Luận văn: Phát triển công nghiệp và bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay pot - Pdf 11

1 Luận văn
Phát triển công nghiệp và
bảo vệ môi trường ở Việt
Nam hiện nay
2
LỜI MỞ ĐẦU

ông nghiệp phát triển đã đưa lại nhiều sản phẩm phục vụ cho con
người, nhưng đồng thời nó cũng đưa đến sự cạn kiệt tài nguyên thiên
nhiên và các chất thải có khả năng làm ô nhiễm môi trường. Công
nghiệp càng phát triển, sản phẩm thu được càng nhiều thì môi trường
cũng ngày càng bị suy thoái nghiêm trọng. Việt Nam còn là một nước
công nghiệp kém phát triển nhưng tốc độ phát triển ngày một nhanh
mạnh theo yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hóa đất
nước, vì vậy tình trạng ô nhiễm môi trường ở nhiều khu vực đã ở mức
báo động, đang đòi hỏi sự quan tâm đầy đủ về việc phòng ngừa và
giảm thiểu ô nhiễm môi trường tối đa trong công nghiệp.
Vốn có sự hứng thú trong việc tham khảo, tìm tòi, xem xét các vấn đề về
môi trường và ô nhiễm môi trường và là một sinh viên đang học tập, nghiên cứu
tại Khoa Quản trị kinh doanh Công nghiệp và Xây dựng cơ bản thuộc Trường
Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, em đã lựa chọn đề tài: “Phát triển công
nghiệp và bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay” cho bản đề án môn học
này. Với những kiến thức lý luận nắm bắt được qua các bài giảng của thầy giáo
trên lớp và các thông tin thực tế tìm hiểu từ tài liệu tham khảo, em xin trình bày
trước hết là một số vấn đề chung về sản xuất, môi trường và sự tác động của sản
xuất đến môi trường. Sau đó, tìm nguyên nhân và giải pháp cho sự nghiệp phát
triển công nghiệp ở nước ta gắn với bảo vệ môi trường. Đề án được kết cấu
thành hai phần:

lao động xã hội trên cơ sở của tiến bộ khoa học và công nghệ, trong nền
kinh tế quốc dân đã hình thành hệ thống các ngành công nghiệp:
4
 Khai thác tài nguyên khoáng sản, động, thực vật.
 Các ngành chế biến và sản xuất sản phẩm.
 Các ngành công nghiệp dịch vụ sửa chữa.

2. Môi trường tự nhiên và các chỉ tiêu phản ánh chất lượng môi trường tự
nhiên
2.1. Môi trường tự nhiên và các yếu tố hợp thành môi trường tự
nhiên
Môi trường tự nhiên là toàn bộ những hiện tượng sự vật và điều kiện tự
nhiên tồn tại trong mối quan hệ tương tác qua lại và gắn bó hữu cơ với nhau
trong một thể thống nhất, có liên quan và cần thiết cho sự tồn tại và phát
triển của con người. Đó là một hệ thống có cấu tạo phức tạp, gồm nhiều
phân hệ khác nhau của phần vỏ vũ trụ, phần dưới của tầng khí quyển và
tầng địa học.
Ngoài ra, cũng có thể hiểu môi trường tự nhiên là môi trường sống của
con người và xã hội loài người, là điều kiện đầu tiên, thường xuyên và tất
yếu của quá trình sản xuất ra của cải vật chất, là một trong những yếu tố cơ
bản nhất của tồn tại xã hội.
Con người cùng các yếu tố cấu thành cơ bản khác như đất đai, nước,
không khí, các loại động, thực vật, tài nguyên, khoáng sản; các nguồn lực tự
nhiên và các hiện tượng tự nhiên tạo thành một hệ thống luôn vận động,
biến đổi theo những qui luật tự nhiên .Giữa con người và môi trường có sự
gắn bó hữu cơ chặt chẽ với nhau. Con người là một bộ phận cấu thành quan
trọng và tích cực nhất, thường xuyên tác động đến sự vận động và phát triển
của môi trường. Con người không thể tồn tại thiếu môi trường và ngược lại,
môi trường ở trạng thái phát triển hiện đại, cũng không thể tồn tại và phát
triển nếu thiếu sự tác động có ý thức và sáng tạo của con người. Nhờ hoạt

