ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ VIỆT CƢỜNG
VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN TRONG THU THẬP
CHỨNG CỨ XÂY DỰNG HỒ SƠ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
DÂN SỰ QUA THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TÒA ÁN
NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ VIỆT CƢỜNG
VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN TRONG THU THẬP
CHỨNG CỨ XÂY DỰNG HỒ SƠ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
DÂN SỰ QUA THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TÒA ÁN
NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành
Mã số
: Luật dấn sự và tố tụng dân sự
: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
giúp đỡ tôi trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn
thành luận văn.
Tôi xin cảm ơn các thầy cô trong Hội đồng chấm luận
văn đã nhiệt tình hướng dẫn và góp ý để tôi có thể hoàn
thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU
1
Chƣơng 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA THẨM
7
PHÁM TRONG THU THẬP CHỨNG CỨ, XÂY DỰNG
HỒ SƠ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1.
Khái niệm vai trò của Thẩm phán trong hoạt động TTCC,
12
1.2.2.
Nguyên tắc tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số
13
1.2.3.
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập
14
và chỉ tuân theo pháp luật
1.2.4.
Nguyên tắc CCCC và chứng minh trong TTDS
15
1.2.5.
Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự
18
1.3.
25
1.4.2.
Giai đoạn từ 1959 đến năm 1980
28
1.4.3.
Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992
29
1.4.4.
Giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2004
31
1.4.5.
Giai đoạn từ năm 2005 đến nay
32
1.5.
Quy định pháp luật của một số nƣớc trên thế giới về vai trò
Thẩm phán thực hiện các biện pháp TTCC
44
44
48
50
2.1.3.1 Các trường hợp Thẩm phán áp dụng biện pháp TTCC
51
2.1.3.2 Các biện pháp Thẩm phán áp dụng để TTCC
53
2.1.4.
Thẩm phán hòa giải để các đương sự thống nhất với nhau về
chứng cứ.
71
2.2.
Thẩm phán TTCC tại phiên tòa.
75
2.2.1
3.1.2
Những tồn tại, hạn chế.
84
3.2.
Những yêu cầu hoàn thiện nâng cao vai trò của Thẩm phán
94
trong TTDS
3.3.
Những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Thẩm phán
97
trong hoạt động TTCC, xây dựng hồ sơ giải quyết VADS
3.3.1.
Hoàn thiện pháp luật về vai trò của Thẩm phán trong hoạt
97
động TTCC, xây dựng hồ sơ giải quyết VADS
BLTTDS
: Bộ luật tố tụng dân sự
TAND
: Tòa án nhân dân
TANDTC
: Tòa án nhân dân tối cao
TTDS
: Tố tụng dân sự
VADS
: Vụ án dân sự.
XHCH
: Xã hội chủ nghĩa.
TTCC
: Thu thập chứng cứ.
CCCC
đảm Bản án, quyết định dân sự của Tòa án khi có hiệu lực pháp phải được các cơ
quan Nhà nước, các tổ chức và cá nhân trong xã hội tôn trọng, nghiêm chỉnh
chấp hành; không bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm để
hủy bản án vì thiếu chứng cứ hoặc Tòa án không áp dụng biện pháp thu thập
chứng cứ do lỗi chủ quan của Thẩm phán.
1
Từ khi được hình thành và phát triển đến nay, đội ngũ Thẩm phán nước
ta cơ bản đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của mình. Trong đó, đội ngũ
Thẩm phán TAND cấp huyện có ảnh hưởng rất lớn đến nhiệm vụ chính trị của
hệ thống Tòa án nói riêng và của Bộ máy nhà nước nói chung. Hiện nay, số
lượng Thẩm phán cấp huyện là lực lượng chiếm số lượng lớn nhất so với số
lượng Thẩm phán của cả nước và hàng năm số lượng VADS do họ tham gia giải
quyết chiếm số lượng nhiều nhất. Do vậy, việc nghiên cứu vai trò của Thẩm
phán trong thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết VADS cũng là một nội
dung rất quan trọng không thể thiếu trong công cuộc cải cách tư pháp trong giai
đoạn hiện nay.
