Địa vị pháp lý của thẩm phán trong tố tụng hình sự trước yêu cầu cải cách tư pháp luận văn ths luật - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
------------------

Đặng Mai Hoa

Địa vị pháp lý của thẩm phán
trong tố tụng hình sự
trước yêu cầu cải cách tư pháp

Luận văn thạc sỹ luật học

Hà Nội, năm 2010


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
------------------

Đặng Mai Hoa

Địa vị pháp lý của thẩm phán
trong tố tụng hình sự
trước yêu cầu cải cách tư pháp

Chuyên ngành: Luật hình sự

Luận văn thạc sỹ luật học
Mã số: 60 38 40
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Tất Viễn



Xã hội chủ nghĩa

3


Mục lục
Trang
Lời cam đoan

1

Lời cám ơn

2

Danh mục từ viết tắt

3

Mục lục

4

Phần mở đầu

6

Chương 1. Cơ sở lý luận về địa vị pháp lý của



Thẩm phán
1.3.1. Sự ảnh hưởng của phương thức tổ chức quyền lực nhà nước

31

1.3.2. Yếu tố truyền thống pháp lý

34

1.3.3. Yếu tố văn hóa pháp lý

36

Chương 2. Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về

39

địa vị pháp lý của thẩm phán và thực tiễn áp dụng
2.1. Các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán

39

trong tố tụng hình sự của Việt Nam
2.1.1. Thời kỳ từ năm 1945 đến năm 1980

39

2.1.2. Thời kỳ từ năm 1980 đến năm 1992


Chương 3. Những yêu cầu của cải cách tư pháp đặt ra đối với

77

việc hoàn thiện địa vị pháp lý của thẩm phán và một số kiến nghị
3.1. Quan niệm và nội dung cải cách tư pháp

77

3.2. Xác định vị trí trung tâm của Tòa án trong hệ thống tư pháp

83

3.3. Yêu cầu cơ bản đối với cải cách Tòa án và Thẩm phán

85

3.4. Một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định về địa

94

vị pháp lý của Thẩm phán
Kết luận

102

Danh mục tài liệu tham khảo

104


hướng đảm bảo tính công khai, dân chủ, nghiêm minh, nâng cao chất lượng

6


tranh tụng tại các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư
pháp.
Thực hiện Nghị quyết của Đảng, ngành Tòa án Việt Nam đang thực sự
đổi mới về tổ chức và hoạt động, tăng cường quản lý, nâng cao năng lực của
đội ngũ thẩm phán để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Gắn liền với hoạt động của Tòa án là Thẩm phán. Thẩm phán là một
trong số những người tham gia tố tụng giữ vai trò then chốt trong quá trình cải
cách tư pháp nói chung, đặc biệt là việc thực hiện các mục tiêu mà Nghị quyết
đã đề ra.
Vị trí, vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự là một nội dung rất
quan trọng, một mắt xích không thể thiếu trong công cuộc cải cách tư pháp
hiện nay. Do vậy, việc nghiên cứu về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố
tụng hình sự là một việc làm cần thiết góp phần thực hiện thành công cuộc cải
cách tư pháp ở nước ta trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt
Nam XHCN.
Việc xác định địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng hình sự có ý
nghĩa quan trọng, xét cả dưới góc độ lý luận và thực tiễn. Bởi điều đó không
những góp phần vào việc xây dựng một hệ thống lý luận về hoạt động tư pháp
nói chung và tổ chức, hoạt động của các chức danh tư pháp nói riêng mà còn
góp phần xây dựng các văn bản pháp luật về Tòa án, về Thẩm phán cũng như
việc hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động nghiệp vụ của ngành Tòa án. Trong tố tụng
hình sự, chế định địa vị pháp lý của Thẩm phán không chỉ liên quan và ảnh
hưởng đến tổ chức và hoạt động của Tòa án mà còn liên quan đến những chế
định quan trọng khác. Vì thế, có thể nói rằng hiệu quả của thủ tục tố tụng hình
sự phụ thuộc một phần không nhỏ vào việc xác định đúng đắn địa vị pháp lý

quá trình xét xử, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, Luận văn có nhiệm vụ:
- Phân tích các đặc điểm của các mô hình tố tụng hình sự qua đó thấy
rõ được địa vị pháp lý của Thẩm phán tương ứng với từng mô hình tố tụng.
- Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán
trong tố tụng hình sự ở nước ta thời gian vừa qua.