không sớm thì muộn cũng sẽ làm giảm giá trị của những dịch vụ trong thời
6
gian sau đó. Vì vậy, bảo vệ môi trường không chỉ là vấn đề xã hội mà còn
là vấn đề kinh tế. Điều đó có nghĩa là, bảo vệ môi trường tự nhiên là điều
kiện khách quan, cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế trong
tương lai.
2.2. Đánh giá và những chỉ tiêu phản ánh chất lượng môi trường tự
nhiên
Hiệu quả của phương án bảo vệ môi trường được biểu hiện thông qua
mức tiết kiệm chi phí mà xã hội phải đầu tư cho hoạt động bảo vệ, duy trì
và tái sản xuất môi trường và các nguồn tài nguyên của môi trường tự nhiên,
nhằm bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng môi trường qui định.
Để đánh giá chất lượng môi trường và hiệu quả các phương án bảo vệ
môi trường, người ta dùng một hệ thống các chỉ tiêu:
 Mức tiềm năng của các nguồn tài nguyên và tình hình sử dụng
chúng.
 Sự thay đổi trữ lượng tài nguyên do phát triển công nghiệp.
 Mức ô nhiễm đất đai, nguồn nước, không khí, sự thay đổi trong thế
giới động, thực vật, trong đó có các tiêu thức cụ thể như:
 Ô nhiễm khoáng vật như phốt pho, chì
 Mức ô nhiễm không khí thông qua các chỉ số tăng của SO
2
, SO
3
,
CO
2
, NH
3


làm biến đổi môi trường. Mối quan hệ giữa sản xuất công nghiệp và môi
trường tự nhiên được biểu diễn theo sơ đồ tổng quát sau:
8

Các doanh nghiệp công nghiệp

Kỹ thuật công nghệ sử dụng

Môi trường tự nhiên

Sản xuất công nghiệp là quá trình biến đổi vật chất từ dạng tự nhiên
của nó thành dạng vật chất có giá trị sử dụng khác nhau, là các loại sản
phẩm đáp ứng nhu cầu của con người Nguồn tài nguyên khai thác được
trong môi trường tự nhiên sử dụng trong sản xuất được biến đổi thành sản
phẩm. Nhưng không phải tất cả các tài nguyên khai thác được, sản xuất
công nghiệp đều biến thành sản phẩm có ích cho tiêu dùng, mà một phần
quay trở lại tự nhiên dưới dạng chất thải công nghiệp. Ngoài ra các sản
phẩm do công nghiệp chế biến ra, sau một thời gian đưa vào tiêu dùng cũng
bị hư hỏng, mất dần giá trị sử dụng và quay trở lại tự nhiên dưới dạng chất
thải tiêu thụ. Như vậy, trong hệ thống “Sản xuất công nghiệp - Môi trường”,
những yếu tố đầu vào là tài nguyên của môi trường và các yếu tố đầu ra là
chất thải Toàn bộ chu trình biến đổi mà sản xuất công nghiệp tác động vào
môi trường có thể tóm tắt qua sơ đồ: Môi trường tài nguyên Sản xuất công nghiệp Chất thải công nghiệp 9
Sản phẩm có ích

1

Tốc độ khai thác, sử dụng các loại tài nguyên động, thực vật dùng cho
chế biến công nghiệp nhanh hơn rất nhiều lần khả năng tái sinh của thế giới
động, thực vật, đã làm giảm màu xanh trên trái đất. Tình trạng khai thác
rừng ồ ạt với qui mô, tốc độ lớn dùng cho công nghiệp chế biến gỗ, đã làm
giảm tài nguyên rừng nghiêm trọng. Diện tích rừng không ngừng bị thu hẹp.
Theo dự tính, cứ với tốc độ khai thác rừng như hiện nay, chỉ sang những
năm đầu của thế kỷ XXI, rừng của các nước đang phát triển sẽ không còn
nữa. Nhiều loài động, thực vật trên thế giới đã bị tuyệt chủng, khoảng 60
nghìn loài động, thực vật trên thế giới đang trong tình trạng suy thoái. Nhiều
nhà chuyên môn đã dự đoán rằng, trong vòng 20-30 năm tới, có khả năng
1/4 số loài sinh vật trên hành tinh chúng ta, nghĩa là khoảng 1 triệu loài bị
tuyệt chủng, trung bình mỗi ngày mất khoảng 100 loài. Điều này là nguy cơ
dẫn đến những hậu quả không thể lường trước được về sự thất thường của
khí hậu, với những thiên tai, bão lũ thường xuyên ở phạm vi rộng lớn và
sức tàn phá của nó lớn hơn trước kia rất nhiều.
Công nghiệp khai thác tài nguyên khoáng sản phát triển nhanh nhằm
đáp ứng nhu cầu của các ngành chế biến khác đã tác động trực tiếp to lớn
vào môi trường tự nhiên, phá huỷ bề mặt trái đất, làm thay đổi địa hình,
nhiều nguồn tài nguyên bị lãng phí. Công nghiệp chế biến với công nghệ
hiện đại còn sử dụng tài nguyên lãng phí rất nhiều. Một lượng chất thải lớn
hàng năm được công nghiệp thải ra, trở lại môi trường dưới các dạng lý,
hoá tính khác nhau, khả năng phân huỷ chậm chạp, thấp làm tăng độ ô
nhiễm môi trường. Công nghiệp hoá chất phát triển ngày một nhanh và các

