Vai trò của thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự - Pdf 33

____________ _ _ _ =

m

TRƯƠNG ĐẠI HỌC CẢN THƠ
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DÃN
KHOA LUẬT
is.B3.ei

LUẬN VĂN TÓT NGHIỆP
NIÊN KHÓA (2005-2009) *

Dề tài
VAI TRÒ CỦA THẲM PHẤN TRONG HOẠT
ĐỘNG XÉT XỬ Sơ THẨM CẤC vụ ÁN HÌNH sự

Giáo viên hướng dẫn
Nguyễn Chí Hiếu

Sinh viên thực hiện
Phùng Văn Khánh
Mssv: 5054783
Lóp: Thương mại 2- k31

Cần Thơ, tháng
4/2009


Ý KIẾN CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
ìs^EQLeỉ’


ẩm phán ở Malaysia......................................................................................14
2.3........................................................................................................................Th
ẩm phán Liêng Bang Nga..............................................................................15


2.2.1. Nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm
các vụ án hình sự.........................................................................................21
2.2.2.Trách nhiệm của Thẩm phán ừong công tác xét xử sơ thẩm các vụ
án
hình sự.........................................................................................................22
2.3.
Những trường họp Thẩm phán phải từ chối xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự 24
2.4................................................................................................................. Va
i trò của Thầm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự......26
2.4.2. Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tranh tụng tại phiên tòa hình sự
sơ thẩm.......................................................................................................29
2.5.

Vai trò của Thẩm phán xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong
hoạt

động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự.......................................................34
2.5.1. Thẩm phán xét xử độc lập với Hội thẩm nhân dân.................................36
2.5.2. Thẩm phán xét xử độc lập với Kiểm sát viên.........................................38
2.5.3. Thẩm phán xét xử độc lập với Luật sư...................................................39
2.6.

Vai trò của Thẩm phán ừong việc đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa
trong

thẩm các
vụ án Hình sự..............................................................................................47

3.1.1. Vai trò của Thẩm phán ừong hoạt động áp dụng pháp luật và giải thích
pháp luật trong quá trình xét xử.................................................................47
3.1.2. Thẩm phán và vai trò giáo dục pháp luật cho người dân thông qua hoạt


3.3.

Những hạn chế về vai trò của Thẩm phán trong quá trình xét xử sơ
thẩm vụ
án hình sự....................................................................................................51

3.4.......................................................................................................................Nh
ững thách thức của Thẩm phán trước tình hình hiện nay.............................56
II. Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Thẩm phán trong xét xử
Stf


Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự
PHÀN MỞ ĐÀU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Nói đến Tòa án là phải nhắc tới Thẩm phán. Thẩm phán có một vai trò đặc
biệt quan trọng trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự. Thẩm phán là người
được biết đến như một biểu tượng của họat động xét xử, là người trực tiếp đưa ra
những phán quyết cuối cùng vụ án có nhanh chóng được làm sáng tỏ đi đến kết
luận cuối cùng thì vai trò của Thẩm phán là rất quan trọng. Thông qua việc xét
xử các vụ án hình sự vai trò quan trọng của Thẩm phán ngày càng thể hiện rõ nét,



Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự
được ở trường và qua thực tế theo dõi công tác xét xử sơ thẩm tại một số Tòa
hình sự tại một số địa phương, em hy vọng sẽ đóng góp được một vài ý kiến về
vai hò của Thẩm phán trong xét xử các vụ án hình sự hiện nay. Mục đích chính
là nhằm nâng cao hơn nữa vai ừò xét xử độc lập của Thẩm phán, sự tôn trọng ý
thức khi tham gia phiên tòa của người dân, ý kiến việc bảo vệ tính mạng và sức
khỏe của Thẩm phán một vấn đề đang rất đáng quan tâm hiện nay. Một mặt nâng
cao kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn của Thẩm phán tránh để xảy ra tình trạng oan
sai khi xét xử, hoặc tránh để xảy ra tình hạng khi xét xử bản án sơ thẩm xong bị
cáo tiếp tục kháng án lên các cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm làm tốn
nhiều thời gian, lãng phí tiền bạc... Mặt khác, các Tòa án cần quan tâm, nghiêm
túc kiếm điểm, rút kinh nghiệm trong việc giáo dục tư tưởng, chính trị cho các
Thẩm phán, phân tích nguyên nhân dẫn đến sai phạm của Thẩm phán qua đó rút
ra bài học kinh nghiệm cho toàn ngành về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng
đối với cán bộ công chức ngành Tòa án.

