ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HÀ DUY HIỂN
VAI TRß CñA THÈM PH¸N
TRONG Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HÀ DUY HIỂN
VAI TRß CñA THÈM PH¸N
TRONG Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TSKH. LÊ VĂN CẢM
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Các mô hình tố tụng hình sự và vai trò của những ngƣời
tiến hành tố tụng ............................................................................... 21
Những yếu tố tác động đến vai trò của Thẩm phán trong
hoạt động tố tụng hình sự ................................................................ 25
1.3.1. Yếu tố truyền thống pháp lý ............................................................... 25
1.3.2. Yếu tố văn hóa pháp lý ....................................................................... 27
1.3.3. Những ảnh hưởng của phương thức tổ chức quyền lực nhà nước .......... 28
Kết luận Chƣơng 1 ........................................................................................ 31
1.3.
Chƣơng 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH
SỰ VIỆT NAM VỀ VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN VÀ THỰC
TIỄN THI HÀNH ............................................................................... 32
Lịch sử hình thành và phát triển của các quy định pháp luật
về vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự ở
nƣớc ta từ 1945 đến nay ................................................................... 32
2.1.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1980 ............................................... 32
2.1.2. Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992 ............................................... 35
2.1.
2.1.3. Giai đoạn từ năm 2002 đến nay ......................................................... 38
Vai trò của Thẩm phán trong thực tiễn hoạt động tố tụng
hình sự................................................................................................ 39
2.2.1. Vai trò của Thẩm phán trong việc thực hiện các quyền và nghĩa
vụ theo quy định của pháp luật luật tố tụng hình sự .......................... 39
2.2.2. Vai trò của Thẩm phán trong việc thực hiện các nguyên tắc cơ
bản của pháp luật tố tụng hình sự....................................................... 51
Kết luận Chƣơng 3 ........................................................................................ 80
3.4.
KẾT LUẬN .................................................................................................... 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 84
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS:
Bộ Luật tố tụng hình sự
HĐXX:
Hội đồng xét xử
TAND:
Tòa án nhân dân
TANDTC:
Tòa án nhân dân Tối cao
TAQS:
Tòa án Quân sự
XHCN:
1
phát triển mới về nhận thức lý luận trong lĩnh vực tư pháp nhằm thực hiện
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX với mục tiêu xây dựng Nhà
nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân. Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ X, XI tiếp tục khẳng định nhiệm vụ: “Cải cách tư pháp khẩn trương,
đồng bộ, lấy cải cách hoạt động xét xử làm trung tâm” [18, tr.127].
Trước yêu cầu hội nhập sâu rộng nhằm nâng cao vị thế, vai trò của Việt
Nam với cộng đồng Quốc tế trên tất cả các lĩnh vực với mục tiêu Việt Nam
muốn làm bạn, làm đối tác tin cậy, là nước có trách nhiệm trong việc giải
quyết các vấn đề Quốc tế có liên quan và một trong những lĩnh vực trọng tâm
là Việt Nam đang quan tâm thực hiện cải cách hành chính, cải cách pháp luật
một cách đồng bộ phù hợp với luật pháp Quốc tế.
Hiến pháp 2013 quy định “Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo
vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích
của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” [33, Khoản 3],
trên tinh thần đó, vấn đề đặt ra cho các cơ quan Tư pháp Việt Nam nói chung
và ngành Tòa án nói riêng nhiều thách thức thực sự là cơ quan bảo vệ công lý
và công bằng xã hội. Việt Nam đã và sẽ tham gia thực hiện các công ước, điều
ước quốc tế khi gia nhập và trở thành thành viên, đòi hỏi hệ thống pháp luật
bao gồm cả luật nội dung và luật tố tụng cần được sớm hoàn thiện. Thực tiễn
trên đây đã đặt ra cho các Thẩm phán Việt Nam không những cần phải có kiến
thức sâu rộng trong nhiều lĩnh vực luật nội dung mà còn phải hiểu biết và áp
dụng thành thạo luật tố tụng liên quan để giải quyết các loại vụ án tranh chấp.
Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số
nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Tòa án đã tiến hành
xét xử theo hướng nâng cao vai trò tranh tụng, đảm bảo quyền của bị cáo và
những người tham gia tố tụng. Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ
yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa” [6]. Một phiên tòa nói chung và
phiên tòa sơ thẩm hình sự nói riêng có bảo đảm tính chất tranh tụng hay
3
không phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Vai trò của Hội đồng xét xử, của
Kiểm sát viên, của Luật sư, của những người tiến hành tố tụng và người tham
gia tố tụng khác, nhưng vai trò của chủ tọa phiên tòa là quan trọng nhất. Kết
quả phiên tòa phụ thuộc chủ yếu vào vai trò của chủ tọa phiên tòa. Vì vậy, tác
giả đã chọn đề tài: “Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam”
để làm luận văn thạc sỹ. Thông qua đề tài này, tác giả muốn làm rõ thêm vai
trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự Việt Nam, từ đó đề xuất
một số vấn đề hoàn thiện các quy định của pháp luật về vai trò của Thẩm
phán trước yêu cầu cải cách tư pháp, nhằm nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa
án trong giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1. Các sách (sách chuyên khảo, sách tham khảo, sách hướng dẫn
và giáo trình)
1). GS.TSKH Lê Cảm (2003) “Nguyên tắc tranh tụng trong hệ thống
các nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự”, Tạp chí luật học.