8


- Nêu rõ nội dung, yêu cầu cải cách tư pháp đối với Tòa án nói chung
và Thẩm phán nói riêng để từ đó đóng góp hoàn thiện quy định về địa vị pháp
lý của Thẩm phán trong tố tụng hình sự.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các quy định của pháp luật về địa vị pháp lý
của Thẩm phán trong tố tụng hình sự theo pháp luật Việt Nam từ năm 1945
đến nay, hoạt động của Thẩm phán trong thực tiễn xét xử. Luận văn có tham
khảo kinh nghiệm tố tụng hình sự của một số nước.
Luận văn chỉ giới hạn việc nghiên cứu địa vị pháp lý của Thẩm phán ở
giai đoạn xét xử sơ thẩm về hình sự.
5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn sử dụng phép biện chứng duy vật, các luận điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam về xây dựng nhà nước pháp quyền, cải cách tư pháp.
Ngoài ra còn sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp lịch
sử, phân tích, tổng hợp, thống kê.
6. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về địa vị pháp lý của thẩm phán trong tố tụng hình
sự
Chương 2. Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về địa vị pháp lý của thẩm

định của Toà án có hiệu lực pháp luật được thi hành. Nếu có dấu hiệu tội
phạm, thì cơ quan có thẩm quyền phải khởi tố vụ án để làm căn cứ tiến hành
điều tra và truy tố trước Toà án. Hàng loạt giai đoạn tố tụng đó được nối tiếp
nhau theo một trình tự chặt chẽ do Luật tố tụng hình sự quy định. Như vậy, có
thể hiểu tố tụng hình sự bao gồm các giai đoạn: khởi tố, điều tra, truy tố, xét

10


xử (bao gồm cả xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hay tái thẩm) và
thi hành án. Tương ứng với mỗi giai đoạn này là quyền và nghĩa vụ của các
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng.
Mục đích cơ bản của tố tụng hình sự là nhằm tìm ra sự thật khách quan,
trừng trị đúng người đúng tội, không làm oan, sai. Nhưng phương pháp được
sử dụng để đạt được mục đích đó ở từng quốc gia lại rất khác nhau. Sự khác
biệt này thể hiện chủ yếu ở vị trí, vai trò của ba cơ quan tiến hành tố tụng,
trong đó nổi bật là vai trò của Toà án. Tuy nhiên, căn cứ vào một số đặc điểm
chung nhất, có thể phân chia thủ tục tố tụng hình sự của các nước trên thế giới
hiện nay thành hai hệ thống (hay hai mô hình) chủ yếu đó là: Hệ tố tụng thẩm
vấn (hay hệ tố tụng xét hỏi) và hệ tố tụng tranh tụng. Ngoài ra, có quan điểm
cho rằng có ba hệ thống tố tụng, ngoài hai hệ thống trên còn có hệ thống tố
tụng pha trộn. [35, tr 30]
Hệ tố tụng tranh tụng chủ yếu được áp dụng ở các nước theo hệ thống
pháp luật án lệ như: Anh, Mỹ, Canađa, Ôxtrâylia và một số nước là thuộc địa
của Anh trước đây. Hệ tố tụng thẩm vấn chủ yếu được áp dụng ở các nước
theo hệ thống pháp luật lục địa như: Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Italia,...và các
nước XHCN. Sự phân chia các hệ thống tố tụng hình sự thành hệ tranh tụng
và hệ thẩm vấn không có nghĩa là sự tranh tụng chỉ có trong hệ tranh tụng còn
trong hệ thẩm vấn thì không có tranh tụng và ngược lại. Ngày nay, hai hệ
thống tố tụng này đang chịu sự ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau, thâm

