Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường ở Việt nam - Pdf 32

BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN ĐỨC HÀ

PH¸T TRIÓN KINH TÕ G¾N VíI B¶O VÖ
M¤I TR¦êNG ë VIÖT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2015


BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN ĐỨC HÀ

PH¸T TRIÓN KINH TÕ G¾N VíI B¶O VÖ
M¤I TR¦êNG ë VIÖT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 62 30 01 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS, TS Nguyễn Minh Khải

HÀ NỘI - 2015



2.1. Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường xét trên một
số "mặt" cụ thể
2.2. Đánh giá khái quát về phát triển kinh tế và bảo vệ môi
trường ở Việt Nam giai đoạn 2001-2013
Chương 3 MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ NHỮNG
GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
GẮN VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2014-2020
3.1 Bối cảnh, mục tiêu và những quan điểm định hướng phát
triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường
3.2. Giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo phát triển kinh tế gắn với
bảo vệ môi trường ở Việt Nam giai đoạn 2014-2020
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

5
11

34
34
44
56
72
72
108

120

Tiêu chuẩn Việt Nam
Vệ sinh an toàn thực phẩm

Viết tắt
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:

BĐKH
BVMT
BVTV
CDCC
CDCCKT
CNMT
CNH, HĐH
ĐGTĐMT
KCN


Bảng 2.3

(giá 1994)
: Đánh giá chung về ô nhiễm của các ngành công

84

Bảng 2.4

nghiệp Việt Nam
: Chỉ tiêu thực tế sử dụng nước của một số ngành công

85

Bảng 2.5

nghiệp Việt Nam
: Chỉ tiêu thực tế tiêu hao năng lượng của một số

86

Bảng 2.6

ngành công nghiệp Việt Nam
: Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa và tốc độ tăng

88

Bảng 2.7

Kết cấu luận án gồm: mở đầu, tổng quan vấn đề nghiên cứu, 3 chương,
kết luận và kiến nghị; danh mục các công trình nghiên cứu khoa học của tác
giả đã được công bố có liên quan đến đề tài luận án; danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục. Tác giả tập trung nghiên cứu, luận giải một số lý luận về
phát triển kinh tế (PTKT), tăng trưởng kinh tế (TTKT), kinh tế bền vững, môi
trường, bảo vệ môi trường (BVMT); đánh giá thực trạng về gắn PTKT với
BVMT của Việt Nam; xác định yêu cầu và đề xuất một số giải pháp phát triển
kinh tế gắn với BVMT của Việt Nam hiện nay. Đây là công trình nghiên cứu
độc lập không trùng lặp với các công trình khoa học, luận văn đã công bố.
2. Lý do lựa chọn đề tài luận án
Sau gần 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn
về PTKT và phát triển xã hội. Đối với nước ta, PTKT có tầm quan trọng hàng
đầu không chỉ do điểm xuất phát thấp về kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ,
mà còn là để sớm đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển, chống
nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế và chỉ có tăng trưởng phát triển nhanh mới
tạo ra được những tiền đề, điều kiện để giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc
(tạo việc làm, tăng thu nhập của dân cư, giảm thất nghiệp, xóa đói giảm
nghèo, thực hiện an sinh xã hội, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường).
Nhờ có TTKT cao trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã thoát ra khỏi
khủng hoảng kinh tế kéo dài nhiều năm kể từ khi đất nước được hòa bình,


6
thống nhất. Năm 2010, Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng một nước kém phát
triển, trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình, quy mô của
nền kinh tế không ngừng được mở rộng, đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân được cải thiện và nâng cao một cách đáng kể, nền kinh tế Việt Nam
đã từng bước hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Tuy nhiên, nhìn một cách khách quan có thể thấy tốc độ tăng trưởng
của nền kinh tế chưa thật tương xứng với tiềm năng và cơ hội mà đất nước có