3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu về vai trò của Thẩm phán trong xét xử sơ thẩm
các vụ án hình sự, từ giai đoạn chuẩn bị xét xử, bắt đầu phiên tòa đến khi kết thúc
phiên tòa cũng như những bất cập ừong quá trình xét xử hiện nay, năng lực điều
hành phiên tòa hình sự của Thẩm phán, vai trò độc lập trong khi xét xử của Thẩm
phán với những người tiến hành tố tụng và một số sai phạm trong quá trình xét
xử của Thẩm phán để từ đó đề ra hướng khắc phục. Do thời gian nghiên cứu có
hạn đến đầu tháng 4/2009 phải hoàn thành đề tài nên luận văn chỉ sử dụng những
số liệu đến hết năm 2008 tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu sẽ cố gắng cập
nhật những số liệu mới nhằm làm cho đề tài ngày càng phong phú, sâu sắc hơn.

4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài



Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

CHƯƠNGI
LÝ LUẬN CHUNG VÈ THẢM PHÁN

I. Lý luận chung về Thẩm phán ở Việt Nam

1.1. Khái niệm Thẩm phán
Như chúng ta đã biết, bất kì nhà nước nào muốn tồn tại, thì một trong những
công việc phải làm là quản lý được xã hội. Mỗi nhà nước phải thiết lập nên cho
mình một hệ thống pháp luật làm chuẩn mực cho tất cả công dân của mình. Và để
cho pháp luật được thực thi ừong cuộc sống, cần phải có những người làm công
tác trị an (Công an, Cảnh sát) và những người làm nghề luật trong đó có Thẩm
phán. Trải qua nhiều thời kỳ từ phong kiến đến ngày nay bao giờ vai trò của
người cầm cán cân công lý cũng rất quan trọng, một Thẩm phán anh minh, liêm
khiết, chính trực sẽ tạo nên sự tin tưởng của nhân dân vào cơ quan công quyền
của nhà nước.
Theo khái niệm Thẩm phán trong từ điển Tiếng Việt thì Thẩm phán là
người chuyên làm công tác xét xử các vụ án.
Theo Điều 1 Pháp Lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002 định
nghĩa “Thẩm phán là người được hổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm
công tác xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thấm quyền
của Toàán”.
Thẩm phán là những người làm việc tại Toà án, được quyền nhân danh Nhà
nước để xét xử các vụ án. Công việc của Thẩm phán là một nghề đặc trưng. Đây
là một vị trí rất cao trong ngành Luật, đòi hỏi bạn phải có tài năng thực sự và
kinh nghiệm lâu năm. Quy chế Thẩm phán ở các nước trên thế giới hoàn toàn
không giống nhau tùy thuộc vào lịch sử phát triển của đất nước cũng như kinh tế,

b) Tham phán Toà án nhân dân cấp tỉnh bao gồm Tham phán Toà án nhân
dân tỉnh, quận, thị xã, thành pho thuộc tỉnh;
d) Tham phán Toà án quân sự các cấp bao gồm thấm phán Toà án quân sự
trung ương đồng thời là Tham phán Toà án nhân dân toi cao; Tham phán Toà án
quân sự cấp quân khu bao gom Tham phán Toà án quân sự quân khu và tương
đương; Thâm phán Toà án quân sự khu vực.
Hiệu quả hoạt động của Toà án thể hiện cụ thể ở việc thực hiện nhiệm vụ
xét xử của Toà án. Chính vì vậy, việc xây dựng đội ngũ Thẩm phán có trình độ
chuyên môn nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức tốt để đáp ứng yêu cầu của công
tác xét xử đang là vấn đề được đặt lên hàng đầu.

