VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 68

VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI.
I - KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI:
Ngân hàng là một trong những ngành công nghiệp lâu đời nhất. Trải qua quá
trình phát triển của xã hội loài người Ngân hàng và nghề Ngân hàng không ngừng
được hoàn thiện và phát triển. Nếu như trong thời kỳ sơ khai hoạt động của Ngân
hàng chỉ giới hạn trong việc giữ hộ của cải hoặc thanh toán hộ thì cho đến nay hoạt
động của Ngân hàng đã được mở ra trên rất nhiều các lĩnh vực với công nghệ ngày
càng hoàn thiện. Thực tế nhiều năm qua đã chứng tỏ cho thấy rằng : Ngân hàng là
một ngành nghề không thể thiếu được trong nền kinh tế, nó đóng vai trò làm môi
giới, làm trung gian cho sự gặp gỡ của cung và cầu tiền tệ, thông qua việc huy
động vốn tạm thời nhàn rỗi từ dân cư và các tổ chức trong xãa hội rồi cho vay lại
đối với cá nhân, các tổ chức đang có nhu cầu về vốn. Điều này góp phần đẩy mạnh
tốc độ quay vòng của vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội, biền tiền nhàn rỗi vào
đầu tư sản xuất kinh doanh, tránh lãnh phí của cải vật chất cho xã hội. Qua đó đẩy
mạnh tốc độ phát triển kinh tế mà tình hình hoạt động của Ngân hàng phản ánh rất
chính xác tình hình nền kinh tế, sự vững mạnh, phồn vinh hay yếu kém của nền
kinh tế được phản ánh rất rõ qua hoạt động của Ngân hàng.
Ngân hàng thương mại ra đời như một đứa con ưu tú nhất của nền kinh tế
hàng hoá và chính Ngân hàng thương mại đến lượt mình đã ghóp phần quan trọng
vào sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá.
Ngân hàng thương mại đầu tiên được thành lập vào năm 1782 và đã có rất
nhiều Ngân hàng được thành lập từ những năm 1800 đến nay vẫn đang hoạt động
chứng rỏ sức sống bền bỉ và sự tồn tại khách quan của các NHTM. Trong các định
chế tài chính thì NHTM là định chế quan trọng nhất vì nó giữ phần lớn của xã hội.
Hệ thống NHTM : Bao gồm các NHTM Quốc doanh, NHTM cổ phần, Ngân
hàng tư nhân với chức năng chính là kinh doanh thông qua hoạt động trung gian tài
chính và thực hiện các dịch vụ Ngân hàng. Hệ thống Ngân hàng thương mại hoạt
động dưới sự kiểm tra, giám sát của Nhà nước thông qua các quy chế, quy định về
hoạt động và thông qua việc thực hiện các văn bản, chế độ của Ngân hàng Nhà
nước để thực hiện các định hướng trong chính sách tiền tệ tài chính của Nhà nước.

thống Ngân hàng nói chung.
II - VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG NHTM ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ:
Nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, trải qua một thời gian dài trong cơ
chế tập trung quan liêu bao cấp, nên bước vào cơ chế thị trường gặp rất nhiều khó
khăn. Vấn đề lo đủ vốn để phát triển kinh tế được đưa lên hàng đầu. Đối với một
nền kinh tế như nước ta thì vốn cần cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng là hết sức
lớn và không ngừng tăng lên.
Công cuộc đổi mới mở ra toàn diện và bắt đầu đi vào chiều sâu, yêu cầu phải
có vốn để tăng tốc đầu tư, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế thưo chiều hướng
công nghiệp hoá và hiện đại hóa, đảm bảo nhịp độ tăng trưởng kinh tế nhanh và lâu
bền, tạo sự phát triển kinh tế quan trọng cho các năm tới.
Đối với Ngân hàng thương mại, nó thể hiện được sự đáp ứng này đối với
nền kinh tế, thông qua vai trò của mình là :
1) Ngân hàng thương mại là nơi huy động tập trung vốn tạm thời nhàn rỗi
trong xã hội để cung cấp cho nhu cầu của nền kinh tế :
Như chúng ta đã biết trong xã hội luôn luôn tồn tại mâu thuẫn về sự thừa và
sự thiếu vốn một cách tạm thời, tức là có tình trạng một thời kỳ nào đó người thì
thừa tiền, trong khi lại có những người cần tiền. Đối với những người, những tổ
chức có tiền tạm thời nhãn rỗi, thì vấn để đối với họ là làm sao bảo quản được số
tiền đó được an toàn và nếu có thể sinh lợi được thì càng tốt. Nhưng để thực hiện
được điều này, nó còn phụ thuộc vào khả năng, vào mối quan hệ của từng người,
và thông thường những người có tiền tạm thời nhàn rỗi luôn tìm cách cho những
người hay những tổ chức đang có nhu cầu về vốn vay trong một thời hạn nhất định
chứ không trực tiếp đầu tư vào sản xuất do sự giới hạn và khả năng thu hồi tiền
mặt. Tuy nhiên điều này hầu như rất khó thực hiện được. Do vậy, trong xã hội luôn
luôn tồn tại mâu thuẫn này. Xét về mặt kinh tế thì lượng tiền này nếu được tập
trung lại để cho vay với những người đang có nu cầu sẽ đem lại lợi ích kinh tế cho
cả người có tiền nhàn rỗi và người có nhu cầu về vốn nói riêng và đem lại hiệu quả
kinh tế cho cả nền kinh tế nói chung, Ngân hàng thương mại chính là người thực
hiện chức năng cầu nối này.

