LUẬN VĂN:
Giải pháp phát triển du lịch trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn ở Hà Nội Mở Đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xã hội hiện đại, du lịch trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời
sống văn hóa - xã hội. Du lịch được xem là một trong những ngành kinh tế quan trọng
hàng đầu vì những lợi ích to lớn về kinh tế - xã hội mà nó đem lại. Nhiều quốc gia trong đó
có Việt Nam đã coi phát triển du lịch là một chiến lược quan trọng để phát triển đất nước và
hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Là một ngành kinh tế quan trọng của Hà Nội, du lịch đã có bước phát triển mạnh
và đạt được nhiều thành tựu to lớn trên nhiều mặt: hệ thống khách sạn nhà hàng có quy mô
dẫn đầu cả nước, vận chuyển khách du lịch tăng nhanh về số lượng, đổi mới về chất lượng,
kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch đã phát triển mạnh, đặc biệt là giao thông vận tải, bưu
trong tình hình mới, của TS. Nguyễn Quang Lân - nguyên Giám đốc Sở Du lịch Hà Nội.
Mở rộng thị phần lữ hành của Công ty Thương mại Dịch vụ Du lịch Tân Định -
thực trạng và giải pháp, của tác giả Nguyễn Việt Hưng, luận văn thạc sĩ, Học viện Chính
trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2005.
Tuy đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về du lịch Hà Nội, song nghiên
cứu một cách hệ thống, toàn diện và dưới góc độ quản lý kinh tế sau khi nước ta chính
thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thì gần như
chưa có công trình nào. Do vậy, yêu cầu đặt ra là phải tăng cường nghiên cứu đề tài này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn để đề xuất những giải pháp
chủ yếu nhằm phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Thủ đô.
Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn đặt ra là:
- Làm rõ cơ sở lý luận về du lịch và phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi
nhọn.
- Đánh giá thực trạng ngành du lịch Hà Nội.
- Đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch Thủ đô trở thành ngành kinh tế mũi
nhọn trên địa bàn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu là phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, trong
đó bao gồm cả phát triển cơ sở hạ tầng du lịch và dịch vụ du lịch.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chủ yếu tập trung làm rõ ngành du lịch như một bộ
phận kinh tế trên địa bàn Thủ đô. Việc phân tích thực trạng ngành du lịch chủ yếu từ năm
1995 đến nay, các giải pháp định hướng, đổi mới cho giai đoạn 2007 - 2012.
5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Đề tài vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ
nghĩa Mác - Lênin; trên cơ sở quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước.
Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài dựa trên các phương pháp chuyên ngành như: phương
pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp toán học, phương pháp thống kê, phương pháp xã hội
học. Trong đó, một số phương pháp cụ thể được chú trọng vận dụng trong quá trình nghiên
vòng quanh thành phố. Trong tiếng Pháp, "tour" là danh từ có nghĩa là vòng (chuyển
động).
Trong tiếng Việt, "du lịch" là từ ghép: "du" là đi chơi, đi dạo và "lịch" là lịch lãm,
từng trải, hiểu biết. Du lịch là biểu thị việc đi chơi của khách, nhằm tăng thêm hiểu biết,
tích lũy kiến thức.
Trên thế giới, trước thế kỷ XIX, du lịch chỉ là hiện tượng đơn lẻ của một số ít
người thuộc tầng lớp giàu có và người ta coi du lịch như một hiện tượng nhân văn, làm
phong phú thêm nhận thức của con người. Sau đại chiến thế giới lần thứ II, khi dòng người
đi du lịch ngày càng tăng thì việc giải quyết những nhu cầu về nơi ăn, chốn ở, phương tiện
vận chuyển, vui chơi giải trí v.v , cho du khách đã trở thành cơ hội kinh doanh cho các
doanh nghiệp. Lúc này, du lịch không chỉ là hiện tượng nhân văn mà còn là một hoạt động
kinh tế. Vì vậy, người ta cho rằng: du lịch là toàn bộ những hoạt động và công việc phối
hợp, kết hợp nhằm thỏa mãn những yêu cầu của khách du lịch. Giáo sư Edmod Picasa
(người Bỉ) cho rằng: "Du lịch là tập hợp các tổ chức và các chức năng của nó, không chỉ
về phương diện khách vãng lai mà cái chính là phương diện về giá trị mà khách du lịch
mang lại".