Mặt khác, theo Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính
trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, thì “Công tác tư pháp nước ta
còn bộc lộ nhiều hạn chế”. Đội ngũ Thẩm phán xét xử còn thiếu, nhất là ở các
tòa án cấp huyện; còn tồn tại số lượng không ít các Thẩm phán chưa nêu cao tinh
thần trách nhiệm trong công tác, thiếu thận trọng thậm chí là cẩu thả nên dẫn đến
tình trạng còn nhiều sai sót trong thực tiễn xét xử. Thêm nữa, về năng lực
chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức pháp luật cũng như kinh nghiệm trong công
tác của đội ngũ Thẩm phán hiện còn chưa đồng đều. Một số Thẩm phán chưa
tích cực tích lũy, học tập, nghiên cứu pháp luật để củng cố kiến thức, trình độ
nghiệp vụ. Nhiều cán bộ bằng lòng với kiến thức đã có, không thường xuyên bồi
dưỡng, cập nhật kiến thức mới nên đã phạm sai sót khi giải quyết các VADS.
gia Hà Nội, 2008…; bài viết “Cần hoàn thiện quy định về nhiệm vụ, quyền hạn
và trách nhiệm của Thẩm phán trong giải quyết VADS sơ thẩm” , của Vũ Thanh
Tuấn (2014), Tạp chí Tòa án nhân dân số 7 (tháng 4/2014); bài viết “Vai trò của
Thẩm phán đối với việc mở rộng tranh tụng trong các VADS” của Tưởng Duy
Lượng - Nguyễn Văn Cường Tạp chí NCPL số 2/2004; bài viết Vai trò của
Thẩm phán trong thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết VADS của
Nguyễn Văn Lin và Nguyễn Thị Hạnh, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp; bài viết
Nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật” lý luận và thực tiễn của Nguyễn Quang Hiền, Tạp chí Tòa án nhân
dân số 19 (tháng 10/2012). Ngoài ra còn có rất nhiều bài viết của nhiều tác giả
liên quan đến đội ngũ Thẩm phán được công bố như: Tạp chí TAND, Tạp chí
3
dân chủ và pháp luật, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp… Các nghiên cứu đã đánh giá năng lực của đội ngũ Thẩm phán và đề ra
những khuyến nghị để nâng cao vai trò của đội ngũ này.
Có thể nói, qua nghiên cứu, khảo sát nội dung các sách chuyên khảo,
luận văn, các bài báo khoa học đã công bố ở Việt Nam trong thời gian qua, cho
thấy hầu hết các công trình này là những công trình nghiên cứu cơ bản và trực
diện về tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án, còn về vai trò của Thẩm phán
chưa được khoa học pháp lý nước ta quan tâm đúng mức. Những nghiên cứu chỉ
dừng lại ở các công trình đơn lẻ hoặc chỉ đề cập đến một số vấn đề liên quan đến
địa vị pháp lý của Thẩm phán và chủ yếu là trong tố tụng hình sự, chưa có một
công trình khoa học nào nghiên cứu có hệ thống, sâu sắc về vai trò của Thẩm
phán trong hoạt động thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết VADS. Vì
vậy, những bất cập, hạn chế của đội ngũ Thẩm phán Tòa án các cấp hiện nay và
nhất là ở Hà Nội chưa được phân tích có hệ thống để đưa ra được những giải
pháp đồng bộ tăng cường vai trò của Thẩm phán đáp ứng yêu cầu cải cách tư
Đồng thời được tiến hành bằng những phương pháp nghiên cứu khoa học
cơ bản như: phân tích, đối chiếu so sánh, hệ thống, logic, tổng hợp, thống kê thu
thập thông tin, quy nạp và diễn dịch, v.v... Nhờ vậy, những vấn đề có liên quan
đến vai trò của Thẩm phán trong thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ VADS được
xem xét, đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau, bảo đảm tính đầy đủ, toàn diện, có
hệ thống và xác thực.
5. Ý nghĩa của luận văn.
Kết quả nghiên cứu và những đề xuất được nêu trong luận văn có ý nghĩa
lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao hiệu quả của BLTTDS về vai trò của
Thẩm phán trong thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết VADS.
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, học tập.
Những giải pháp của luận văn sẽ cung cấp một số luận cứ khoa học phục vụ cho
công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng Bộ luật tố tụng dân sự liên
quan đến vai trò của Thẩm phán trong thu thập chứng cứ, qua đó góp phần nâng
cao hiệu quả công tác giải quyết VADS hiện nay và sắp tới.
5
6. Những điểm mới của luận văn
Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên ở cấp luận văn thạc sĩ luật học,
nghiên cứu hệ thống, toàn diện, đầy đủ về vài trò của Thẩm phán trong thu thập
chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết VADS theo quy định của BLTTDS. Những
điểm mới của luận văn là:
- Phân tích một cách sâu sắc và đánh giá toàn diện về vai trò của Thẩm
phán trong thu thập chứng cứ xây dựng hồ sơ VADS theo BLTTDS.