1.2. Lịch sử hình thành và phát triển đội ngũ Thẩm phán ở Viêt Nam
Thực tiễn xét xử là toàn bộ hoạt động tố tụng của Tòa án trong quá trình áp
dụng pháp luật để đưa ra đường lối giải quyết các loại vụ án, trong đó người
Thẩm phán là nhân vật có vai ừò quan trọng đóng góp vào thực tiễn xét xử một
cách rõ ràng nhất, đó chính là các bản án, các quyết định. Từ xa xưa cho đến
ngày nay vai trò của người đứng ra phân xử trong các vụ án bao giờ cũng trở nên
đặc biệt quan trọng, dưới thời phong kiến Việt Nam việc xét xử cũng rất được
quan tâm, chú trọng đến.
Dưới thời Đinh, phương pháp tập trung quyền lực tư pháp trong tay nhà vua
đã được áp dụng triệt để, nhà vua đích thân xem xét việc trừng phạt các vụ phạm
pháp, và việc trừng phạt các can phạm được diễn ra ngay trước cung điện nhà
vua, một việc mà ta không nhận thấy dưới các đời vua sau. Đến thời Tiền Lê
quyền Tư pháp trong tay nhà vua vẫn được áp dụng triệt để. Thời Lý (1010GVHD: Nguyễn Chí Hiếu

5

SVTH: Phùng Văn Khánh



năng, quyền hạn quy định tại Nghị định số 37 ngày 01/12/1945, Bộ Tư pháp chịu
trách nhiệm quản lý toàn diện về tổ chức, cán bộ, hoạt động và cơ sở vật chất của
các cơ quan tư pháp. Ngày 13/9/1945, Bộ Tư pháp trình Chính phủ ký ban hành
Sắc lệnh số 33 thiết lập các Toà án quân sự đầu tiên ở một số thành phố để xét xử
mọi hành vi phương hại đến nền độc lập nước nhà. Và chỉ bốn tháng sau đó, sẳc
lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 đã thiết lập các Toà án và các ngạch Thẩm phán
bao gồm cả các ngạch Thẩm phán làm nhiệm vụ công tố, buộc tội trên toàn cõi
Việt Nam. Toà án tư pháp được tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc dân
chủ, tiến bộ.
cập nhật 11/03/2007

GVHD: Nguyễn Chi Hiếu

6

SVTH; Phùng Văn Khánh


Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự
Khi cuộc kháng chiến của dân tộc bắt đầu chuyển hướng sang tổng phản
công, Bộ Tư pháp đã trình Chủ tịch nước ký ban hành sẳc lệnh sổ 85/SL ngày
22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và Luật tố tụng tạo nên bước chuyển rất
quan trọng trong việc tăng cường tính chất nhân dân của nền tư pháp, dân chủ
hoá tố chức và hoạt động của hệ thống Toà án. Các Toà án binh, Toà án đặc biệt,
Toà án nhân dân vùng tạm bị địch chiếm được thành lập với những cách thức tổ
chức, hoạt động linh hoạt, phù họp hoàn cảnh của từng loại địa bàn, đưa tư pháp
về gần dân, huy động nhân dân tham gia vào công việc tư pháp một cách thiết
thực. Cùng với công tác tổ chức, ngành tư pháp luôn chăm lo việc tuyển chọn,
xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm, Công tố viên, Luật
sư, ... Hoạt động xét xử nghiêm minh của các Toà án đã tích cực góp phàn củng