Khi du lịch càng phát triển, các hoạt động kinh doanh du lịch càng gắn bó và phối
hợp với nhau tạo thành một hệ thống rộng lớn và chặt chẽ. Lúc này, du lịch được coi là một
ngành chuyển các nguồn nhân lực, vốn, nguyên liệu, vật liệu thành những sản phẩm dịch vụ
đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.
Hai nhà kinh tế Thụy Sĩ là Claude Kaspa và S.A.Gallen (1971) đã viết: "Du lịch là
tổng hợp những mối quan hệ và những hoạt động tạo ra do sự di chuyển và dừng lại của
những người mà vị trí của nơi dừng không phải là nơi cư trú và cũng không phải là nơi
hành nghề của chính họ" [44].
Như vậy, các tác giả trên đã đưa ra định nghĩa du lịch theo nghĩa rộng. Theo đó,
du lịch không chỉ liên quan đến khách du lịch, mà còn đề cập đến các hoạt động sản xuất,
kinh doanh của các cơ sở và cá nhân phục vụ cho các nhu cầu của khách du lịch tại nơi mà
khách đi qua và ở lại. Các hoạt động này bao gồm: ăn, ở, vận chuyển, vui chơi giải trí,
hướng dẫn tham quan v.v
Hình 1.1. Các loại hình dịch vụ du lịch
Nguồn: Tổng cục Du lịch Việt Nam.
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng của
ngành du lịch thế giới, các nhà khoa học nghiên cứu về du lịch không ngừng đi sâu và đã
đưa ra rất nhiều các quan điểm có tính chất gợi mở. Các học giả người Mỹ như Mathieson
và Wall cho rằng:
Các loại hình
dịch vụ
mua sắm
- Hàng lưu
niệm
- Quà tặng
- Đồ thể
thao
- Hàng hoá
khác
lưu trú,
ăn uống
- Đường
thủy
- Đường
khôngDu lịch là ngành có hàng loạt mối liên quan lẫn nhau để phục vụ khách
du lịch trong và ngoài nước. Du lịch liên quan đến du khách, hình thức lữ hành,
cung cấp ăn, ở, thiết bị và các vật dụng khác, nó cấu thành một khái niệm tổng
hợp không ngừng biến đổi theo thời gian và hoàn cảnh, một khái niệm đang
hình thành và đang thống nhất [7].
Một học giả Mêhicô trong cuốn "Ngành du lịch là một giao lưu của loài người" cho
rằng: "Ngành du lịch có thể được xem là tổng hợp các mối quan hệ được hình thành nên nhằm
cung cấp dịch vụ và các tiện lợi khác cho khách du lịch".
Các khái niệm và định nghĩa về ngành du lịch trên đây tuy không thật giống nhau
nhưng đều có hai điểm tương đồng. Thứ nhất, ngành du lịch là một ngành kinh tế có tính
tổng hợp do hàng loạt ngành liên quan hợp thành; Thứ hai, nhiệm vụ của ngành du lịch là
cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho khách du lịch. Điều 1 Pháp lệnh Du lịch đã chỉ rõ:
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung sâu
sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao; phát triển du lịch nhằm
đáp ứng nhu cầu thăm quan giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân và du khách
quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế xã hội đất
nước [40].
Dựa vào cách xác định trên có thể hiểu du lịch là ngành kinh tế có tính tổng hợp,
lấy khách du lịch làm đối tượng, cung cấp sản phẩm, dịch vụ du lịch cần thiết cho khách
du lịch.