và tác động của ONMT đối với PTKT, Đảng và Nhà nước đã xác định muốn phát
triển nhanh, bền vững phải thường xuyên coi trọng và gắn kết chặt chẽ giữa PTKT
và BVMT. Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng nhấn mạnh: "Phát triển kinh tế xã hội (PTKT-XH) phải coi trọng bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, chủ
động đối phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) [32, tr.99] và "nâng cao ý thức
BVMT, gắn nhiệm vụ mục tiêu BVMT với PTKT-XH; chú trọng phát triển kinh
tế xanh, thân thiện với môi trường, thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững, từng
bước phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch" [32, tr.136-137].
Từ đường lối, chủ trương của Đảng và từ thực tiễn PTKT và giải quyết
vấn đề môi trường ở nước ta trong thời gian qua, cho thấy cần có một nghiên
cứu làm rõ sự gắn kết chặt chẽ giữa PTKT với BVMT để PTBV ở nước ta.
Với những lý do trên, tác giả chọn "Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ
môi trường ở Việt Nam" làm đề tài luận án tiến sĩ kinh tế, chuyên ngành
Kinh tế chính trị.
Nghiên cứu của luận án nhằm trả lời các câu hỏi:
- Mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa PTKT và BVMT ở Việt Nam
là như thế nào?
- Thực trạng PTKT gắn với BVMT ở Việt Nam ra sao?
- Những giải pháp nào để gắn kết giữa PTKT và BVMT ở Việt Nam?
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của PTKT gắn với BVMT trong quá
trình phát triển đất nước; trên cơ sở đó đề xuất, phương hướng và giải pháp cơ
bản nhằm gắn kết PTKT với BVMT góp phần bảo đảm PTBV ở Việt Nam.


8
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nêu trên, luận án có nhiệm vụ:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về PTKT, về môi trường và BVMT.
- Phân tích mối quan hệ, sự tác động qua lại giữa PTKT với môi trường và

và đưa ra các quan điểm, phương hướng và giải pháp cơ bản gắn kết PTKT với
BVMT để đảm bảo PTBV ở Việt Nam cho giai đoạn từ 2015-2020.
Bên cạnh đó, luận án cũng kết hợp nghiên cứu kinh nghiệm của một số
nước trên thế giới về PTBV, về BVMT, và về sự gắn kết giữa PTKT với bảo
vệ tài nguyên, môi trường trong quá trình phát triển nhằm rút ra bài học cho
Việt Nam.
- Tiếp cận hệ thống: Theo cách tiếp cận này, tác giả luận án sẽ làm rõ
các vấn đề PTKT và BVMT từ những khái niệm, tiêu chí, đến các yếu tố tác
động tới PTKT và BVMT, đặc biệt là các yếu tố xu hướng phát triển mới của
thế giới và biến đổi khí hậu, nước biển dâng; các chủ trương, chính sách
hướng tới PTKT xanh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.
- Tiếp cận định tính, định lượng và theo hướng bền vững:
Luận án sử dụng cách tiếp cận định tính và định lượng trong quá trình
thực hiện. Trong đó, tiếp cận định lượng dự kiến tập trung vào các nội dung:
(i) Đánh giá thực trạng PTKT Việt Nam giai đoạn 2001-2014 theo tiêu chí
đánh giá PTBV; (ii) Đánh giá vấn đề BVMT trong quá trình PTKT Việt Nam
trong giai đoạn 2001-2014, có tính tới tác động và hậu quả về môi trường do
hoạt động kinh tế mang lại.
Tiếp cận theo hướng bền vững có nghĩa là phải tính đến ràng buộc của
yêu cầu PTBV với yêu cầu đảm bảo sự hài hòa hợp lý giữa tăng trưởng,
PTKT, phát triển xã hội và BVMT.
5.3. Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu của Kinh tế chính trị đó là:
Trừu tượng hóa khoa học và các phương pháp cụ thể như: phân tích - tổng hợp,


10
kết hợp giữa lôgíc và lịch sử; thống kê - so sánh, xây dựng các bảng, biểu đồ, để
chứng minh các lập luận nêu ra; tổng kết thực tiễn quá trình PTKT và xử lý các