bị động hơn.
Mô hình tố tụng tranh tụng dựa trên luận điểm cho rằng tố tụng là sự
tranh cãi diễn ra ở Toà án giữa Nhà nước và người phạm tội. Trong cuộc
tranh cãi đó, hai bên đều có quyền và nghĩa vụ ngang bằng nhau. Tranh tụng
giữa hai bên bắt đầu ngay từ giai đoạn trước xét xử. Thẩm phán đánh giá
chứng cứ theo nguyên tắc tự do và theo niềm tin nội tâm của mình. Vai trò
tích cực của các bên được đề cao, đặc biệt là vai trò của luật sư. Bên bào
chữa, bên buộc tội có lợi ích đối kháng nhau song bình đẳng về quyền và
nghĩa vụ tố tụng. Trong đó, bên buộc tội có trách nhiệm chứng minh tội
phạm, bên bào chữa có trách nhiệm chứng minh sự vô tội, tình tiết giảm nhẹ

12


trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, trong phiên toà, Thẩm phán chỉ giữ vai
trò là trọng tài đứng giữa hai bên để phân xử. Thay vì giữ quyền độc tôn như
trong mô hình tố tụng thẩm vấn, Thẩm phán, Bồi thẩm đoàn, Công tố viên và
Luật sư có sự chia sẻ quyền hạn. Ví dụ, theo pháp luật của Mỹ “việc quyết
định có tội hay không có tội là trách nhiệm của Bồi thẩm đoàn, còn Thẩm
phán chỉ trên cơ sở kết luận của Bồi thẩm đoàn mà ra phán quyết về mức
hình phạt đối với người tội phạm” [9, tr 80]. Như vậy, trong mô hình tố tụng
tranh tụng, vai trò của Luật sư, của Công tố viên được đề cao. Qua việc tranh
tụng tại phiên toà, sự thật được xác định bằng lý lẽ của bên nào thuyết phục
hơn. Thẩm phán không cần thiết phải nghiên cứu hồ sơ từ trước như trong tố
tụng xét hỏi.
Cả hai mô hình tố tụng thẩm vấn và tranh tụng có những điểm tương
đồng, đó là:
- Về nguyên tắc tố tụng: hai mô hình tố tụng trên đều được xây dựng
dựa trên các nguyên tắc tư pháp dân chủ, công bằng. Mọi người đều bình
đẳng trước pháp luật. Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa

tìm ra sự thật. Viện công tố là người chỉ đạo và giám sát hoạt động điều tra
của cảnh sát. Kết quả điều tra được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Còn trong mô
hình tố tụng tranh tụng giai đoạn xét xử được chú ý nhiều nhất, mọi phán
quyết đều được căn cứ vào quá trình tranh tụng tại phiên toà. Vai trò của Viện
công tố mờ nhạt vì không có trách nhiệm trong hoạt động điều tra. Toàn bộ
hoạt động điều tra do cảnh sát tiến hành. Không có hồ sơ chính thức của vụ án
nên không có hồ sơ chuyển cho Thẩm phán nghiên cứu trước khi mở phiên
toà như đối với mô hình tố tụng thẩm vấn.
Điểm khác biệt nữa là vai trò, vị trí của Thẩm phán. Trong mô hình tố
tụng thẩm vấn, Thẩm phán trực tiếp xét hỏi. Ngược lại, Thẩm phán trong mô
hình tố tụng tranh tụng rất ít khi hoặc không tham gia xét hỏi mà chỉ là người
điều khiển phần thẩm vấn cũng như phần tranh luận tại phiên toà. Do Thẩm
phán không biết trước hồ sơ nên việc tranh tụng giữa các bên là nội dung chủ
yếu của phiên toà và nhiệm vụ của các bên trong quá trình tranh tụng là thuyết
phục Thẩm phán chấp nhận lý lẽ của mình.