Cách hiểu này đã một phần lý giải tại sao đối với nhiều quốc gia, trong bảng phân
ngành của nền kinh tế quốc dân đã xếp du lịch là ngành dịch vụ. Hoạt động kinh doanh du
lịch chủ yếu là các dịch vụ, nhằm trợ giúp cho con người trong quá trình đi thăm quan, du
lịch như dịch vụ vận chuyển, dịch vụ hướng dẫn, dịch vụ làm các thủ tục hải quan liên
- Kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch.
- Kinh doanh dịch vụ ăn uống.
- Kinh doanh các dịch vụ bổ sung.
- Kinh doanh vận chuyển khách du lịch.
1.1.2. Vai trò của du lịch đối với phát triển kinh tế - xã hội
1.1.2.1. Vai trò về mặt kinh tế
Ngành du lịch được các nước trên thế giới coi là ngành công nghiệp không khói, là
"con gà đẻ trứng vàng", tức là ngành thu hồi vốn nhanh, tạo nhiều công ăn việc làm, bán hàng
tiếp thị xuất khẩu, tăng nguồn thu ngoại tệ, ngoại giao và các quan hệ khác. Ngành công
nghiệp du lịch được các nước trên thế giới thừa nhận là một ngành kinh doanh có lợi
nhuận và phát triển với nhịp tăng trưởng cao, là nguồn đóng góp chủ yếu cho kinh tế - xã
hội. Theo tính toán của Hội đồng Du lịch lữ hành thế giới (WTTC), thu nhập của du lịch
bao gồm cả du lịch quốc tế và du lịch nội địa năm 2005 là 6,2 nghìn tỷ USD, tăng 5,4% so với
năm trước, chiếm 3,8% GDP của thế giới. Nếu tính cả những đóng góp trực tiếp và gián
tiếp thì ngành du lịch chiếm 10,6% GDP toàn thế giới. Hàng năm, ngành này tạo ra 74,2
triệu việc làm, chiếm 2,8% lao động trên toàn cầu [41].
Giá trị của du lịch còn biểu hiện ở chỗ nó là ngành thu ngoại tệ, là ngành xuất
khẩu tại chỗ. ở rất nhiều quốc gia, du lịch là dịch vụ xuất khẩu chủ yếu và trở thành động
lực chủ yếu để phát triển kinh tế. Theo Hiệp hội Du lịch châu á - Thái Bình Dương
(PATA), hàng năm khách du lịch đem lại thu nhập cho khu vực châu á - Thái Bình Dương
khoảng 35 tỷ USD. Trong 3 năm tới, toàn bộ khu vực này sẽ thu được khoảng 110 tỷ USD
từ hoạt động du lịch, trong đó Trung Quốc dự kiến đạt 36 tỷ USD, Thái Lan 13 tỷ USD,
Malaysia 11 tỷ USD và Hàn Quốc khoảng 7 tỷ USD.
ở Mỹ, hoạt động du lịch được coi là động lực kinh tế xuất khẩu. Hàng năm, có trên
46 triệu lượt khách đến nước này, chiếm 6% thị phần khách du lịch thế giới và mang lại
hơn 75 tỷ USD hàng năm [41].