2). GS.TSKH Lê Cảm (chủ biên) “Hệ thống tư pháp hình sự trong giai
đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền" Sách chuyên khảo, Khoa Luật Đại học
Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội 2009.
3). PGS.TS. Phạm Hồng Hải (2003), “Mô hình lý luận Bộ luật tố tụng
hình sự Việt Nam”. Nxb Công an nhân dân, Hà Nội
4). PGS.TS Nguyễn Đăng Dung (2004), “Thể chế tư pháp trong nhà
nước pháp quyền”. Nxb Tư pháp, Hà Nội
5). PGS.TS Đinh Văn Quế (2005), “Pháp luật hình sự thực tiễn xét xử
và án lệ”. Nxb Lao động - Xã hội.
xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Tạp chí Tòa
án nhân dân – Tòa án nhân dân Tối cao số 11, tháng 6/2012.
5
8). Nguyễn Quang Ngọc - Nguyên Thẩm phán TANDTC (2013) “ Bàn
về chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung”. Tạp chí Tòa án nhân dân - Tòa án
nhân dân Tối cao số 8, tháng 4/2013.
9). Thạc sỹ Nguyễn Văn Trượng (2013) “Hoàn thiện thủ tục xét xử vụ
án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp”. Tạp chí Tòa án nhân dân – Tòa án
nhân dân Tối cao số 19,tháng 10/2013.
10). Thạc sỹ Nguyễn Thị Thúy Hằng, Giảng viên khoa Luật – Đại học
Huế (2014) “Một số kiến nghị góp phần thực hiện có hiệu quả nguyên tắc
tranh tụng tại phiên tòa hình sự”. Tạp chí Tòa án nhân dân – Tòa án nhân
dân Tối cao số 11, tháng 6/2014.
11). Thạc sỹ Nguyễn Văn Nhớ, Thẩm phán Tòa án Quân sự khu vực 1 Quân khu 9 (2014) “Hoàn thiện quy định về quyền hạn, trách nhiệm của Chủ
tọa phiên tòa trong tố tụng hình sự theo yêu cầu của cải cách tư pháp”. Tạp
chí tòa án nhân dân – Tòa án nhân dân Tối cao số 14, tháng 7/2014.
12). Nguyễn Quang Lộc - Nguyên Thẩm phán TANDTC “Kỹ năng viết
Bản án hình sự sơ thẩm”. Tạp chí Tòa án nhân dân – Tòa án nhân dân Tối
cao số 17, tháng 9/2014.
13). “Đổi mới và tăng cường công tác thông tin - tuyên truyền về tòa án
nhân dân đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị
quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị”. Tạp chí Tòa án nhân dân - Tòa án nhân
dân Tối cao số 02 - tháng 01/2015
2.2. Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng nói chung và
trong tố tụng hình sự nói riêng đã có một số công trình nghiên cứu của các
tác giải như
1). Luận án Tiến sỹ của tác giả Đỗ Gia Thư (2006) “Cơ sở khoa học
nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các
quan điểm, tư tưởng của Đảng, Nhà nước về Nhà nước và pháp luật, về cải
cách tư pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xét xử các vụ án hình sự đối
với ngành Tòa án nói chung và Thẩm phán nói riêng.
7
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các quy định của pháp luật về vai trò của
Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay;
Thẩm phán trong hoạt động thực tiễn xét xử.
Luận văn có tham khảo kinh nghiệm pháp luật tố tụng hình sự của một
số quốc gia và một số công trình nghiên cứu của các tác giả, nhà khoa học
pháp lý chuyên ngành.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự được thể hiện ở
tất cả các giai đoạn xét xử như: giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám
đốc thẩm, tái thẩm. Phạm vi nghiên cứu về Vai trò của Thẩm phán trong hoạt
động tố tụng ở tất cả các giai đoạn trên có tính chất đa dạng, phức tạp và rộng
lớn và được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau.
Tuy nhiên bản thân tác giả hiện đang công tác trong ngành thi hành án
dân sự cấp huyện, vì vậy trong quá trình nghiên cứu viết Luận văn do nhận
thức trong công tác nghiên cứu còn có mặt hạn chế, nên tác giả chỉ giới hạn
trong việc nghiên cứu về vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình
sự Việt Nam ở giai đoạn xét xử sơ thẩm về các vụ án hình sự.