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
I. Các công trình nghiên cứu về tăng trưởng, phát triển kinh tế và
bảo vệ môi trường
Nghiên cứu về TTKT, PTKT và bảo vệ môi trường đã có nhiều nhà khoa
học, nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau.
1. Các tác giả nước ngoài nghiên cứu về tăng trưởng,
phát triển kinh tế
a. Hơn 200 năm trước, các nhà kinh tế chính trị tư sản cổ điển là
Adam Smith (1723-1790) và Đavid Ricardo (1772-1823) đã có những tác
phẩm nổi tiếng liên quan đến tăng trưởng và phát triển kinh tế
A.Smith là người đầu tiên có hệ thống lý luận TTKT lúc bấy giờ. Ông
nghiên cứu tính chất, nguyên nhân của TTKT và chỉ rõ: Lao động là nguồn gốc của
của cải xã hội, đồng thời ông coi sự gia tăng tư bản là yếu tố quyết định của TTKT
[2]. A.Smith chỉ rõ: TTKT là tăng sản lượng đầu ra bình quân đầu người hoặc tăng
sản phẩm của lao động. Đồng thời, ông khẳng định vai trò của phân công lao động
xã hội và tự do thương mại thế giới đối với TTKT của mỗi quốc gia. Ông nhấn
mạnh "chủ nghĩa tự do kinh tế mới đảm bảo thúc đẩy TTKT có hiệu quả". A.Smith
đã nhìn thấy động thái của TTKT là ở cả khu vực công nghiệp và nông nghiệp. Ông
cũng cho rằng điều kiện của TTKT là tăng đầu tư và giảm tiêu dùng.
D.Ricardo, nhà kinh tế học cổ điển xuất sắc nhất đã kế thừa các quan
điểm của A.Smith, năm 1817, ông đã xuất bản tác phẩm "Những nguyên lý
của kinh tế chính trị học và thuế khóa", trong đó, ông cho rằng: đất đai, lao
động, tư bản, tiến bộ kỹ thuật, môi trường là những nhân tố tác động đến
TTKT [38, tr.71]. Cũng giống như A.Smith, ông cho rằng các chính sách của
Chính phủ không có tác động quan trọng đến TTKT.
Mặc dù các lý thuyết về TTKT của trường phái kinh tế chính trị tư sản
cổ điển còn mang khá nhiều "định tính", nhưng những ý tưởng, khái niệm ban
đầu về TTKT đã đặt nền móng đầu tiên cho lý thuyết tăng trưởng và gây
nhiều ảnh hưởng đến thời đại, đặc biệt là các chính sách kinh tế của các nước



13
sở, là nền tảng để tăng trưởng và phát triển nhanh, tạo nhiều của cải cho xã hội.
C.Mác đã phân tích sâu sắc những tác dụng to lớn của máy móc đối với
sự PTKT-XH tư bản chủ nghĩa (TBCN) lúc bấy giờ:
Máy móc và đại công nghiệp cơ khí tạo khả năng to lớn cho việc rút
ngắn thời gian lao động, giảm nhẹ lao động, tăng thêm của cải của xã hội, cho
sự thắng lợi của con người đối với lực lượng tự nhiên.
Máy móc và đại công nghiệp cơ khí có tác dụng chủ yếu làm cho năng
suất lao động xã hội tăng vọt, xã hội hóa lao động và sản xuất ngày càng cao.
Mở rộng thị trường, hình thành thị trường thế giới, đẩy nhanh quá trình
quốc tế hóa sản xuất TBCN.
Thúc đẩy sự ra đời các trung tâm công nghiệp, những thành thị lớn, các
khu đô thị… đồng thời tạo ra những tiền đề vật chất cho xã hội mới…
Những nhân tố thúc đẩy PTKT là: sử dụng hiệu quả sức lao động và tư
bản (vốn), nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh - tỷ suất lợi nhuận, bằng
cách tăng tốc độ chu chuyển tư bản, tiết kiệm trong việc sử dụng tư bản bất
biến và tích lũy tư bản nhất là tích lũy tư bản cố định hay vốn vật chất (máy
móc, thiết bị, nhà xưởng…sẽ làm tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế và
thông qua đó mà tăng trưởng, phát triển nhanh. Đồng thời tích lũy vốn - đầu
tư, còn được coi là nguồn gốc của tiến bộ kỹ thuật và công nghệ [18,tr.6-8].
C.Mác, coi tích lũy tư bản là một yếu tố quy định sự phát triển của
phương thức sản xuất TBCN và quá trình phát triển TBCN cũng là quá trình
tăng cường tích lũy tư bản. Mác viết: "Phương thức sản xuất đặc thù TBCN
phát triển cùng với tích lũy tư bản và tích lũy tư bản lại phát triển cùng với
phương thức sản xuất đặc thù TBCN" [10, tr.880]. Tuy nhiên, khác với lý
thuyết của phái cổ điển là tích lũy trong quá trình tăng trưởng chỉ là "Tư bản
lưu động", lý thuyết tăng trưởng của C.Mác tập trung vào chủ nghĩa tư bản
công nghiệp và tích lũy tư bản cố định (thể hiện sự tiến bộ công nghệ). Có thể



