các hoat động
phát triển du lịch. Ngoài ra còn cần phải xây dựng các hệ thống cảnh báo, dự
báo sớm các chỉ thị về tai biến để làm cho du khách thực sự an tâm. Hơn nữa,
phải luôn coi trọng các vấn đề liên quan đến an ninh và an toàn cho du khách
cũng như cho toàn xã hội.

tai biến) ở những mức độ và khía cạnh khác nhau sẽ có những ảnh hưởng trực
tiếp đến hoạt động phát triển du lịch.
2. Tác động của hoạt động du lịch đến môi trường tự nhiên
2.1Tác động tích cực
2.1.1.Tạo ra hiệu quả tốt đối với việc sử dụng hợp lý và bảo vệ tối ưu
tài nguyên và môi trường du lịch
Hoạt động du lịch tạo ra hiệu quả tốt đối với việc sử dụng hợp lý và bảo
vệ tối ưu các nguồn tài nguyên và môi trường du lịch góp phần tích cực vào việc bảo tồn các vườn quốc gia, các khu bảo tồn tự nhiên, các khu rừng văn hóa –
lịch sử - môi trường, tu bổ, bảo vệ hệ thống đền đài lịch sử, kiến trúc mỹ thuật.
Ở Việt Nam hiện nay đã xác định và đưa vào bảo vệ cấp độ quốc gia 105 khu
rừng đặc dụng ( trong đó có 16 vườn quốc gia, 55 khu bảo tồn tự nhiên và 34
khu rừng – văn hóa – lịch sử - môi trường.Tăng thêm mức độ đa dạng sinh học
tại những điểm du lịch nhờ những dự án có các công viên cảnh quan, khu nuôi
chim thú hoặc bảo tồn đa dạng sinh học thông qua nuôi trồng nhân tạo phục vụ
du lịch.
2.1.2.Gia tăng nhận thức đối với môi trường
Du lịch có khả năng làm tăng nhận thức của cộng đồng về môi trường khi
họ tiếp xúc gần gũi với thiên nhiên và môi trường. Sự tiếp xúc này khiến du
khách có thể nhận thức đầy đủ các giá trị của thiên nhiên và có những hành vi và
hoạt động có ý thức để bảo vệ môi trường.
Để phát triển bền vững trong một thời gian dài, du lịch phải kết hợp chặt
chẽ các nguyên tắc và các hoạt động tiêu dùng bền vững. Tiêu dùng bền vững là
tạo ra các sản phẩm tiêu dùng được sản xuất bằng công nghệ sạch, và các dịch
vụ, trong đó có dịch vụ du lịch được cung cấp theo phương pháp có thể giảm
thiểu tác động vào môi trường. Du lịch còn đóng vai trò quan trọng trong việc
cung cấp các thông tin môi trường và làm tăng nhận thức cho du khách về
những hậu quả môi trường do hoạt động của họ gây ra. Các định hướng cho

sách bảo vệ môi trường khác cũng đã ảnh hưởng tích cực đến khu du lịch này
như các chương trình bảo vệ các dãi phòng hộ ven biển và xử lý nước thải để sử
dụng tưới cây. Các đường lăn bóng của sân gôn được trồng bằng một loại cỏ lai
có thể tưới được bằng nước biển. Loại cỏ này chỉ cần một nửa lượng phân bón
và thuốc trừ sâu so với các loại cỏ thường dùng. Khu du lịch này được xây dựng
như một phòng thí nghiệm đa dạng sinh học của Đại học Cornell.
Du lịch cũng đã có những ảnh hưởng tích cực đối với những nỗ lực bảo vệ
và gìn giữ thiên nhiên, đáng chú ý là ở châu Phi, Nam Mỹ, châu Á, châu Úc và
Nam Thái Bình Dương. Trước nguy cơ nhiều loài động vật và thực vật đã trở nên tuyệt chủng hoặc có nguy cơ tuyệt chủng, nhiều nước đã thành lập các khu
bảo tồn thiên nhiên và ban hành luật nghiêm ngặt để bảo vệ các loài động vật có
thể thu hút du khách yêu chuộng thiên nhiên. Kết quả là nhiều loài có nguy cơ bị
đe doạ trước đây đã bắt đầu được khôi phục.