6. Những đóng góp về mặt khoa học của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện lý
luận vì đây là công trình nghiên cứu chuyên khảo về vai trò của Thẩm phán trong
một số đồng tác giả khác thì vai trò được hiểu như sau “Vai trò, chức năng,
tác dụng của cái gì, hoặc của ai đó trong sự vận động, phát triển của nhóm,
tập thể nói chung” [54, tr.1736].
Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản
lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật. Hiến pháp giao nhiệm vụ xét xử cho
cơ quan Tòa án nhân dân và Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tòa án nhân dân thực hiện chức năng xét xử của mình thông qua các
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm
nhân dân năm 2002 quy định: “Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy
định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những
việc khác thuộc Thẩm quyền của Tòa án” [49, Điều 1].
Thẩm phán là người thay mặt cho Tòa án thực hiện chức năng xét xử,
vì vậy thông qua hoạt động xét xử của mình thì Thẩm phán cũng góp phần về
việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa,
bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể,
bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của nhân dân. Hoạt
động của Thẩm phán là một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng
hoạt động của các cơ quan tư pháp.
Trong quá trình tố tụng, vai trò của Thẩm phán là rất quan trọng, thậm
10
chí có thể cho rằng họ có vai trò gần như quyết định đến chất lượng trong quá
trình tranh tụng. Mặc dù Thẩm phán không trực tiếp tham gia với tư cách là
một chủ thể, nhưng với tư cách là người đại diện cho Nhà nước trong việc
thực thi công lý, Thẩm phán còn có vai trò là trọng tài, là người hướng dẫn
cho các bên đương sự thực hiện quyền tranh tụng theo đúng quy định của
pháp luật. Thông qua kết quả tranh tụng, Thẩm phán đánh giá nội dung thực
trong các cơ quan tư pháp (điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án)
được đào tạo kỹ năng thực hành nghề và hành nghề theo một
chuyên môn nhất định, có danh xưng, được bổ nhiệm hoặc thừa
nhận theo pháp luật khi đáp ứng đẩy đủ các tiêu chuẩn và điều kiện
xác định theo quy định của pháp luật" [53, tr.43].
Do vậy, chức danh tư pháp theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam bao
gồm: Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký toà án, Hội thẩm nhân
dân, Thẩm tra viên.
Trong các chức danh tư pháp thì Thẩm phán được xác định là một
chức danh tư pháp quan trọng và có vai trò quyết định đến việc thực hiện
quyền tư pháp.
Nghị Quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược
cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó xác định trọng tâm là xây dựng,
hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân và nâng cao kỹ năng
thực hành nghề nghiệp của Thẩm phán.
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể rút ra khái niệm Thẩm phán
như sau: “Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để
làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc Thẩm
quyền của Tòa án”
Từ khái niệm trên thì vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng
hình sự được thể hiện ở những điểm cơ bản sau:
Một là: Những quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của
Thẩm phán trong tố tụng hình sự.
12
Hai là: Những quy định của pháp luật về vị trí, vai trò của Thẩm phán
trong tố tụng hình sự.
1) Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán
Với vai trò của người điều khiển phiên tòa, chủ tọa phiên tòa phải là
người tổ chức, người chỉ huy cao nhất đối với mọi hoạt động tố tụng và hành
vi tố tụng tại phòng xử án.
Thông qua hoạt động xét xử của mình mỗi một phán quyết của Thẩm
phán có thể dẫn tới chỗ công dân, pháp nhân được hưởng quyền và lợi ích
hoặc phải gánh chịu các nghĩa vụ nhất định, sai lầm trong hoạt động xét xử
của Thẩm phán sẽ dẫn đến tình trạng xử oan, sai, nhất là trong lĩnh vực hình
sự. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến một cá nhân mà có thể làm giảm lòng
tin của quần chúng nhân dân vào sự công bằng của xã hội, vào pháp luật của
Nhà nước ta.
Thông qua hoạt động xét xử của Thẩm phán cũng góp phần vào việc
bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội,
bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm của công dân.
Trong hoạt động xét xử để đưa ra được một phán quyết đúng pháp
luật, Thẩm phán phải am hiểu về pháp luật, có hiểu biết về kiến thức xã hội,
nắm bắt tâm lý của từng cá thể và có lương tâm của Người thẩm phán "Cơ
sở của các phán quyết là pháp luật, nhưng kết quả của các phán quyết có
công bằng, vô tư và khách quan hay không đòi hỏi mỗi Thẩm phán phải có
cái tâm trong sáng" [26, tr.38].