- Phân tích, đánh giá một cách toàn diện thực trạng áp dụng pháp luật về
vai trò của Thẩm phán trong thu thập chứng cứ tại Tòa án nhân dân quận Hà
Đông; qua đó nên ra những tồn tại, hạn chế, bất cập chung của pháp luật và
những tồn tại thực tiễn trong việc áp dụng pháp luật về vai trò của Thẩm phán
ban hành các đạo luật, quy định tổ chức thực hiện và là người có quyền lực cao
nhất. Đến thế kỷ XVII, XVIII giai cấp tư sản phát triển mạnh mẽ đại diện cho
phương thức sản xuất tiên tiến đã hạn chế dần quyền lực của nhà vua, tiến tới
xoá bỏ Nhà nước phong kiến. Trong thời gian này, các học giả tư sản mà tiêu
biểu nhất là Montesquieu trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” đã đưa ra luận
điểm: Phải tách các hoạt động ban hành pháp luật, hoạt động thực hiện pháp luật
và hoạt động xét xử, chia quyền lực nhà nước thành ba loại quyền: lập pháp,
hành pháp và tư pháp độc lập với nhau tạo cơ chế kiềm chế đối trọng lẫn nhau,
chống lại tư tưởng độc quyền của một người, hay của một cơ quan nào đó, nắm
toàn bộ quyền lực Nhà nước. Có thể nói sự tách bạch và độc lập giữa Toà án ra
khỏi hai nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp đã hình thành nên một đội ngũ
cán bộ mới trong bộ máy nhà nước làm nhiệm vụ xét xử từ xưa đến nay chưa
từng có đó là Thẩm phán.
7
Theo khái niệm Thẩm phán trong từ điển Tiếng Việt thì: Thẩm phán là
người chuyên làm công tác xét xử các loại vụ án.
Tại Điều 1 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm TAND năm 2002 đã định
nghĩa: “Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm
nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền
của Toà án”.
Từ định nghĩa về Thẩm phán cho thấy Thẩm phán là một chức danh tư
pháp được bổ nhiệm theo trình tự thủ tục và tiêu chuẩn do pháp luật quy định
chặt chẽ để làm nhiệm vụ xét xử của Tòa án hay chính là thực hiện chức năng
của Tòa án (chức năng xét xử nhân danh Nhà nước) thực hiện quyền tư pháp.
Theo quan điểm của TS. Nguyễn Quang Hiền: “Tòa án là một thiết chế không
thể tự thực hiện được quyền tư pháp (xét xử) mà phải thông qua con người cụ
thể để thay mặt Tòa án thực hiện quyền tư pháp, đó chính là Thẩm phán”[17].
để Tòa án nghiên cứu, đánh giá, sử dụng phục vụ cho việc giải quyết VADS một
cách đúng đắn. Đây là công việc rất quan trọng, tạo cơ sở cho quá trình chứng
minh, có ý nghĩa quyết định đối với việc giải quyết VADS. Trong TTDS Việt
Nam hiện hành, hoạt động TTCC có thể được tiến hành bởi nhiều loại chủ thể tùy
thuộc vào vị trí, vai trò, chức năng của từng chủ thể và từng giai đoạn tố tụng khác
nhau. Tác giả đề cập đến vai trò TTCC của Thẩm phán khi tiến hành GQVA ở
giai đoạn sơ thẩm.
Đồng thời với việc quy định nghĩa vụ CCCC của đương sự, BLTTDS năm
2004, đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2011 quy định trách nhiệm
TTCC của Tòa án và chỉ được tiến hành trong những trường hợp do Bộ luật này
quy định (Điều 6, Khoản 2 Điều 85BLTTDS).