14


Ngoài hai hệ tố tụng nêu trên, còn tồn tại một hệ tố tụng pha trộn có
đặc trưng của cả hệ tố tụng thẩm vấn và hệ tố tụng tranh tụng. Như trước khi
xét xử toàn bộ quá trình điều tra không có tính công khai, việc bào chữa của
bị can trong giai đoạn này bị hạn chế, Thẩm phán có quyền nghiên cứu hồ sơ
trước khi vụ án được xét xử. Tại phiên toà, Thẩm phán giữ vị trí trung tâm,
tiến hành xét hỏi bị cáo, nhân chứng và những người có quyền và nghĩa vụ
liên quan đến vụ án để tìm ra sự thật khách quan. Thẩm phán đảm nhiệm từ
việc buộc tội, bào chữa và đưa ra phán quyết cho bị cáo. Vai trò của Kiểm sát
viên và Luật sư bị mờ nhạt. Song mô hình này vẫn chịu ảnh hưởng nhiều của
những đặc điểm mô hình tố tụng tranh tụng. Bên cạnh vị trí chủ đạo của
Thẩm phán trong việc chứng minh tội phạm còn quy định vai trò của những

Việc nghiên cứu đặc điểm của các mô hình tố tụng hình sự là nhằm làm
rõ sự tác động và chi phối của các mô hình tố tụng này đối với địa vị pháp lý
của cơ quan cũng như của người tiến hành tố tụng, đặc biệt là Thẩm phán. Từ
đó, giúp cho việc lựa chọn áp dụng mô hình tố tụng thích hợp với điều kiện
kinh tế, văn hoá và truyền thống pháp lý của từng quốc gia và làm cơ sở cho
việc pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của những người tiến hành tố tụng
nói chung và Thẩm phán nói riêng.
1.2. Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong mô hình tố tụng kết hợp xét hỏi
và tranh tụng
1.2.1. Khái niệm địa vị pháp lý của Thẩm phán
Địa vị pháp lý nói chung theo Từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý
thông dụng là “tổng thể các điều kiện pháp lý mà pháp luật đòi hỏi để xác
định cho một chủ thể có khả năng tham gia quan hệ pháp luật một cách độc
lập”.
Theo từ điển Luật học xuất bản năm 2006 thì địa vị pháp lý của chủ thể
pháp luật là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với chủ thể pháp
luật khác trên cơ sở các quy định của pháp luật. Là sự thể hiện thành một tổng
thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới
hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của mình. Thông qua địa vị

16


pháp lý có thể phân biệt chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật khác,
đồng thời có thể xem xét vị trí và tầm quan trọng của chủ thể pháp luật trong
các mối quan hệ pháp luật. [36, tr 244].
Tố tụng hình sự được chia ra nhiều giai đoạn khác nhau. Tương ứng
với mỗi giai đoạn đó có các cơ quan tiến hành tố tụng. Các cơ quan tiến hành
tố tụng gồm có: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án. Trong mỗi cơ quan
tiến hành tố tụng, pháp luật quy định những người có thẩm quyền thực hiện