1
“Cuộc vật lộn với vấn đề điện năng thế giới” trong “Thông tin chiến lược phát triển khoa
học kỹ thuật, kinh tế”, N
o

lãnh thổ, dẫn đến tình trạng tập trung quá mức công nghiệp vào từng vùng
làm tăng nồng độ chất thải công nghiệp, gây ô nhiễm nghiêm trọng cho
nhiều vùng rộng lớn. Trong khi về mặt kinh tế, nguyên tắc phân bố công
nghiệp gần các vùng nguyên liệu, thị trường tiêu thụ, thì yêu cầu bảo vệ môi
12
trường đòi hỏi có sự bố trí hợp lý, cách xa vùng dân cư và nguyên liệu để
tránh tập trung quá mức nguồn chất thải công nghiệp độc hại đến đơì sống
con người.
Khai thác và sử dụng tài nguyên chưa hợp lý, thậm chí khai thác bừa
bãi vì những lợi ích trước mắt mà không tính đến lợi ích lâu dài.
Lượng chất thải công nghiệp chưa được quan tâm xử lý tốt. Công nghệ
khai thác và xử lý chất thải còn nhiều hạn chế. Qui mô và tốc độ khai thác,
sử dụng các yếu tố của môi trường tăng rất nhanh, đặc biệt từ khi công
nghiệp hoá trở thành vấn đề toàn cầu. Lượng chất thải tăng lên đi liền với
quá trình tăng tốc độ sản xuất công nghiệp. Tốc độ tự phục hồi của tự nhiên
chậm hơn nhiều lần so với tốc độ khai thác, sử dụng tài nguyên của con
người gây ra những ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường như phá vỡ cân bắng
sinh thái, gây suy thoái và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Tóm lại ,vấn đề ô nhiễm môi trường đã và đang trở thành vấn đề toàn
cầu, không phải của riêng một quốc gia nào mà cũng không một quốc gia
nào có khả năng thực hiện bảo vệ môi trường thành công một cách biệt lập.

II. MỘT SỐ NỘI DUNG VÀ YÊU CẦU ĐỐI VỚI SẢN XUẤT VÀ PHÁT
TRIỂN SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP GẮN VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TỰ NHIÊN
1. Trong các chiến lược về phát triển công nghiệp và sản xuất công nghiệp,
đều phải có những biện pháp mang tính chiến lược về bảo vệ môi trường tự
nhiên
Trước hết, về chiến lược cơ cấu công nghiệp, khi xây dựng chiến lược
này, luôn phải tính đến những nhiệm vụ bảo vệ môi trường. Trong quá trình