Thực tiễn cho thấy, khách du lịch tiêu thụ một khối lượng lớn nông sản thực phẩm
dưới dạng các món ăn, đồ uống, mua sắm hàng hóa, sản phẩm thủ công mỹ nghệ Nhờ
vậy, các địa phương hoặc quốc gia thông qua hoạt động du lịch thu được ngoại tệ tại chỗ
1.1.2.2. Về mặt xã hội
Trong thời đại hiện nay, việc làm cho người lao động là vấn đề bức xúc nhất của
các quốc gia. Du lịch phát triển tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần đáng
kể giảm tỷ lệ thất nghiệp, thu hút một số lượng lao động rất lớn, nâng cao mức sống của
người dân. Đối với nhiều người, du lịch được nhìn nhận như một nghề kinh doanh béo bở,
dễ làm. Vì vậy, xu hướng chuyển đổi hay chuyển hướng sang kinh doanh du lịch là một
động cơ tốt để mọi người trau dồi, bổ sung các kiến thức cần thiết như ngoại ngữ, giao
tiếp, văn hóa, lịch sử v.v
Theo tính toán của các chuyên gia du lịch, cứ một việc làm trực tiếp trong ngành
du lịch sẽ tạo ra từ 1,3 - 3,3 việc làm của ngành khác. Theo cách tính toán này, lao động
trực tiếp, lao động gián tiếp phục vụ cho ngành du lịch chiếm khoảng 10,7% tổng số lao
động của toàn thế giới. ở Việt Nam năm 2006 có khoảng 70 vạn lao động du lịch (lao động
làm việc trực tiếp và lao động gián tiếp) và hàng năm du lịch cần có thêm 25.000 lao động
mới và cần phải bồi dưỡng, đào tạo lại số lượng lao động tương đương [27, tr. 19]. Phát
triển du lịch góp phần ngăn cản luồng di dân tự do từ nông thôn lên thành phố vì du lịch đã
tạo điều kiện để người nông dân kiếm được việc làm ngay trên quê hương của mình bằng
các nghề chăn nuôi, trồng trọt, làm các mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống phục vụ
khách du lịch.
Phát triển du lịch góp phần nâng cao dân trí, làm phong phú thêm nhận thức, đời
sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đồng thời góp phần mở rộng và củng cố mối quan hệ
hợp tác, ngoại giao, giao lưu kinh tế, văn hóa khoa học, kỹ thuật, tạo mối quan hệ thân
thiện, hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, giữa các quốc gia. Phát triển du lịch sẽ góp phần
xóa đói giảm nghèo, sẽ làm thay đổi diện mạo của một vùng, của một quốc gia ngày càng
văn minh hơn, tốt đẹp hơn.
Tuy nhiên, hậu quả đầu tiên về mặt xã hội khi phát triển du lịch có thể làm phát
sinh và gia tăng các tệ nạn xã hội như mại dâm, cờ bạc, ma túy. Thậm chí ở một số nước còn
tổ chức nhiều nhà chứa phục vụ khách, nguy hiểm hơn, giờ đây còn xuất hiện ngày càng
gia tăng tình dục trẻ em. Nhiều khách sạn núp dưới chiêu bài dancing, karaoke, cắt tóc thư
giãn, để tổ chức mại dâm.
khác thông qua khách du lịch trong đó có cả những văn hóa, lối sống trái với thuần phong
mỹ tục, làm xói mòn hoặc mất đi bản sắc văn hóa địa phương, dân tộc.
1.1.2.4. Về môi trường
Phát triển du lịch có tác dụng thúc đẩy cải tạo môi trường, làm cho cảnh quan, môi
trường sinh thái xanh, sạch, đẹp hơn. Mặt khác, phát triển du lịch là động lực thúc đẩy xây
dựng các cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu rừng
quốc gia, các sân chim Là điều kiện tốt để bảo vệ các loài động, thực vật quí hiếm, bảo
vệ môi trường.
Bên cạnh những mặt tích cực, phát triển du lịch có nguy cơ làm hủy hoại, phá vỡ
hệ sinh thái môi trường, làm ô nhiễm nguồn nước, tàn phá các danh lam thắng cảnh, làm
cạn kiệt dần nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Du lịch là ngành hoạt động đòi hỏi môi trường và khoảng không rất lớn, là yếu tố
nội tại của ngành du lịch. Văn hóa và môi trường là nguyên liệu thô của ngành công
nghiệp du lịch. Vấn đề đặt ra cho người lãnh đạo, người quản lý, người kinh doanh là phải
có chiến lược phát triển du lịch đúng đắn để phát huy mạnh mẽ những thế mạnh và hạn chế
đến mức tối đa những mặt tiêu cực do phát triển du lịch đem lại. Đồng thời, đây cũng là
trách nhiệm mỗi người dân, là trách nhiệm chung của toàn xã hội.