SVTH: Phùng Văn Khánh


(2) Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Trương Hòa Bình, Đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án nhân
dân theo yêuĐe tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự cầu xây dựng
nhà nước pháp
quyền XHCN,
Tạp chí Nghiên
cứu lập pháp
số
2+33/2008, Toà án nhân dân tối cao có 524/603 người, trong đó có 116/120 Thẩm(139+140)
tháng 1 nămphán; Toà án nhân dân cấp tỉnh có 3264/3559 người, trong đó có 998/1118 Thẩm2009, tr.43
phán; 678 Toà án nhân dân cấp huyện có 7550/7822 người, trong đó có
3250/3690 Thẩm phán. Bên cạnh đội ngũ Thẩm phán, trong hệ thống Tòa án
nhân dân hiện có 4538 Thẩm tra viên và Thư ký Tòa án. Như vậy, so với biên
chế thì hiện tại các Toà án nhân dân địa phương vẫn còn thiếu khoảng 1.300
Thẩm phán. Đen năm 2010, nếu tính theo mức tăng trưng bình số lượng vụ án
các loại thụ lý ở cấp sơ thẩm, dự báo các toà án nhân dân các cấp sẽ phải thụ lý
khoảng 450.000 vụ. Nếu cứ mỗi Thẩm phán giải quyết được trung bình 5 vụ
việc/tháng, thì đến năm 2010, số lượng Thẩm phán cần có để đảm bảo tiến độ và
chất lượng xét xử sẽ vào khoảng 7.000 người, về trình độ chuyên môn nghiệp vụ
và lý luận chính trị, 100% Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, 95% Thẩm phán
cấp tỉnh và cấp huyện có trình độ cử nhân luật; 90% Thẩm phán Toà án nhân dân
tối cao, 66% Thẩm phán cấp tinh và 20% Thẩm phán cấp huyện có trình độ cử
nhân hoặc cao cấp lý luận chính trị. về phẩm chất đạo đức, 100% Thẩm phán
Toà án nhân dân các cấp là Đảng viên, đa số đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn về
phẩm chất đạo đức đối với người cán bộ, đảng viên theo quy định. Trên thực tế,
nếu tính theo định mức xét xử hiện nay quy định đối với Toà án cấp tỉnh, cấp
huyện ừên các địa bàn và tổng số lượng án phải thụ lý, xét xử với tỷ lệ gia tăng
án hàng năm là 15%, trong vòng 5 năm tới ngành Toà án nhân dân cần bổ sung




liên

tịch

số

01/2003/TTLT-TANDTC-BQP-BNV-

UBTVVMTTQVN ngày 01/4/2003 của Toà án nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng,
Bộ Nội vụ, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn thi hành
một số quy định của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân năm
2002 thì một số tiêu chuẩn cụ thể của Thẩm phán được hiểu như sau:
Để trở thành Thẩm phán ở Việt Nam thì công dân Việt Nam phải có những
tiêu chuẩn sau đây:
Thứ nhất, Công dân Việt Nam phải trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết
và trung thực, kiên quyết đấu tranh bảo vệ lợi ích nhà nước, bảo vệ quyền và lợi
ích họp công dân, đom vị quản lý công chức hoặc có những bài viết, công trình
nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật có giá trị được công bố hoặc được áp dụng
vào thực tiễn, (xem Điều 5 của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội Thẩm nhân dân
năm 2002)
Như vậy, công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước
Cộng ho à xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và
trung thực, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa phải là:
• Không có bất kỳ hành vi nào gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, toàn vẹn
lãnh thổ của Tổ quốc, nền quốc phòng toàn dân, chế độ Xã hội chủ nghĩa và nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