sản xuất nào cũng phải tính đến, đó là nguồn tài nguyên thiên nhiên. Không
có một nhà doanh nghiệp sản xuất nào lại tiếp tục duy trì sản xuất khi đã
tiêu phí quá nhiều nguồn vốn so với thu nhập. Trên thực tế, nền sản xuất của
14
mỗi quốc gia cũng như toàn cầu trong thời gian qua đã “tiêu xài” quá phung
phí một nguồn vốn quan trọng vào bậc nhất - nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Trước một thực tế như vậy, cần phải xác định, nhận thức rõ và có những
việc làm cụ thể hướng tới một mục tiêu không chỉ trước mắt mà còn cho cả
tương lai lâu dài, đó là khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp
lý, đảm bảo không phá huỷ cân bằng sinh thái và cạn kiệt tài nguyên song
song với việc phát triển công nghiệp và sản xuất công nghiệp. Cần đẩy
nhanh công nghiệp hoá, phát triển kinh tế xã hội một cách cân đối với
những tài nguyên thiên nhiên sẵn có. Trong quá trình đẩy mạnh phát triển
công nghiệp, các nguồn tài nguyên thiên nhiên phải được khai thác một
cách hợp lý đồng thời tái tạo và giữ gìn chúng cho thế hệ sau, cụ thể là phải
thay thế phương thức sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo bề rộng sang bề
sâu, cố gắng sử dụng hết tối đa tính năng vốn có của nó để nền sản xuất xã
hội chỉ thải ra những chất mà môi trường tự nhiên có thể tiếp thu và xử lý.
3. Giảm chất thải độc hại ra môi trường và nâng cao năng lực trình độ xử lý
chất thải trong sản xuất công nghiệp
Xử lý chất thải là yêu cầu hết sức quan trọng nhằm giảm mức độ ô
nhiễm môi trường. Chất lượng môi trường tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn
đến sản xuất và đời sống của con người. Bằng con đường khoa học và kỹ
thuật công nghệ, con người đã khai thác, biến đổi môi trường tự nhiên, đã
tạo ra những mâu thuẫn sâu sắc giữa sản xuất xã hội và môi trường tự nhiên.
Ngày nay, cũng chỉ bằng con đường khoa học, kỹ thuật và công nghệ, con
người mới có thể quay về với cội nguồn của mình là tự nhiên, sống hài hoà
với với tự nhiên trong một môi trường mới, môi trường được quan tâm tới
chất lượng và giảm thiểu ô nhiễm. Bởi vậy, các biện pháp công nghệ để
giảm chất thải độc hại ra môi trường, nâng cao năng lực, trình độ xử lý chất

tiêu những hậu quả của nó. Vì vậy, có thể rút ra một kết luận đơn giản là,
đầu tư vào công nghệ, nâng cao năng lực, trình độ xử lý chất thải công
nghiệp, giảm thiểu chất thải ra môi trường, trong hầu hết các trường hợp
đều mang lại lợi ích kinh tế to lớn, đồng thời cải thiện và nâng cao chất
lượng môi trường, đảm bảo những điều kiện tốt cho đời sống và sản xuất
công nghiệp.
16
Trên đây là một số lý luận chung về sản xuất, môi trường và sự tác
động của sản xuất công nghiệp tới môi trường. Để áp dụng những lý luận
này trước thực trạng, tình hình suy giảm chất lượng môi trường tự nhiên
nước ta bởi hoạt động sản xuất công nghiệp, chúng ta cùng chuyển sang
phần hai của bài viết.

Chương hai
THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA SẢN XUẤT CÔNG
NGHIỆP TỚI CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN NƯỚC TA I. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - KỸ THUẬT CỦA SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP
Ở NƯỚC TA LIÊN QUAN TỚI VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT
GẮN VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Sau một thời gian dài bị chiến tranh tàn phá với nhiều hậu quả nặng nề,
từ cuối thập kỷ 80, Việt Nam đã đi vào đổi mới sự nghiệp kinh tế. Tuy đã
có những bước chuyển biến ban đầu nhưng nhìn chung, nền kinh tế vẫn còn
là kinh tế nông nghiệp lạc hậu, kém phát triển và thuộc diện nước nghèo của
thế giới.
Về công nghiệp, trong thời gian đầu xây dựng (trong những năm 60-

nhóm sản xuất công nghiệp khác nhau khiến mức độ ô nhiễm càng thêm
nặng nề. Tình trạng ô nhiễm môi trường do sản xuất công nghiệp đặc biệt
nghiêm trọng ở một số khu đô thị, khu công nghiệp tập trung. Cùng với sự
18
phát triển của xã hội, trong cơ chế thị trường thời mở cửa, nền công nghiệp
Việt Nam đang đứng trước nhiều biến đổi và thách thức, mà thách thức lớn
nhất là vấn đề gắn phát triển sản xuất công nghiệp với bảo vệ môi trường tự
nhiên.

II. THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP TỚI
CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG
1. Những biểu hiện chủ yếu của phát triển sản xuất dẫn tới giảm sút chất
lượng môi trường
Nền công nghiệp Việt Nam nhìn chung còn nhỏ bé. Tuy nhiên, trong
nhiều năm đổi mới, phấn đấu vươn lên gần đây, chúng ta cũng đã dần dần
hình thành được một nền công nghiệp bao gồm nhiều ngành nghề, đã hình
thành nhiều khu công nghiệp tập trung song song với sự phát triển của các
thành phố lớn. Đây là một kết quả đáng khích lệ để nền công nghiệp nước
nhà ngày càng vững bước đi lên, đạt được nhiều bước tiến to lớn, có ý nghĩa
trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà Đảng và Nhà nước đã đề
ra. Song, điều này cũng tất yếu đi kèm với nó là những tác động xấu tới môi
trường tự nhiên mà những giải pháp để phòng chống cũng như khắc phục,
chúng ta còn đang thiếu về số lượng, yếu về chất lượng. Sự giảm sút về chất
lượng môi trường do các hoạt động sản xuất công nghiệp gây ra có thể dễ
nhận thấy thông qua hiện trạng công nghiệp và tình hình ô nhiễm ở một số
ngành công nghiệp chính của nước ta như sau:
* Ngành công nghiệp năng lượng:
Đầu những năm 90, ngành công nghiệp năng lượng của Việt Nam đã
đạt khoảng 9,279.10
9

vượt quá tới 5 lần tiêu chuẩn cho phép. Hàm lượng SiO
2
có trong
bụi chiếm đến 16-30%, 85% công nhân mỏ bị bệnh “bụi phổi”.
Hiện nay, muốn khai thác 10 triệu tấn than, phải bốc xúc ít nhất
50.10
6
m
3
đất đá, hàng ngàn hecta đất với hàng tỷ mét khối đất đá
thải trơ trụi không những chưa được xử lý mà còn tiếp tục gia tăng.
Các bãi thải của khu công nghiệp than đá đã phá đi sự cân bằng
sinh thái vốn có ở vùng Đông Bắc của Tổ quốc. Nhiều sông suối bị
đất đá bồi lấp, nhiều cánh rừng bị chặt phá, lấy gỗ làm cột chống
lò Tình trạng ô nhiễm môi trường ở một số nơi như vùng mỏ
Quảng Ninh, vịnh Hạ Long đang tăng rất nhanh.
2

 Apatít: Khu vực Lào Cai hàng năm khai thác 300000 tấn, công
nghệ áp dụng còn lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường đáng kể.

2
“Tác động của môi trường sinh thái tới quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta”,
Nguyễn Hoàng Giáp - Hoài Anh, Tạp chí Hoạt động khoa học số 2/2001
20
 Dầu khí: Tập trung chủ yếu ở vùng thềm lục địa phía Nam, năm
1992 đạt 5,5 triệu tấn dầu thô. Bước đầu cũng đã xảy ra sự dò chảy
dầu ô nhiễm biển. Việc gây ô nhiễm này đã tạo ra tác hại không
nhỏ đến sinh thái biển, làm giảm chất lượng phục vụ sinh hoạt của
con người, làm giảm, thậm chí mất hẳn nguồn thu từ khách du lịch

4
trong đó, 180000 tấn đi
từ nguyên liệu pyrit. Tất cả đều dùng xúc tác một lớp, hiệu suất chuyển hoá
thấy và lượng chất thải cao. Hàng năm, thải 4347 tấn SO
2
, riêng Lâm Thao
thải 2000 tấn H
2
SO
4
ra sông Hồng và khoảng 80000 tấn xỉ pyrit.
HCl khoảng 10000 tấn, một bộ phận lớn thải ra sông vì chưa có cơ sở
sử dụng hết.
21
NaOH khoảng 8000 tấn/năm, phần lớn được dùng cho công nghiệp
giấy.
Phân bón supe phốt phát 600000 tấn/năm (theo thiết kế).
Phân lân nung chảy 180000 tấn/năm, đồng thời cũng thải ra một lượng
Fluo tương đương 11745 tấn Na
2
SiF
6
, phần chủ yếu hiện nay Fluo được thải
ra không khí.
Phân đạm trung bình hàng năm 90000 tấn urê, theo công nghệ sử dụng
than antraxit, khí hoá ở áp suất thường trong lò vỉ cố định. Hiệu suất thu hồi
thấp, ô nhiễm nguồn nước là chính, gồm: xyanua, arsen, phốt pho, phenol,
dầu goudron ở khâu làm sạch khí than.
Hiện tại, mức ô nhiễm môi trường do ngành công nghiệp hoá chất và
phân bón gây ra là rất cao. Vùng phụ cận của Lâm Thao, đồng ruộng, cây