1.1.3. Các nhân tố tác động đến phát triển ngành du lịch thành ngành kinh tế
mũi nhọn
1.1.3.1. Các nguồn lực về du lịch
Các nguồn lực du lịch là những tác nhân rất quan trọng tác động mạnh đến phát
triển du lịch. Có nhiều nguồn lực du lịch, dưới đây là một số nguồn lực du lịch chủ yếu.
Một là, nguồn lực thiên nhiên. Nguồn lực này bao gồm vị trí địa lý, tài nguyên
thiên nhiên, khí hậu, rừng, núi, bờ biển, vịnh, hang động, sông, thác nước, suối, môi trường
sinh thái Cụ thể đó là sự thuận lợi do vị trí địa lý mang lại như thông thương với các nước
dễ dàng, có đường biển, đường bộ, đường hàng không là trung tâm của những vùng kinh tế
phát triển năng động trên thế giới. Đây là một nhân tố cơ bản để phát triển du lịch. Quốc
gia nào có nhiều tài nguyên tự nhiên thì quốc gia đó có tiềm năng lớn để thu hút được
nhiều khách du lịch đến tham quan.
thuật và kết cấu hạ tầng tốt, đồng bộ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch, ngược
lại sẽ gây khó khăn cho phát triển du lịch. Cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng bao
gồm:
- Cơ sở vật chất kỹ thuật và thiết bị hạ tầng phục vụ ăn uống, lưu trú: là cơ sở vật
chất kỹ thuật nhằm đảm bảo nơi ăn, chốn ở cho khách du lịch. Đây là hai dịch vụ đặc trưng
nhất của hoạt động kinh doanh du lịch, chúng đáp ứng nhu cầu bản năng của con người (ăn
và ngủ), khi họ sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ. Dịch vụ lưu trú và dịch vụ ăn
uống chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành của các sản phẩm du lịch.
Cơ sở vật chất kỹ thuật của dịch vụ ăn uống: bao gồm toàn bộ các phương tiện vật
chất, tham gia vào việc sản xuất và cung ứng các dịch vụ hàng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu ăn
uống và giải trí của du khách. Chúng bao gồm tất cả các phòng ăn, phòng trà, nhà kho, nhà
bếp, các trang thiết bị, dụng cụ phục vụ cho việc chế biến và các trang thiết bị, dụng cụ phục
vụ cho khách ăn.
Cơ sở vật chất kỹ thuật của dịch vụ lưu trú: bao gồm tất cả các phòng ngủ, các tài
sản, trang thiết bị tiện nghi phục vụ khách ngủ qua đêm. Các loại hình cơ sở lưu trú gồm:
hotel, motel, làng du lịch, camping (lều trại), bungalow, biệt thự, nhà trọ.
- Mạng lưới bán hàng: là một thành phần trong cơ cấu cơ sở vật chất kỹ thuật du
lịch nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch về mua sắm, bằng việc bán các hàng hóa đặc
trưng của địa phương mình, của đất nước mình, hàng thực phẩm và các loại hàng hóa
khác. Cơ sở vật chất kỹ thuật này gồm hai phần: một phần thuộc các trung tâm dịch vụ du
lịch, phục vụ khách du lịch là chủ yếu. Phần khác thuộc mạng lưới thương nghiệp địa
phương, với nhiệm vụ phục vụ nhân dân địa phương, đồng thời cũng đóng vai trò quan
trọng đối với phục vụ khách du lịch, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động nơi đó.