xét xử theo quy định của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân
năm 2002, thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán.
• Có trình đô cử nhân luât là phải có bằng tốt nghiệp đại học về chuyên
ngành luật do các trường đại học trong nước có chức năng đào tạo đại học về
chuyên ngành luật theo quy định cấp, nếu văn bằng tốt nghiệp đại học về chuyên
ngành luật do cơ sở đào tạo của nước ngoài cấp thì văn bằng đó phải được công
nhận ở Việt Nam theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt
Nam;
• Đã đuơc đào tao về nẹhiêp vu xét xử là phải có chứng chỉ về đào tạo nghiệp
vụ xét xử do cơ quan có chức năng đào tạo các chức danh tư pháp cấp, nếu là
chứng chỉ do các cơ sở đào tạo của nước ngoài cấp thì phải được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền của Việt Nam công nhận;
• Thời gian làm côns tác pháp ỉuât là thời gian công tác kể từ khi được xếp
vào một ngạch công chức bao gồm Thư ký Toà án, Thẩm tra viên, Chấp hành
viên, Chuyên viên hoặc nghiên cứu viên pháp lý, Điều tra viên, Kiểm sát viên,
Công chứng viên, Thanh tra viên, cán bộ bảo vệ an ninh trong Quân đội, cán bộ
pháp chế, giảng viên về chuyên ngành luật. Thời gian được bầu hoặc cử làm Hội
thẩm, thời gian làm Luật sư cũng được coi là “thời gian làm công tác pháp luật”;
• Có năns ỉuc làm côns tác xét xử là có khả năng hoàn thành tốt công tác xét
xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án cấp
tương ứng mà người đó có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán
theo nhận xét, đánh giá của cơ quan đơn vị quản lý công chức hoặc có những bài
viết, công trình nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật có giá trị được công bố hoặc
được áp dụng vào thực tiễn.

GVHD: Nguyễn Chí Hiếu

10

SVTH: Phùng Văn Khánh


01/4/2003 của Toà án nhân dân toi cao, Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Uỷ ban
Trung ương Mặt trận To quốc Việt Nam hướng dẫn thi hành một so quy định của
Pháp lệnh Thấm phản và Hội thấm Toà án nhân dân).
Tiêu chuẩn cụ thể của Thẩm phán của Toà án mỗi cấp, thủ tục tuyển chọn,
bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán, quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán
do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định và phải được Hội đồng tuyển chọn
Thẩm phán có thẩm quyền tuyển chọn và đề nghị Chủ tịch nước bổ nhiệm (nếu là
Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao và Thẩm phán Toà án quân sự trung ương)
hoặc Chánh án Toà án nhân dân tối cao bổ nhiệm (nếu là Thẩm phán Toà án
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Thẩm phán Toà án nhân dân
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Thẩm phán Toà án quân sự quân khu
và tương đương, Thẩm phán Toà án quân sự khu vực) (Theo các Điều 26, 27 và
28 Pháp lệnh Tham phản và Hội thấm Toà án nhân dân).
1.3.3. Miễn nhiệm, cách chức chức danh Thẩm phán
Thẩm phán sẽ bị miễn nhiệm, cách chức chức danh của mình trong những
quy định sau đây:
a. Miễn nhiệm Thẩm phản
Thẩm phán có thể được miễn nhiệm chức danh Thẩm phán do sức khoẻ, do
hoàn cảnh gia đình Thẩm phán và đương nhiên được miễn nhiệm chức danh
Thẩm phán khi nghỉ hưu hoặc vì lý do khác mà xét thấy không thể bảo đảm hoàn
GVHD: Nguyễn Chi Hiếu

11

SVTH: Phùng Văn Khánh


Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự
thành nhiệm vụ được giao (khoản 1, 2 Điều 29 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội

cho ngành Tư pháp của nước nhà, trong đó có các cán bộ của ngành Tòa án là
các Thẩm phán nước ta. Khoảng đầu những năm 60 của thế kỷ trước, khi nền
kinh tế nước ta còn nhiều khó khăn bởi chiến tranh, tiền lương của cán bộ nhà
nước chỉ vẻn vẹn mấy chục đồng (tiền cũ) một tháng, thì đã có nhiều câu chuyện
cảm động, những tấm gương liêm khiết của cán bộ ngành Toà án. Người cán bộ
ngày ấy thật thà liêm khiết đáng ca ngợi là Nguyễn Ngọc Thẩm - cán bộ Tòa án
GVHD: Nguyễn Chi Hiếu