Thẩm phán phải có niềm tin nội tâm, đó là niềm tin vào công lý. Bởi vì,
trong quá trình xét xử Thẩm phán cũng sẽ không bao giờ dự liệu hết được mọi
tình huống xảy ra trong thực tế. Có những quy định của pháp còn xung đột,
không thống nhất, song khi xét xử Thẩm phán vẫn phải đảm bảo nguyên tắc
xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tòa án không chỉ là cơ quan bảo vệ pháp luật mà còn là biểu tượng của
14
công lý, sự công bằng xã hội "Khi phải đối mặt với quan tòa, với công đường
có vi phạm pháp luật, Kiểm sát viên có quyền yêu cầu toà án khắc phục
những vi phạm đó hoặc báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát kháng nghị theo
trình tự phúc thẩm.
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 không quy định cụ thể sự phối hợp
này tuy nhiên đây là hai chức danh tư pháp chủ yếu trong tố tụng hình sự để
tìm ra sự thật khách quan của vụ án tránh việc đưa ra phán quyết trái pháp
luật, bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội.
6) Mối quan hệ giữa Thẩm phán và các chức danh bổ trợ tư pháp khác
trong hoạt động tố tụng: Hoạt động bổ trợ tư pháp là hoạt động hỗ trợ cho cơ
quan tư pháp thực hiện tốt chức năng, quyền hạn của mình. Các chức danh bổ
trợ tư pháp bao gồm Giám định viên, Luật sư, Công chứng viên. Mỗi một
chức danh này đều có vai trò, quyền và nghĩa vụ đặc trưng riêng nhưng có
điểm chung là hoạt động của các chức danh này là cần thiết, tạo điều kiện thể
hiện sự dân chủ, khách quan trong việc phán quyết của Thẩm phán. Mối quan
hệ giữa Thẩm phán với Kiểm sát viên, Điều tra viên khác với mối quan hệ
giữa Thẩm phán với các chức danh bổ trợ tư pháp khác xuất phát từ vị trí tố
tụng của các chức danh này.
Quan hệ giữa Thẩm phán với các chức danh bổ trợ tư pháp như tác giả
trình bày ở trên chỉ phát sinh trong những vụ án cụ thể và ngược lại.
1.1.3. Các nguyên tắc cơ bản của hoạt động xét xử và sự tác động
đến vai trò hoạt động tố tụng Thẩm phán
Trong hoạt động tiến hành tố tụng, Thẩm phán thực hiện đầy đủ các
nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự như: nguyên tắc pháp chế xã hội
chủ nghĩa; nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp
luật và trước Tòa án; nguyên tắc xác định sự thật khách quan của vụ án…
Trong những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự (Chương II
Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003) thì các nguyên tắc về xét xử chi phối
17
18
Tại các Điều 185, Điều 244 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 (Điều 254
BLTTHS sửa đổi năm 2015) thì việc xét xử sơ thẩm hoặc trong những trường
hợp đặc biệt của xét xử phúc thẩm thành phần Hội đồng xét xử gồm có Thẩm
phán và Hội thẩm nhân dân thì Hội thẩm nhân dân độc lập với Thẩm phán
trong việc đưa ra ý kiến trình bày quan điểm của mình về vụ án.
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập khi xét xử còn được thể hiện
trong quan hệ giữa Tòa án cấp trên với Tòa án cấp dưới. Toà án cấp trên
không thể can thiệp hoặc bằng các biện pháp hành chính buộc Tòa án cấp
dưới xét xử theo ý mình vì Tòa án cấp trên chỉ có quyền quản lý về mặt con
người đối với Tòa án cấp dưới chứ không có quyền can thiệp vào việc giải
quyết từng vụ án cụ thể của Tòa án cấp dưới. Trong hoạt động tố tụng Tòa án
cấp trên không được định hướng hoặc gợi ý cho Tòa án cấp dưới để xét xử mà
chỉ là giải thích về mặt nghiệp vụ để đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ khi áp
dụng quy định pháp luật vào trong công tác xét xử.
Đảng lãnh đạo được thể hiện bằng việc đưa ra quan điểm, nguyên tắc,
định hướng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Đảng lãnh đạo về
chính trị, tư tưởng về công tác tổ chức cán bộ trong ngành Tòa án. Đảng
không can thiệp vào từng vụ án cụ thể mà chỉ ra đường lối chỉ đạo hoạt động
xét xử trong từng giai đoạn.
Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật,
không có nghĩa là Thẩm phán, Hội thẩm được xét xử tuỳ tiện mà phải xem xét
đối chiếu với sự việc thực tế xảy ra và trên cơ sở các quy định đó sẽ đưa ra
các pháp quyết của mình về hành vi phạm tội của bị cáo một cách chính xác
phù hợp với diễn biến thực tế của vụ án, nếu độc lập mà không tuân theo pháp
luật thì dễ dẫn đến tình trạng xét xử một chiều, chủ quan duy ý chí:
Thẩm phán và Hội thẩm không một bước xa rời pháp luật,