lãi suất ở đầu ra để hạn chế lượng tiền mặt ra trong thời kỳ kinh tế có lạm phát cao,
hoặc các Ngân hàng có thể hành động ngược lại khi nền kinh tế có hiện tượng
giảm sút. Qua việc thay đổi trong chính sách huy động và cho vay như trên, Ngân
hàng góp phần làm ổn định sức mua của đồng tiền, ngăn chặn được sự tăng giá đột
ngột, kiềm chế làm phát làm ổn định nền kinh tế.
5) Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa kinh tế trong nước và ngoài nước,
tạo điều kiện cho nền kinh tế trong nước hòa nhập với nền kinh tế trong khu vực và
nền kinh tế trên thế giới.
Một Ngân hàng thương mại có phạm vi hoạt động và quan hệ rộng rãi với
rất nhiều tổ chức kinh tế. Nó có khả năng huy động được vốn từ các cá nhân, tổ
chức ngoài nước hay tổ chức tài chính tín dụng quốc tế, qua đó đảm bảo được vốn
cho nền kinh tế trong nước, tạo điều kiện cho các tổ chức kinh tế trong nước có thể
mở rộng hoạt động của họ ra nước ngoài một cách có hiệu quả hơn, thông qua hoạt
động thanh toán quốc tế, tư vấn tài trợ xuất nhập khẩu. Ngân hàng có thể làm đại lý
cho các tổ chức tài chính, tín dụng nước ngoài qua đó giúp các tổ chức kinh tế
trong nước có thể vau vốn các tổ chức này để nhập công nghệ cao, nang cao chất
lượng sản phẩm đủ sức cạnh trạnh với thị trường quốc tế.
Trên đây, là toàn bộ khái quát về vài trò của hệ thống Ngân hàng thương mại
hoạt động trong cơ chế thị trường. Trên góc độ một sinh viên nghiên cứu về hoạt
động đầu vào của một ngân hàng, mà chủ yếu là hoạt động huy động vốn ta sẽ xem
xét kỹ hơn vấn đền này thông qua việc huy động vốn của một Ngân hàng thương
mại trong nền kinh tế thị trường.
III - CƠ CẤU NGUỒN VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI :
Cũng giống như mọi hoạt động kinh tế khác, Ngân hàng muốn hoạt động
được trước hết phải có vốn. Nhưng vì mặt hàng kinh doanh của Ngân hàng rất đặc
biệt, vì vị trí và vai trò của nó cho nên nhu cầu về vốn của Ngân hàng thương mại
là rất lớn, do vậy nguồn vốn của Ngân hàng thương mại bao gồm :
1) Nguồn vốn tự có :
Nguồn vốn này được hình thành từ hai bộ phần là :
+ Vốn điều lệ: Đây là số vốn ban đầu của một Ngân hàng thương mại, là

Chính vì thế, đây có thể coi là một nguồn vốn khá quan trọng, nó giúp Ngân
hàng có thể mở rộng được thị trường đầu ra trong điều kiện thị trường đầu vào vẫn
còn bị hạn chế và qua đó làm tăng lợi nhuận của Ngân hàng.
4) Nguồn vốn tín dụng của Ngân hàng :
+ Nguồn vốn vay Ngân hàng nhà nước:
NHTM thực hiện việc vay tiền của Ngân hàng Nhà nước thông qua hình
thức chiết khấu các giấy tờ có giá. Khi Ngân hàng có nhu cầu rút tiền mặt của
khách hàng, họ có thể mang các giấy tờ có giá như : tín phiếu, trái phiếu kho bạc
Nhà nước, tiền triết khấu. Nguồn vốn này hình thành chủ yếu là để đảm bảo kảh
năng thanh toán của Ngân hàng.
+ Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng quốc tế :


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status