12

SVTH: Phùng Văn Khánh


Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự
nhân dân tỉnh Cao Bằng, Nguyễn Xuân Phúc tỉnh Thái Bình, Vũ Thị Tâm, chánh
án Phạm Văn Phiêu và Thẩm phán Nguyễn Vãn Hanh của tỉnh Thái Bình... Các
Thẩm phán của nước ta đã thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ xét xử các vụ
án mà pháp luật giao phó, đội ngũ Thẩm phán luôn luôn cận kẽ trong các công
tác xét xử nhằm đảm bảo chất lượng xét xử các vụ án, họ có kỹ năng nghề nghiệp
tốt, nhận thức được trách nhiệm nghề nghiệp của mình và thường xuyên trau dồi
đạo đức nghề nghiệp, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Khi xét xử, các Thẩm phán luôn tuân theo các quy định của pháp luật, từng
trường họp phạm tội cụ thể, cân nhắc kỹ rồi soi chiếu vào các quy định của pháp
luật để có quyết định đúng đắn, có hướng giải quyết sao cho thấu tình đạt lý
nhằm mục tiêu bảo vệ quyền lợi con người, thể hiện tính nghiêm minh và góp
phần xây dựng xã hội công bằng dân chủ và văn minh. Các Thẩm phán luôn nhận
thức một cách toàn diện và đầy đủ về vai trò, chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của
mình trong công việc cũng như ừong phiên tòa xét xử các loại tội phạm. Bên
cạnh công tác xét xử là việc tuyên truyền phổ biến và giải thích các quy định của
pháp luật cho nhân dân, sau mỗi phiên tòa xét xử là những bài học kinh nghiệm

nhà nước pháp
quyền xã hội
chủ nghĩa, Tạp
chí
Nghiên
cứu lập pháp sốcác trường hợp kết án oan người vô tội đã giảm rõ rệt (năm 2000 có 53 trường2+3
(139+140)
hợp, năm 2001 có 20 trường hợp, năm 2002 có 23 trường hợp, năm 2003 có 7 tháng 1 năm
2009, tr.43

xử. Họ không nhận bất kỳ chỉ thị, mệnh lệnh nào trong khi thực hiện hoạt động
xét xử của mình. Tuy nhiên, khi xét xử, Thẩm phán rất chú trọng tời lập luận của
Luật sư và Công tố viêc trước khi đưa ra những phán quyết cuối cùng theo quy
định của pháp luật. Khi Thẩm phán nghi ngờ là có tội hay không có tội thì bị cáo
được xem như là vô tội. Trong trường hợp bị cáo có tội thì Thẩm phán cho bị cáo
nói lời sau cùng trước khi đưa ra quyết định của Toà án.(S)