Khung 2.1. Du lịch góp phần bảo vệ môi trường ở Great Lakes
Những con khỉ núi Gorilla, một trong những loài khỉ bị đe doạ nhiều nhất thế
giới ở vùng Hồ Lớn (Great Lakes) của Uganda, châu Phi đóng một vai trò
quan trọng trong đời sống chính trị, kinh tế và sinh thái của vùng. Vùng cư
trú của loài khỉ này nằm ở biên giới phía Tây Bắc của Rwanda, phía Đông
nước Cộng hoà Dân chủ Công Gô và Đông Nam Uganda. Bất chấp 10 năm
khủng hoảng chính trị và chiến tranh dân sự trong vùng, nhu cầu thu nhập từ
du lịch liên quan đến loài khỉ này đã khiến các phe đối lập phải hợp tác với
nhau để bảo vệ những con khỉ và môi trường sống của chúng.
Giấy phép theo dõi khỉ Gorilla bao gồm cả lệ phí vào vườn trị giá
250USD, có nghĩa là chỉ với 3 nhóm khỉ được huấn luyện với tổng cộng 38
con có thể tạo ra hơn 3 triệu USD thu nhập/năm, tức là 1 con tạo ra gần
90.000 USD/năm cho Uganda. Nguồn thu nhập từ du lịch góp phần thúc đẩy
sự phát triển của đất nước, vùng và địa phương. Có được nguồn thu nhập từ

địa phương. Việc tăng cường sử dụng rừng một cách bền vững sẽ tạo ra
những thay đổi tích cực, giảm việc khai thác gỗ, săn bắn và buôn bán sinh
vật hoang dã.
(Nguồn: Chương trình bảo tồn Đười ươi Sumatra (UNEP, 2003) 2.1.4.Bổ sung vẻ đẹp cảnh quan cho khu vực phát triển du lịch
Du lịch góp phần tích cực tu sửa phát triển cảnh quan đô thị, cảnh quan tại
các điểm du lịch như tu sửa nhà cửa thành những cơ sở du lịch mới, cải thiện
môi trường cho cả du khách và cư dân địa phương bằng cách gia tăng phương
tiện vệ sinh công cộng, đường sá thông tin, năng lượng, nhà cửa xử lí rác và nước thải được cải thiện, dịch vụ môi trường được cung cấp. Hạn chế các lan
truyền ô nhiễm cục bộ trong khu dân cư nếu như các giải pháp hạ tầng, kỹ thuật
đồng bộ được áp dụng .
Đối với các làng chài ven biển trong khu vực được xác định phát triển
thành các khu du lịch biển.
Tăng hiệu quả sử dụng đất nhờ sử dụng quỹ đất còn trống chưa được sử
dụng hiệu quả. Giảm sức ép do khai thác tài nguyên quá mức từ các hoạt động
dân sinh kinh tế tại các khu vực phát triển du lịch nếu như các giải pháp kỹ thuật
trong cấp thoát nước được sử dụng.
2.2 . Tác động tiêu cực
Các tác động tiêu cực chủ yếu của du lịch đến môi trường là việc gây sức
ép lên môi trường, tài nguyên thiên nhiên, phá huỷ các hệ sinh thái.
Hình 2.1

2.2.1 Môi trường
Du lịch có thể gây ra các hình thức ô nhiễm môi trường giống như bất kỳ
các ngành công nghiệp khác như: khí thải, tiếng ồn, chất thải rắn, nước thải, dầu,

nhiều hơn. Những tác động này rõ ràng hoàn toàn là do hoạt động của khách du
lịch. Ví dụ như ở các nước rất nóng hay rất lạnh, các xe buýt chở du khách trong
các tour vẫn để động cơ nổ nhiều giờ trong khi du khách đã ra khỏi xe đi tham
quan vì họ muốn sau khi tham quan xong sẽ được vào trong một chiếc xe có
điều hoà không khí.

Trích đoạn Tài nguyên Hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường dul ịch
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status