- Cơ sở thể thao: là một bộ phận của cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, có tác dụng
tạo điều kiện thuận lợi cho kỳ nghỉ của du khách, làm cho nó trở nên tích cực hơn. Các cơ
sở thể thao bao gồm cả các công trình thể thao, các phòng thể thao hay các trung tâm thể
thao với nhiều loại khác nhau, các thiết bị chuyên dùng cho mỗi loại thể thao như: bể bơi,
xe đạp nước, sân quần vợt sân bóng đá, sân golf, trường đua ngựa… Ngày nay, công trình
thể thao là một bộ phận không thể tách rời cơ sở vật chất kỹ thuật của các trung tâm du
là nguồn cung ứng khách du lịch. Một bến cảng mà mật độ, khối lượng giao, nhận hàng
hóa với khách hàng quốc tế lớn, thì ở đó số lượng khách lên bờ sẽ nhiều, và như vậy sẽ tạo
điều kiện cho kinh doanh khách sạn, nhà hàng.
Hai là, sự ổn định chính trị. Các nước có nền kinh tế phát triển, chính trị trong
nước ổn định, có đường lối hòa nhập cộng đồng, làm bạn với tất cả mọi người thì nhu cầu
đi du lịch của người dân đến các nước khác cũng như thu hút người dân của các nước khác
đến du lịch ngày càng tăng. Nền kinh tế có nhiều biến động, chính trị bất ổn, đồng tiền lạm
phát người dân đi du lịch giảm, người dân của các nước khác đến du lịch cũng giảm.
Ba là, có đường lối, chính sách phát triển du lịch đúng đắn. Đây là yếu tố rất quan
trọng để phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn. Bởi lẽ đường lối, chính sách phát
triển du lịch xác định rõ vị trí của ngành du lịch trong tổng thể các ngành kinh tế xã hội và
có định hướng, biện pháp đúng đắn để phát triển ngành này. Tổ chức Du lịch thế giới
(WTO), trong một báo cáo của mình năm 1987 đã nhận xét:
Kinh tế du lịch ở một số nước phát triển mạnh, đây không phải là một
sự ngẫu nhiên, đột xuất mà do một số nước, chính phủ các nước đã quan tâm,
đặt du lịch theo hướng phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn. Do đó, ngành du
lịch phát triển rất năng động trong việc kế hoạch hóa đầu tư thành ngành du
lịch quốc gia liên kết chặt chẽ với nền thương mại du lịch của các nước trên thế
giới.
1.1.3.3. Tiềm năng và nhu cầu của khách du lịch
Khả năng về thu nhập: Du lịch là nhu cầu thứ yếu. Khi các nhu cầu thiết yếu như
ăn, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh đã đầy đủ thì con người mới nghĩ đến nhu cầu đi tham
quan, giải trí tức là du lịch chỉ phát triển khi nhu cầu thiết yếu được thỏa mãn. Thường ở
những nước có thu nhập bình quân đầu người cao thì nhu cầu về du lịch sẽ cao hơn ở các
nước có thu nhập thấp.
Về thời gian nhàn rỗi: Các nền kinh tế khác nhau, thời gian nhàn rỗi của mỗi
người dân cũng khác nhau và họ dành quỹ thời gian đi du lịch cũng khác nhau nhưng quỹ
thời gian dành cho đi du lịch của mỗi người phụ thuộc rất lớn vào quỹ thời gian nhàn rỗi.
1.2. Tiêu chí và vai trò của việc phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi
tới như những tiêu thức chủ yếu. Trên quan điểm dài hạn, không hề có sự đối lập hay loại
trừ lẫn nhau giữa các tiêu chuẩn loại này với nhau. Kinh nghiệm của các nước có nền kinh
tế tăng trưởng cao ở châu á cho thấy, hai yếu tố này về cơ bản là có tác động cùng chiều,
thúc đẩy lẫn nhau. ở cấp độ cao hơn, còn có thể nói rằng hiệu quả kinh tế, lợi ích tăng
trưởng kinh tế chỉ có thể đạt mức tối đa khi nó gắn liền với sự đảm bảo một hiệu quả kinh
tế - xã hội cao.