Quy định về trách nhiệm TTCC của Tòa án (Thẩm phán) hay sự cần thiết
của Thẩm phán trong thu thập chứng cứ là xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội
cụ thể của Việt Nam; do vậy tác giả đồng ý với quan điểm của Ths. Nguyễn Văn
Lin và Ths. Nguyễn Thị Hạnh, xuất phát từ các điều kiện sau đây [22]:
Thứ nhất: Hệ thống tư pháp Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo truyền
thống pháp luật lục địa. Trong đó, TTDS thể hiện tính chất pha trộn giữa tố tụng
tranh tụng và tố tụng xét hỏi nhưng yếu tố xét hỏi nổi trội hơn. Thẩm phán được
9
phân công GQVA là người trực tiếp xây dựng hồ sơ vụ án và trên cơ sở hồ sơ
này để GQVA. Quá trình xác minh, TTCC cũng chính là quá trình xây dựng hồ
sơ VADS. Chính vì vậy, hồ sơ VADS là yếu tố có ý nghĩa hết sức quan trọng
trong GQVA. Ngoài việc phải đảm bảo việc giải quyết VADS khách quan, công
bằng, đúng pháp luật, Thẩm phán còn có trách nhiệm GQVA đúng thời hạn. Mặt
khác, lý luận về chứng cứ cũng cho thấy, Tòa án là cơ quan có nhiệm vụ đánh
giá toàn bộ chứng cứ để giải quyết đúng đắn vụ án. Việc đánh giá chứng cứ có
đúng đắn, khách quan và toàn diện hay không phụ thuộc vào việc cung cấp,
khó khăn. Trong rất nhiều vụ án, mặc dù đương sự đã mất nhiều công sức, thời
gian đi lại yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp các chứng cứ liên quan đến việc
giải quyết VADS để họ giao nộp cho Tòa án, nhưng đều bị từ chối với đủ mọi lý
do; hoặc các cơ quan, tổ chức cung cấp không đầy đủ, không chính xác, không
đúng thời hạn. Điều này đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước, cụ thể là Tòa
án, với tính chất là cơ quan có chức năng giải quyết tranh chấp, hỗ trợ đương sự
TTCC đang lưu giữ tại các cơ quan, tổ chức mà đương sự không thể thu thập
được.
Với vị trí là người tiến hành tố tụng, có nhiệm vụ xây dựng hồ sơ vụ án,
giải quyết VADS đúng pháp luật, đúng thời hạn, nên Thẩm phán có vai trò quan
trọng trong việc TTCC. Thẩm phán là người phải xác định đối tượng chứng
minh, các chứng cứ cần thu thập của vụ án, trên cơ sở đó, Thẩm phán thúc đẩy
các bên đương sự chủ động tiến hành TTCC để cung cấp cho Tòa án, đồng thời
Thẩm phán tiến hành các hoạt động tố tụng để TTCC hỗ trợ đương sự và củng
cố chứng cứ VADS theo quy định của pháp luật; có trách nhiệm hòa giải để cho
các đương sự thương lượng thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Như
quan điểm Ths. Vũ Thu Hiền: “Thẩm phán như là một trọng tài không thiên vị,
một người phán xử trung lập, Thẩm phán nghe và tạo điều kiện cho các bên cơ
hội thích hợp để trình bày chứng cứ, luận điểm để chứng minh làm sáng tỏ các
tình tiết tại phiên tòa, trên cơ sở đó Thẩm phán đưa ra các phán quyết cuối cùng
một cách công tâm” [18].
Theo quan điểm tác giả, Thẩm phán có vai trò đặc biệt quan trọng trong
hoạt động thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết vụ án dân sự. Thẩm
phán là người thúc đẩy các đương sự cung cấp chứng cứ và hỗ trợ đương sự thu
11
thập chứng cứ, đồng thời là trọng tài công tâm đưa ra phán quyết đánh giá chứng
cứ một cách khách quan mang tính chất bắt buộc thực hiện đối với các bên
12
của cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan phải tuân theo các quy định của Bộ
luật này. Nội dung nguyên tắc được biểu hiện cụ thể trong TTDS như sau:
Người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng phải nghiêm
chỉnh tuân thủ những quy định của BLTTDS, chỉ được áp dụng những biện pháp
mà pháp luật yêu cầu và cho phép để tiến hành các hoạt động của mình nhằm
giải quyết các VADS. Hay nói cách khác, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng phải thực hiện đầy đủ và đúng các quyền tố tụng của mình, đồng
thời nghiêm chỉnh thực hiện các nghĩa vụ tố tụng khi tiến hành hoạt động TTDS
để giải quyết VADS theo đúng trình tự, thủ tục luật định.
Có thể nói rằng quá trình TTDS là một xâu chuỗi bao gồm nhiều hành vi
tố tụng có tính chất khác nhau do các chủ thể có thẩm quyền thực hiện. Nguyên
tắc pháp chế XHCN làm cho quá trình đó diễn ra theo đúng thứ tự trước sau theo
quy định của BLTTDS, mà không hề bị đảo lộn. Do vậy, hoạt động của các cơ
quan tiến hành tố tụng sẽ không bị chồng chéo về chức năng, thẩm quyền. Với
vai trò như vậy, ý nghĩa trước hết của nguyên tắc này trong TTDS là giúp cho
quá trình TTDS trong thực tế được vận hành một cách thống nhất, đồng bộ và
đạt hiệu quả cao. Nguyên tắc pháp chế còn là cơ sở quan trọng cho việc bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi tham gia TTDS. Nguyên tắc này
đảm bảo việc giải quyết các VADS nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng
pháp luật.