2.3. Thẩm phán Liêng Bang Nga
Pháp luật các nước đều thừa nhận vai trò và ý nghĩa quan trọng của việc
phải xây dựng hệ thống tư pháp hoạt động hiệu quả và gọn nhẹ. Ở Cộng Hoà
Liên bang Nga, nghề Thẩm phán là một ừong những nghề rất được xã hội trọng
vọng và pháp luật dành cho nhiều ưu đãi. Một bộ phận cốt lõi của hệ thống Tư
pháp là cơ quan xét xử. Các cơ quan xét xử chỉ có thể hoạt động hiệu quả
khi có độ ngũ Thẩm phán giỏi, có năng lực, chuyên nghiệp, chí công, vô tư.
Luật pháp Liên bang Nga có những quy định cụ thể để bảo đảm hoạt
động xét xử độc lập của Thẩm phán cũng như quyền lợi của họ. Thẩm phán
có quyền bất khả bãi miễn quyền tài phán và quyền được bảo vệ, Thẩm
phán có quyền bất khả xâm phạm, sự bất khả xâm phạm còn được mở rộng
đến nơi ở, nơi làm việc, phương tiện làm việc, tài sản Thẩm phán không bị
truy cứu trách nhiệm hành chính và trách nhiệm kỷ luật. Thẩm phán có thể
không bị khởi tố vụ án hình sự, bị bắt giam, bị giam nếu không có sự phê
chuẩn của Toà án. Việc bảo đảm vật chất cho Thẩm phán không chỉ được
áp dụng khi Thẩm phán đương nhiệm mà còn cả khi họ về hưu, từ chức.
Tuỳ theo cấp và trình độ, Thẩm phán được hưởng lương, lương hưu và
phụ cấp tương xứng. Thẩm phán được cấp nhà, được miễn hoặc ưu tiên
trong việc sử dụng các dịch vụ xã hội như: được quyền sử dụng các phương
tiện giao thông công cộng không phải trả tiền khi có thẻ công vụ, được
quyền giữ chỗ trước, phục vụ ưu tiên trong các dịch vụ khách sạn, dịch vụ
điện thoại Thẩm phán và các thành viên trong
gia đình được &fuseaction=3

Thẩm phán xét xử và Thẩm phán buộc tội. về nguyên tắc, các Thẩm phán công
tác tại cơ quan Bộ Tư pháp ngoài nhiệm vụ công tố, họ còn thực hiện các chức
năng quản lý dân sự hoặc soạn thảo văn bản. Vì vậy, ngoài quy chế Thẩm phán
chung họ còn phải tuân theo quy chế riêng khá độc đáo. Ở Pháp, Thẩm phán
được chia làm ba hạng: hạng nhất, hạng nhì và ngoại hạng, mỗi hạng Thẩm phán
lại chia thành hai bậc là bậc một và bậc hai. Muốn được bổ nhiệm vào chức vụ
Thẩm phán hạng nhì bậc hai, phải có ít nhất bảy năm công tác trong cơ quan tư
pháp. Thẩm phán hạng nhì chỉ được nâng lên bậc Thẩm phán hạng nhất nếu có
tên trong danh sách thăng thưởng và đã qua mười năm công tác ở cương vị Thẩm
phán hạng nhì.(7)

2.5. Thẩm phán ở nước Mỹ
Ở Liên Bang Hoa Kỳ, quy trình tuyển chọn Thẩm phán rất nghiêm ngặt,
khắt khe. Trước hết phải được tham khảo ý kiến của đội ngũ nhân viên Nhà
Trắng, văn phòng Chưởng lý, một số thượng nghị sĩ và các nhà hoạt động chính
trị khác. Các phẩm chất và năng lực của ứng cử viên sẽ được bộ phận chuyên
môn của Hiệp hội luật sư Hoa kỳ đánh giá. Tiếp theo là thủ tục kiểm tra an ninh
phong.
&fuseaction=3 &a
của Cụcgov.vn/sotuphap/vn/index.asp?memiid=534&parent
điều tra Liên Bang (FBI), của bộ phận chuyên tráchmenuid^421
thuộc Bộ tư pháp.
rticleid=1730
(J> Phạm Liên, Quy chế đối vói thẩm phán của một số nước trên thế, cập nhật Thứ tư, 25/02/2009
http://ww w.haiphong. gov.vn/sotuphap/vn/index.asp?menuid=515&parent menuid=421 &fuseaction=3 &a
rticleid=1850-.