Thứ ba, những ngành được lựa chọn ưu tiên phát triển, cần phải là ngành có hệ số tác
động cao đến sự phát triển trong tương lai đối với nhiều nhiều ngành khác. Nói cách khác
đi, một mức tăng trưởng cao của ngành được ưu tiên sẽ phải kéo theo sự tăng trưởng của
nhiều ngành có liên quan không nằm trong diện ưu tiên. Phạm vi các ngành chịu sự tác động
bị "lôi kéo tăng trưởng" và mức độ tác động đến tốc độ tăng trưởng của ngành "bị kéo" này từ
sự phát triển của một ngành nào đó tạo nên hiệu quả phát triển toàn bộ của nó. Đây được coi là
tiêu chuẩn chung, bắt buộc để lựa chọn ngành mũi nhọn.
Xuất phát từ vấn đề này, câu hỏi cụ thể hơn cần được trả lời là: những tiêu thức
chính, để xác định ngành mũi nhọn là gì? Đó là ngành mà:
- Đóng góp cao vào GDP, là ngành tạo ra đòn bẩy thúc đẩy các ngành khác, ngành
có khả năng tích lũy cao.
- Có tác động thúc đẩy các ngành khác, tạo đà cho tăng trưởng chung, tạo sự
chuyển dịch cơ cấu theo hướng tích cực.
- Có điều kiện sử dụng nguyên liệu trong nước.
- Tận dụng được lao động hiện có, thúc đẩy lao động kỹ thuật.
- Có thị trường rộng lớn ở trong nước và nước ngoài.
Các tiêu chí trên có quan hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau (chế định lẫn nhau), tất
cả chúng đều hướng tới mục tiêu dài hạn của nền kinh tế: tăng trưởng nhanh với hiệu quả
sử dụng vốn cao, tăng nguồn thu nhập ngoại tệ (được coi là nguồn lực quan trọng nhất hiện
nay), tạo nhiều công ăn việc làm, theo định hướng tăng trưởng đã được lựa chọn (định hướng
tăng trưởng xuất khẩu).
Trong nền kinh tế mở, các ngành kinh tế mũi nhọn đều phải đặt vào cạnh tranh
quốc tế hay khu vực, đều phải tự mình có sức cạnh tranh để tồn tại. Điều này đòi hỏi tất cả
không cân đối, lựa chọn cực tăng trưởng là bắt buộc và phù hợp trong điều kiện đó.
Sự thành công của các nước công nghiệp Đông á đã thừa nhận sự hợp lý của lý
thuyết này, với mô hình phát triển mở cửa, hướng ngoại và càng trở nên quan trọng đối với
quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành khi mỗi quốc gia đang phát triển thực hiện những cuộc
bứt phá thông qua việc lựa chọn và phát triển ngành trọng điểm, ngành mũi nhọn.
Thứ hai, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và sự phát triển của ngành, địa phương.
Trong thể thống nhất của cơ cấu kinh tế quốc dân, sự phát triển của ngành kinh tế này là
nhân tố thúc đẩy ngành kinh tế khác cùng phát triển. Tuy cùng nằm trong một cơ cấu kinh
tế chung, một số ngành kinh tế có những lợi thế riêng, trong quá trình phát triển trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn và khi đó nó tác động đến sự phát triển của nhiều ngành kinh tế
khác.
Thứ ba, giải quyết việc làm cho xã hội, tạo nguồn vốn tích lũy cao cho quốc gia.