1.2.2.
Nguyên tắc tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số.
Nguyên tắc này được quy định tại điều 103 Hiến pháp năm 2013 và bắt
nguồn từ nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy
Nhà nước. Xét xử là hoạt động đặc thù do TAND thực hiện nhằm bảo vệ
Trong Hội đồng xét xử sơ thẩm, Thẩm phán biểu quyết sau cùng. Người có ý
kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được lưu trong
hồ sơ vụ án.
1.2.3.
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Nguyên tắc độc lập trong xét xử đều được quy định trong năm bản Hiến
pháp của nước ta (Điều 69 Hiến pháp 1946, Điều 100 Hiến pháp 1959, Điều 131
Hiến pháp 1980, Điều 130 Hiến pháp 1992 và khoản 2 Điều 103 Hiến pháp
2013). Trong Sắc lệnh số 13 ngày 24 tháng 1 năm 1946 và các luật tổ chức
TAND năm 1960, 1981, 1992 và 2014 cũng đều ghi nhận nguyên tắc này.
14
Nguyên tắc này bắt nguồn từ nguyên tắc pháp chế XHCN, nó bảo đảm cho
TAND xét xử khách quan, đúng pháp luật để bảo vệ trật tự pháp luật XHCN.
Nguyên tắc này đòi hỏi khi xét xử các thành viên trong Hội đồng xét xử
độc lập với nhau trong suy nghĩ, trong việc xem xét, kiểm tra, đánh giá chứng cứ
và đưa ra các kết luận về vụ án. Trong quá trình nghị án Thẩm phán giải thích
cho Hội thẩm nhân dân biết những quy định của pháp luật và đường lối xét xử
cần được áp dụng xử lý đối với vụ án đó nhưng Thẩm phán phải tôn trọng ý
kiến, quan điểm của Hội thẩm và Thẩm phán phải phát biểu và biểu quyết sau
cùng để tránh trường hợp Hội thẩm ỉ vào quyết định của Thẩm phán, chỉ việc
đồng ý và biểu quyết theo quan điểm của Thẩm phán. Trong trường hợp thành
viên của Hội đồng xét xử có ý kiến khác nhau thì vẫn có quyền bảo lưu ý kiến
của mình nếu ý kiến đó là thiểu số. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày
ý kiến của mình bằng văn bản và được lưu vào trong hồ sơ.
được hình hành nhằm xác định bổn phận phải gánh vác của một chủ thể trong
việc chứng tỏ hoặc phản bác một vấn đề trong vụ án. Thông thường, nói đến
nghĩa vụ chứng minh, người ta nói đến nghĩa vụ chứng minh nội dung và nghĩa
vụ chứng minh hình thức” [7].
Hoạt động xét xử các VADS là hoạt động phát sinh trên cơ sở có sự tranh
chấp quan hệ pháp luật nội dung giữa các bên có lợi ích tư đối lập nhau nhưng
bình đẳng về địa vị pháp lý mà trong đó có một quy tắc chung cho cả hai bên
đương sự: người nào đề ra một luận điểm cần có chứng cứ thì phải chứng minh.
Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các VADS, kinh tế, lao động, trước đây quy định
Toà án phải giữ vai trò tích cực và chủ động trong việc xác minh, TTCC, theo đó
Toà án không chỉ giới hạn ở những tài liệu, chứng cứ đã được đương sự xuất
trình mà còn có thể (nếu xét thấy cần thiết) áp dụng các biện pháp TTCC do
pháp luật quy định để bảo đảm cho việc GQVA được chính xác. Tuy nhiên, quy
định này dễ dẫn đến tình trạng Toà án lạm dụng quyền lực, thiên vị cho một bên
hoặc “làm thay” cho các bên đương sự khi giải quyết vụ việc và hậu quả là quy
định về nghĩa vụ CCCC và chứng minh của đương sự trong TTDS chỉ còn mang
tính hình thức, không còn mấy ý nghĩa trong thực tiễn. Để khắc phục một phần
những khiếm khuyết trong các Pháp lệnh trước, đồng thời mở rộng nguyên tắc tự
định đoạt của đương sự cũng như tăng cường yếu tố tranh tụng trong TTDS,
Điều 6 BLTTDS quy định nguyên tắc CCCC và chứng minh trong TTDS như
sau:
16
“1. Các đương sự có quyền và nghĩa vụ CCCC cho Toà án và chứng minh
cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi
kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và
nghĩa vụ CCCC, chứng minh như đương sự. 2. Toà án chỉ tiến hành xác minh,
TTCC trong những trường hợp do Bộ luật này quy định”.