GVHD: Nguyễn Chí Hiếu

16

nhau có những quy định về vấn đề này không giống nhau. Mỗi quốc gia có một
chế độ chính trị, nền kinh tế, văn hóa khác nhau nên những quy định về quy chế
đào tạo, bổ nhiệm và có những ưu đãi cho Thẩm phán cũng khác nhau. Không
chỉ các nước trên thế giới mà Việt Nam cũng vậy, Thẩm phán là người có vai trò
rất quan trọng trong Tòa án. Thẩm phán là người thay mặt cho Tòa án thực hiện
chức năng xét xử, giải quyết các vụ án, đem lại chân lý, sự công bằng cho mọi
người, giúp giải oan cho người vô tội và kẻ phạm tội phải chịu một hành phạt
tương ứng với tội danh mà họ phạm phải. Đe hoạt động xét xử thật sự công bằng,
việc giải quyết các vụ án đem lại kết quả cao thì bên cạnh Hội thẩm nhân dân,
Kiểm sát viên, Luật sư còn phải có đội ngũ Thẩm phán giỏi, có năng lực có
chuyên môn, lương tâm trong sáng, chí công vô tư. Đội ngũ Thẩm phán ở nước
ta từ khi thành lập cho đến nay đã có nhiều đóng góp to lớn cho nền Tư pháp
name=News&fĩle=save&sid=247.
Cập nhật ngày
07.03.2008.

GVHD: Nguyễn Chí Hiếu

17

SVTH: Phùng Văn Khánh


Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự
nước nhà, đưa các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống. Bên cạnh những quy
định về quy chế, hoạt động xét xử của Thẩm phán ở nước mình, chúng ta cần học
hỏi kinh nghiệm xét xử, cách thức đào tạo của các nước khác trên thế giới để xây
dựng đội ngũ Thẩm phán trong tương lai thật giỏi, liêm khiết, giải quyết được
nhiều vụ án lớn, không để xảy ra oan sai, các vụ chạy án, góp phần xây dựng xã
hội công bằng dân chủ văn minh.

Thẩm phán. Theo quy định tại Điểu 15 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân
dân năm 2002 thì Thẩm phán không được làm những việc sau đây:
Thẩm phán không được tư vấn cho bị can, bị cáo, đương sự hoặc người
tham gia tố tụng khác làm cho việc giải quyết vụ án hoặc những việc khác không
đúng quy định của pháp luật, can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết vụ án
hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm giải quyết
vụ án, đem hồ sơ vụ án hoặc tài liệu trong hồ sơ vụ án ra khỏi cơ quan, nếu
không vì nhiệm vụ được giao hoặc không được sự đồng ý của người có thẩm
quyền hay tiếp bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác trong
vụ án mà mình có thẩm quyền giải quyết ngoài nơi quy định... Nhiệm vụ của các
Thẩm phán là xét xử chính xác những vụ án được đem ra xét xử, không được ăn
hối lộ vị nể, vì sợ hãi vì tư lợi hay thù oán riêng mà bênh vực hay làm hại một bị
cáo nào, công bằng xác định mọi việc, không được tiết lộ ra ngoài những điều
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu

19

SVTH: Phùng Văn Khánh


Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự
Công việc của Thẩm phán là thực hiện chức năng xét xử các vụ phạm tội.
Thẩm phán có nghĩa vụ tôn trọng mọi chứng cứ và các sự thật khách quan. Thẩm
phán tham gia phiên tòa xét xử với tư cách một người thay mặt pháp luật bảo vệ
công lý, đem lại công bằng ừong xã hội. Vì vậy bản thân Thẩm phán không được
tùy tiện đem các tài liệu chứng cứ mà các các cơ quan chức năng, cơ quan pháp
luật đã qua một quá trình lâu dài điều tra mới thu thập được có liên quan đến vụ
án ra khỏi phiên tòa để vì mục đích tư lợi cá nhân không vì nhiệm vụ. Như vậy là
vi phạm nghiêm trọng những điều pháp luật nước ta đã quy định.
Khi đóng vai trò là người đứng ra xét xử vụ án nắm được tình tiết của vụ án,

20

SVTH: Phùng Văn Khánh



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status