Các nước NICs và các nước trong vùng Đông Nam á đã khôn ngoan biết rằng vốn liếng có
giá trị nhất của họ chính là nguồn lao động nên đã tìm cách khai thác triệt để lợi thế này và
nghiên cứu chỗ trống "thị trường ngách" trong nhu cầu của thị trường quốc tế, quyết định sử
dụng lao động để sản xuất các sản phẩm nhỏ cần ít vốn đầu tư, nhưng khả năng tiêu thụ trên
thị trường thế giới lại rất lớn. Họ nắm bắt được nhu cầu thị trường, nên chỉ tập trung sản xuất
"cái nhỏ" lại xuất khẩu được khối lượng hàng hóa lớn. Các quốc gia, lãnh thổ này đã biến
những ngành công nghiệp đã "xế chiều" của các nước đã phát triển thành "rạng rỡ bình minh"
cho quá trình công nghiệp hóa của mình. Họ không tham cái lớn khi còn ở ngoài "tầm tay".
Nhờ có sự lựa chọn ngành kinh tế có lợi thế làm mũi nhọn, các nước NICs
và các nước trong
khu vực Đông Nam á không những phát triển được thành ngành kinh tế hướng xuất khẩu mà
còn nhanh chóng vào được thị trường quốc tế, giảm được tỷ lệ thất nghiệp.
Thứ tư, góp phần vào phát triển văn hóa - xã hội của quốc gia. Kinh tế cũng như
văn hóa muốn phát triển, cần phải có sự giao lưu giữa các vùng trong nước, giữa các dân
tộc trong khu vực và trên thế giới. Đối với một quốc gia, ngoài đời sống kinh tế còn có đời
sống văn hóa. Các mặt đó lại gắn bó với nhau tạo thành một chỉnh thể trong hoạt động đời
hàng hóa bán cho khách, các dịch vụ ngân hàng, dịch vụ bảo hiểm,… Phục vụ khách du lịch.
- Từ các dịch vụ cơ bản phục vụ khách du lịch: (dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống,
dịch vụ vui chơi giải trí, dịch vụ thể thao, dịch vụ đưa đón, dịch vụ hướng dẫn tham
quan,…).
Thứ hai, mức độ tác động của ngành du lịch đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế
của nền kinh tế. Phát triển du lịch tạo ra một thị trường tiêu thụ rộng lớn cho cả công
nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, không chỉ là thị trường tiêu thụ nội địa mà cả thị trường
xuất khẩu tại chỗ. Đây chính là động lực và chất xúc tác để chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
nền kinh tế quốc dân. Đồng thời, phải tính toán được những chỉ tiêu về định lượng, sự
đóng góp của hoạt động du lịch đối với từng khu vực và đối với từng ngành cụ thể.
Thứ ba, khả năng tạo ra việc làm của ngành du lịch, giải quyết các vấn đề kinh tế -
xã hội của quốc gia. Theo quy luật chung, đối với mỗi quốc gia khi thực hiện công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thì lực lượng lao động ở khu vực I và khu vực
II sẽ giảm rất nhanh, khu vực III là khu vực dịch vụ sẽ đóng một vai trò quan trọng
trong việc thu hút lực lượng lao động của xã hội.
Hoạt động du lịch thu hút nhiều lao động trong xã hội, kể cả trực tiếp phục vụ và
gián tiếp phục vụ, vì nó phải sử dụng con người để phục vụ con người chứ không thể cơ
giới hóa hay tự động hóa trong quá trình phục vụ được. Theo tính toán của các nhà kinh tế,
năm 1995 ngành du lịch của thế giới đã sử dụng 118 triệu lao động trực tiếp, 295 lao động
gián tiếp để phục vụ 563,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế. Vì vậy, để tính chỉ tiêu này,
chúng ta hoàn toàn có thể tính toán được thông qua các khách du lịch hàng năm của của
các quốc gia.
Thứ tư, ảnh hưởng của ngành du lịch tới sự phát triển kinh tế của các vùng khó
khăn và thực hiện xóa đói giảm nghèo. Do những điều kiện khách quan, chủ quan về phát
triển du lịch, đồng thời kéo theo nhu cầu thị hiếu của con người về nhu cầu du lịch, các nước
đã tập trung phát triển du lịch ở những vùng hoặc địa phương có khó khăn nhằm phát triển