Vai trò của nguồn vốn trong hoạt động của Ngân hàng thương mại - Pdf 64

Vai trò của nguồn vốn trong hoạt động của Ngân hàng thương mại
I - khái quát về Ngân hàng thương mại:
Ngân hàng là một trong những ngành công nghiệp lâu đời nhất. Trải
qua quá trình phát triển của xã hội loài người Ngân hàng và nghề Ngân hàng
không ngừng được hoàn thiện và phát triển. Nếu như trong thời kỳ sơ khai
hoạt động của Ngân hàng chỉ giới hạn trong việc giữ hộ của cải hoặc thanh
toán hộ thì cho đến nay hoạt động của Ngân hàng đã được mở ra trên rất
nhiều các lĩnh vực với công nghệ ngày càng hoàn thiện. Thực tế nhiều năm qua
đã chứng tỏ cho thấy rằng : Ngân hàng là một ngành nghề không thể thiếu
được trong nền kinh tế, nó đóng vai trò làm môi giới, làm trung gian cho sự
gặp gỡ của cung và cầu tiền tệ, thông qua việc huy động vốn tạm thời nhàn rỗi
từ dân cư và các tổ chức trong xãa hội rồi cho vay lại đối với cá nhân, các tổ
chức đang có nhu cầu về vốn. Điều này góp phần đẩy mạnh tốc độ quay vòng
của vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội, biền tiền nhàn rỗi vào đầu tư sản xuất
kinh doanh, tránh lãnh phí của cải vật chất cho xã hội. Qua đó đẩy mạnh tốc độ
phát triển kinh tế mà tình hình hoạt động của Ngân hàng phản ánh rất chính
xác tình hình nền kinh tế, sự vững mạnh, phồn vinh hay yếu kém của nền kinh
tế được phản ánh rất rõ qua hoạt động của Ngân hàng.
Ngân hàng thương mại ra đời như một đứa con ưu tú nhất của nền kinh
tế hàng hoá và chính Ngân hàng thương mại đến lượt mình đã ghóp phần
quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá.
Ngân hàng thương mại đầu tiên được thành lập vào năm 1782 và đã có
rất nhiều Ngân hàng được thành lập từ những năm 1800 đến nay vẫn đang
hoạt động chứng rỏ sức sống bền bỉ và sự tồn tại khách quan của các NHTM.
Trong các định chế tài chính thì NHTM là định chế quan trọng nhất vì nó giữ
phần lớn của xã hội.
Hệ thống NHTM : Bao gồm các NHTM Quốc doanh, NHTM cổ phần, Ngân
hàng tư nhân với chức năng chính là kinh doanh thông qua hoạt động trung
gian tài chính và thực hiện các dịch vụ Ngân hàng. Hệ thống Ngân hàng
thương mại hoạt động dưới sự kiểm tra, giám sát của Nhà nước thông qua các
quy chế, quy định về hoạt động và thông qua việc thực hiện các văn bản, chế độ

Tài Chính, bảo toàn vốn và có lãi.
Thực tế đã chứng tỏ rằng, với mô hình tổ chức trên, thì đây là mô hình tổ
chức thích hợp nhất trong nền kinh tế thị trường, vì nó đáp ứng được đầy đủ
nhu cầu của nền kinh tế, đồng thời phát huy được hết sức mạnh sẵn có trong
mỗi NHTM và phát huy được hết vai trò của cả hệ thống NHTM nói riêng và cả
hệ thống Ngân hàng nói chung.
II - vai trò của hệ thống NHTM đối với nền kinh tế:
Nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, trải qua một thời gian dài
trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, nên bước vào cơ chế thị trường gặp
rất nhiều khó khăn. Vấn đề lo đủ vốn để phát triển kinh tế được đưa lên hàng
đầu. Đối với một nền kinh tế như nước ta thì vốn cần cho đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng là hết sức lớn và không ngừng tăng lên.
Công cuộc đổi mới mở ra toàn diện và bắt đầu đi vào chiều sâu, yêu cầu
phải có vốn để tăng tốc đầu tư, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế thưo
chiều hướng công nghiệp hoá và hiện đại hóa, đảm bảo nhịp độ tăng trưởng
kinh tế nhanh và lâu bền, tạo sự phát triển kinh tế quan trọng cho các năm tới.
Đối với Ngân hàng thương mại, nó thể hiện được sự đáp ứng này đối với
nền kinh tế, thông qua vai trò của mình là :
1) Ngân hàng thương mại là nơi huy động tập trung vốn tạm thời nhàn
rỗi trong xã hội để cung cấp cho nhu cầu của nền kinh tế :
Như chúng ta đã biết trong xã hội luôn luôn tồn tại mâu thuẫn về sự
thừa và sự thiếu vốn một cách tạm thời, tức là có tình trạng một thời kỳ nào đó
người thì thừa tiền, trong khi lại có những người cần tiền. Đối với những
người, những tổ chức có tiền tạm thời nhãn rỗi, thì vấn để đối với họ là làm
sao bảo quản được số tiền đó được an toàn và nếu có thể sinh lợi được thì
càng tốt. Nhưng để thực hiện được điều này, nó còn phụ thuộc vào khả năng,
vào mối quan hệ của từng người, và thông thường những người có tiền tạm
thời nhàn rỗi luôn tìm cách cho những người hay những tổ chức đang có nhu
cầu về vốn vay trong một thời hạn nhất định chứ không trực tiếp đầu tư vào
sản xuất do sự giới hạn và khả năng thu hồi tiền mặt. Tuy nhiên điều này hầu