vượt quá mức cho phép nhiều lần.
 Ngành giấy có khoảng 90 nhà máy sản xuất đang hoạt động. Trong
công nghiệp sản xuất giấy, ngay cả những xí nghiệp lớn, được trang
bị công nghệ trong giai đoạn 1975-1980 như Bãi Bằng, Cogido,
Tân Mai cũng đã thải xuống sông một lượng độc tố (Lignin) có hàm
lượng rất cao (20000-27000 mg/l) và thải vào khí quyển các chất
H
2
, H
2
S, SO
2
, bụi Na
2
SO
4
, Na
2
CO
3
CH
3
CH (methyl vertan),
CH
3
SCH
3
(dimethyl simlit) với hàm lượng lớn hơn nhiều lần mức
cho phép, gây nguy hại cho sức khoẻ cộng đồng.
3

Về đường, hơn 10 nhà máy đường do Trung ương quản lý với năng
suất 1025 tấn/ngày (mới sử dụng 50% công suất)
Về bia, khoảng vài triệu lít/năm, các cơ sở sản xuất thịt và hải sản hiện
nay sản xuất được khoảng 60 000 tấn/năm.
Hầu hết theo công nghệ cũ (trừ ngành bia). Phần thải của ngành này
chủ yếu là các phụ phẩm thực phẩm giàu đường, tinh bột, protit Các nhà
máy đường có đặc điểm là COD của nước thải rất lớn 140000-170000 mg/l
do hàm lượng đường còn lại sau khi ly tâm. Các chất thải này tiếp tục phân
huỷ sau khi ra khỏi nhà máy, tạo ra sự “ô nhiễm chậm”. Đặc biệt trong hoàn
cảnh nhà máy thực phẩm nằm cạnh nhà máy sản xuất hoá chất. Các chất
thải của chúng có khả năng phát triển tạo ra các sản phẩm mới như các hợp
chất Clo hữu cơ có mức độ gây độc cao. Trong điều kiện nhiệt đới và ẩm,
các nguồn thải thực phẩm dẫn dễ dẫn đến những ổ dịch bệnh lớn.
Tóm lại, không một ngành sản xuất công nghiệp, một xí nghiệp công
nghiệp nào mà trong quá trình hoạt động, phát triển của nó không gây tác
động tiêu cực đến môi trường.
2. Những nguyên nhân của các tác động tiêu cực đó:
24
Từ tình hình thực trạng ô nhiễm môi trường tự nhiên ở nước ta do tác
động của sản xuất và phát triển sản xuất công nghiệp, có thể rút ra mấy
nhận xét sau:
 Tổng lượng chất thải độc hại dưới các dạng rắn, lỏng và khí do nền
công nghiệp nước ta thải ra là chưa lớn, việc đóng góp vào phần ô
nhiễm chung của thế giới còn thấp so với các nước phát triển.
 Vấn đề ô nhiễm ở các khu vực công nghiệp và vùng phụ cận nhà
máy là nghiiêm trọng, đặc biệt tại các thành phố lớn như thành phố
Hồ Chí Minh và Hà Nội (mức độ ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép
từ 3-15 lần).
 Nguồn ô nhiễm chính là các xí nghiệp hoá chất, phân bón, dệt, giấy
và chế biến thực phẩm. Thêm nữa, là tại các thành phố lớn mật độ

trường trong công nghiệp. Do hoàn cảnh dân trí còn thấp, luật pháp
và các qui định về môi trường chưa hoàn chỉnh.
4) Đối với các thành phố, do tốc độ đô thị hoá cao, công nghiệp phát
triển manh, đặc biệt là sự phát triển nhanh của các doanh nghiệp
công nghiệ, cơ sở sản xuất tư nhân mà Nhà nước khó kiểm soát về
mặt vệ sinh môi trường với một cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn.

Trích đoạn Củng cố và hoàn thiện hệ thống tổ chức bảo vệ môi trường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status