15
nhằm thúc đẩy đầu tư, qua đó đẩy nhanh TTKT ở các nước đang phát triển.
d .Mô hình tăng trưởng của trường phái Tân cổ điển, điển hình là nhà
kinh tế lỗi lạc gốc Do thái Robert Solow. Mô hình tăng trưởng tân cổ điển do
Solow (1956) và Swam (1956) xây dựng được coi là mô hình TTKT chuẩn đầu
tiên. Các giả thiết cơ bản của mô hình này là lợi tức không thay đổi theo quy mô,
năng suất cận biên của vốn giảm dần, công nghệ sản xuất là ngoại sinh, vốn và
lao động có thể thay thế cho nhau, và không có một hàm độc lập. Nếu như mô
hình Harrod-Domar nguyên bản chỉ xét đến vai trò của vốn sản xuất (thông qua
tiết kiệm và đầu tư) đối với tăng trưởng, thì mô hình Solow đã đưa thêm nhân tố
lao động và kỹ thuật vào phương trình tăng trưởng. Mô hình này chỉ rõ tiết kiệm,
tăng dân số, tiến bộ công nghệ có ảnh hưởng như thế nào tới mức sản lượng và
tốc độ tăng trưởng của một nền kinh tế theo thời gian [33,tr.34].
Có thể thấy với mô hình Solow, lý thuyết TTKT đã phát triển lên một
bước mới, với việc phân tách tăng trưởng về mặt sản lượng thành: tăng trưởng
thông qua tăng các yếu tố đầu vào (lao động, vốn) và tăng trưởng thông qua
tăng năng suất (chẳng hạn công nghệ mới). Nhiều dự báo của mô hình tăng
trưởng tân cổ điển thực sự hợp lý ở các nước công nghiệp phát triển
[33,tr.35]. Tuy vậy, mô hình Solow không thực sự cho chúng ta biết cái gì
quyết định TTKT trong dài hạn, bởi yếu tố tiến bộ công nghệ có vai trò rất
lớn đến việc nâng cao hiệu quả lao động… thì lại được coi là yếu tố ngoại
sinh.
e. Khắc phục thiếu sót của mô hình Solow là nguyên nhân ra đời một
loạt mô hình tăng trưởng được gọi là các mô hình tăng trưởng "nội sinh", tức
là các mô hình tăng trưởng này cố gắng nội hóa sự tăng trưởng. Nếu như
trong mô hình tân cổ điển, tiết kiệm dẫn đến tăng trưởng tức thời, song lợi tức
giảm dần trên vốn đã buộc nền kinh tế đi trên con đường tăng trưởng trạng
thái dừng, thì ngược lại với mô hình tăng trưởng nội sinh, đầu tư có thể dẫn


17
đã làm tăng khả năng đầu tư, mở rộng thương mại quốc tế… đồng thời đưa ra
hàng loạt thay đổi về cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại.
Cùng với tăng trưởng, PTKT, đời sống nhân dân ở khu vực Đông Á
được nâng lên khá đồng đều. Trong vòng 25 năm, thu nhập bình quân đầu
người tăng gấp 4 lần, mức nghèo khổ giảm đi 2/3, tình hình y tế và giáo dục
được cải thiện đáng kể.
Rõ ràng là không chỉ khác Phương Tây về cách thức phát triển, mà trên
nhiều phương diện, các nước và vùng lãnh thổ Đông Á, có những nét đặc
trưng riêng. Dường như hiện tượng Đông Á có ý nghĩa "đối trọng", "đối lập"
với mô hình PTKT của Phương Tây hơn là áp dụng bổ sung mô hình đó.
Sự phát triển của Đông Á không thực hiện bằng cách từ bỏ hoàn toàn
truyền thống vốn có, thay thế bởi văn hóa phương Tây, mà trái lại. Đương
nhiên, có những nét văn hóa Đông Á cản trở hiện đại hóa, nhưng thực tế nơi
đây cho thấy, bên cạnh nhiều yếu tố văn hóa tiêu cực, níu kéo sự tiến bộ, vẫn
có các yếu tố văn hóa nổi trội thúc đẩy sự tiến bộ.
Trên cơ sở đặc thù văn hóa, rõ ràng "hiện tượng" Đông Á không phải là
mô hình có thể dễ dàng phổ cập nguyên si ra thế giới. Đây cũng chưa phải là
phát hiện ra con đường mới khả dĩ dẫn các nước đi lên. Đóng góp của mô
hình Đông Á chỉ là ở chỗ nó khẳng định tính phong phú, đa dạng của các mô
hình phát triển. Một trong những mô hình phát triển Đông Á được chú ý là
mô hình thay đổi cơ cấu của Harry.T.Oshima.
- Mô hình thay đổi cơ cấu của Harry.T.Oshima, nghiên cứu mới quan
hệ giữa 2 khu vực (nông nghiệp và công nghiệp). T.Oshima, nhà kinh tế học
Nhật bản đã dựa trên những đặc điểm khác biệt của các nước Châu Á so với
các nước Âu - Mỹ, đó là nền nông nghiệp lúa nước, có tính thời vụ cao. Vào
thời gian cao điểm của mùa vụ vẫn có hiện tượng thiếu lao động và lại dư
thừa lao động trong lúc nông nhàn.