này thông qua hoạt động điều chuyển vốn của Ngân hàng thương mại trung
ương.
4) Ngân hàng thương mại thông qua hoạt động của mình ghóp phần
quan trọng vào việc chống lạm phát, ổn định sức mua của đồng tiền, ổn định
tình hình kinh tế.
Trong hoạt động của mình, Ngân hàng có thể giảm bớt lượng tiền mặt
trong lưu thông bằng cách tăng lãi suất huy động để thu hút tiền mặt vào đồng
thời tăng lãi suất ở đầu ra để hạn chế lượng tiền mặt ra trong thời kỳ kinh tế
có lạm phát cao, hoặc các Ngân hàng có thể hành động ngược lại khi nền kinh
tế có hiện tượng giảm sút. Qua việc thay đổi trong chính sách huy động và cho
vay như trên, Ngân hàng góp phần làm ổn định sức mua của đồng tiền, ngăn
chặn được sự tăng giá đột ngột, kiềm chế làm phát làm ổn định nền kinh tế.
5) Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa kinh tế trong nước và ngoài
nước, tạo điều kiện cho nền kinh tế trong nước hòa nhập với nền kinh tế
trong khu vực và nền kinh tế trên thế giới.
Một Ngân hàng thương mại có phạm vi hoạt động và quan hệ rộng rãi
với rất nhiều tổ chức kinh tế. Nó có khả năng huy động được vốn từ các cá
nhân, tổ chức ngoài nước hay tổ chức tài chính tín dụng quốc tế, qua đó đảm
bảo được vốn cho nền kinh tế trong nước, tạo điều kiện cho các tổ chức kinh tế
trong nước có thể mở rộng hoạt động của họ ra nước ngoài một cách có hiệu
quả hơn, thông qua hoạt động thanh toán quốc tế, tư vấn tài trợ xuất nhập
khẩu. Ngân hàng có thể làm đại lý cho các tổ chức tài chính, tín dụng nước
ngoài qua đó giúp các tổ chức kinh tế trong nước có thể vau vốn các tổ chức
này để nhập công nghệ cao, nang cao chất lượng sản phẩm đủ sức cạnh trạnh
với thị trường quốc tế.
Trên đây, là toàn bộ khái quát về vài trò của hệ thống Ngân hàng thương
mại hoạt động trong cơ chế thị trường. Trên góc độ một sinh viên nghiên cứu
về hoạt động đầu vào của một ngân hàng, mà chủ yếu là hoạt động huy động
vốn ta sẽ xem xét kỹ hơn vấn đền này thông qua việc huy động vốn của một
Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường.

hiện tình trạng ở Ngân hàng này có hiện tượng thừa vốn do huy động nhiều
nhưng không sử dụng hết, trong khi đó Ngân hàng kia lại thiếu vốn. Sở dĩ có
tình trạng này là do : Về phía Ngân hàng thừa vốn có thể do sự biến động lớn ở
thị trường đầu ra dẫn đến việc không mở rộng được hoạt động trong khi vẫn
phải duy trì việc huy động vốn vì mục đích giữ khách hàng. Còn về phía bên
Ngân hàng thiếu vốn do thị trường đầu ra mở rộng trong khi thị trường đầu
vào không thể mở rộng được hơn nữa, dẫn đến tình trạng thiếu vốn. Chính lúc
này Ngân hàng trung ương hoặc các hội sở chính sẽ thực hiện việc điều phối
chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu trên cơ sở hai bên cùng có lợi.
Chính vì thế, đây có thể coi là một nguồn vốn khá quan trọng, nó giúp
Ngân hàng có thể mở rộng được thị trường đầu ra trong điều kiện thị trường
đầu vào vẫn còn bị hạn chế và qua đó làm tăng lợi nhuận của Ngân hàng.
4) Nguồn vốn tín dụng của Ngân hàng :
+ Nguồn vốn vay Ngân hàng nhà nước:
NHTM thực hiện việc vay tiền của Ngân hàng Nhà nước thông qua hình
thức chiết khấu các giấy tờ có giá. Khi Ngân hàng có nhu cầu rút tiền mặt của
khách hàng, họ có thể mang các giấy tờ có giá như : tín phiếu, trái phiếu kho
bạc Nhà nước, tiền triết khấu. Nguồn vốn này hình thành chủ yếu là để đảm
bảo kảh năng thanh toán của Ngân hàng.
+ Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng quốc tế :
Đây là loại vốn vay chiếm tỷ trọng không lớn ở nhữn nước đang phát
triển, bởi vì ở các nước này Ngân hàng muốn có được vốn ở nguồn này phải
được phép của Ngân hàng Nhà nước và thường dưới hình thức vay theo hiệp
định.
5) Nguồn vốn huy động:
Đây là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất để Ngân hàng có thể hoạt
động để cho vay. Đây là số tiền Ngân hàng nhận được dưới nhiều hình thức
khác nhau.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status