19
- Với những nội dung cơ bản nêu trên, ngoài phần mở đầu, kết luận,
cuốn sách được kết cấu gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn TTKT và các mô hình tăng
trưởng kinh tế (MHTTKT), bao gồm các nội dung:
- TTKT.
- Các nhân tố tác động tời TTKT.
- Các lý thuyết và MHTTKT.
- Nghiên cứu thực nghiệm các nguồn TTKT.
Chương 2: Thực trạng tăng trưởng và chất lượng TTKT của Việt Nam
thời kỳ đổi mới.
Chương 3: TTKT cấp tỉnh/thành phố Việt Nam.
Chương 4: Phương hướng và giải pháp thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao
chất lượng TTKT ở nước ta.
Cuốn sách này không chỉ là một tài liệu chuyên khảo cho giảng viên,
nghiên cứu sinh và sinh viên ngành kinh tế mà còn là tài liệu bổ ích cho các
nhà nghiên cứu, nhà quản lý và hoạch định chính sách ở cấp vĩ mô.
(2). Nguyễn Kế Tuấn (CB, 2011), Kinh tế Việt Nam năm 2010. Nhìn lại mô
hình tăng trưởng giai đoạn 2001-2010, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội
Với mong muốn góp phần tổng kết tình hình PTKT và điều hành kinh
tế vĩ mô trong năm 2010 và tình hình thực hiện MHTTKT giai đoạn 20012010, nhóm giáo viên và cán bộ nghiên cứu của Trường Đại học kinh tế quốc
dân đã biên soạn cuốn sách này nhằm mục tiêu:
- Đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ TTKT và ổn định kinh tế vĩ
mô năm 2010.
- Đánh giá mô hình chiến lược TTKT thực hiện trong giai đoạn 20012010, xác định rõ giới hạn, bất cập của mô hình này dưới lăng kính yêu cầu
phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững.


20
- Đề xuất luận cứ khoa học xác định MHTTKT giai đoạn 2011-2020 và

MHTTKT mới trong giai đoạn 2011-2020 nhằm đưa nền kinh tế phát triển
nhanh và bền vững.
Để thực hiện nội dung nói trên, ngoài lời nói đầu, kết luận và phụ lục,
cuốn sách được kết cấu làm 4 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về MHTTKT, có 6 tiết:
1. Khái niệm tăng trưởng và PTKT
2. Khái niệm tốc độ và chất lượng tăng trưởng
3. Đo lường tốc độ và chất lượng TTKT
4. Các nhân tố tác động đến TTKT
5. Các lý thuyết và mô hình TTKT
6. Các mô hình TTKT thực nghiệm và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Chương II: MHTTKT của Việt Nam giai đoạn 1991-2010
1. Tốc độ TTKT và các nguồn lực TTKT của Việt Nam
2. Phân tích TTKT theo các yếu tố đầu ra
3. Phân tích tăng trưởng gắn với các yếu tố chất lượng
4. Phân tích tính bền vững của MHTTKT Việt Nam
Chương III: Ảnh hưởng của khủng hoảng suy thoái kinh tế toàn cầu năm
2008 đến nền kinh tế Việt Nam. Bài học từ các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới
Chương IV: MHTTKT Việt Nam thời kỳ hậu khủng hoảng
Chương này có 4 tiết:
1. Căn cứ khoa học xác định MHTTKT mới thời kỳ hậu khủng hoảng
2. Quan điểm về mô hình tăng trưởng
3. Mô hình tăng trưởng
4. Giải pháp thực hiện mô hình tăng trưởng giai đoạn 2011-2020
Ngoài ra còn có một số bài báo nghiên cứu về TTKT và PTKT dưới các
khí cạnh cụ thể: "Chất lượng tăng trưởng gắn với ổn định kinh tế vĩ mô" của
Nguyễn Quang Thái, năm 2013; "Chất lượng tăng trưởng ở Việt Nam. Thách


22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status