có niềm tin nội tâm, đó là niềm tin vào công l‎ý. Bởi vì, cho dù hệ thống pháp
luật có hoàn hảo, đầy đủ đến đâu chăng nữa thì cũng sẽ không bao giờ dự liệu
hết được mọi tình huống xẩy ra trong thực tế. Thậm chí quy định của pháp
luật còn chống chéo, không đồng bộ. Song khi xét xử Thẩm phán vẫn phải
đảm bảo nguyên tắc xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Và đặc
biệt là phải đảm bảo công l‎ý. Trong con mắt của người dân, Toà án không chỉ
là bảo vệ pháp luật mà còn là biểu tượng của công lý, sự công bằng xã hội.
Khi phải đối mặt với quan toà, với công đường người dân chờ đợi sự công
minh, sáng suốt. Toà án là người đại diện của công lý và quan toà là cán cân
công lý. [6, tr 23].
Qua phân tích trên, chúng ta nhận thấy vai trò trung tâm của Thẩm
phán trong hoạt động xét xử cũng như trong hoạt động tư pháp hình sự.
1.2.1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán
Nhiệm vụ của Thẩm phán được thể hiện như sau:
- Đây là những yêu cầu cụ thể do Nhà nước đặt ra đối với chức danh
Thẩm phán và được quy định trong Hiến pháp, BLTTHS, Pháp lệnh Thẩm
phán và Hội thẩm nhân dân.
- Nhiệm vụ của Thẩm phán còn được hiểu là trách nhiệm, là nghĩa vụ
pháp lý mà Thẩm phán phải thực hiện trong hoạt động xét xử.
Luôn đi đôi song hành với nhiệm vụ là quyền hạn. Đây là quyền năng
pháp lý mà pháp luật quy định cho Thẩm phán để thực hiện chức năng xét xử
trong tố tụng hình sự.
Về nguyên tắc, nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán phải được xác
định đầy đủ trên cơ sở vai trò, vị trí, chức năng nhiệm vụ của Thẩm phán
trong tố tụng hình sự. Mặt khác, chúng phải được pháp luật quy định cụ thể rõ
ràng và chặt chẽ. Có như vậy mới đảm bảo cho Thẩm phán hoàn thành hiệu
quả nhiệm vụ xét xử của mình, tránh tình trạng tuỳ tiện hay lạm dụng quyền
hạn trong thực tiễn xét xử.


quyền và nghĩa vụ giống nhau theo quy định của tố tụng. Nếu HĐXX có năm
thành viên, trong đó có hai Thẩm phán thì một Thẩm phán là lãnh đạo Toà án

21


thì khi biểu quyết quyết định hình phạt, ý kiến của Thẩm phán lãnh đạo Toà
án cũng chỉ là một lá phiếu và ‎chỉ được biểu quyết với tư cách là Thẩm phán.
+ Mối quan hệ với Hội thẩm: Hội thẩm là những người đại diện
cho nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử với mục đích đảm bảo tính dân
chủ. Hội thẩm là những người được bầu và chịu sự phân công của Chánh án.
Họ không phải cán bộ Toà án. Công tác Hội thẩm là công tác kiêm nhiệm.
Hội thẩm cũng có trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ, tham gia xét xử. Khi xét xử
vụ án, mọi vấn đề phải được Thẩm phán và Hội thẩm thảo luận và thông qua
tại phòng nghị án. Khi giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình xét xử
cũng như khi quyết định bản án, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán, để
cùng với Thẩm phán đưa ra một bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Mối quan hệ giữa Thẩm phán và Hội thẩm là mối quan hệ độc lập. Tính độc
lập ở đây thể hiện trên hai phương diện: độc lập với các cá nhân khác và độc
lập với chính những thành viên trong HĐXX. Mặc dù vậy, trong hoạt động
xét xử vị trí của Thẩm phán vẫn là trung tâm. Điều này thể hiện trong toàn bộ
quá trình xét xử. Thẩm phán luôn giữ vai trò chủ đạo điều khiển phiên toà từ
phần thủ tục đến phần tuyên án.
+ Quan hệ giữa Thẩm phán và Thư ký Tòa án: theo quy định của
BLTTHS thì Thư ký là người tiến hành tố tụng bao gồm những người được
xếp vào ngạch công chức "Thư ký Toà án" và những người được xếp ngạch
công chức "chuyên viên pháp lý", "thẩm tra viên" được Chánh án phân công
tiến hành tố tụng. Thư ký Toà án có các chức năng: giúp Thẩm phán trong
công tác chuẩn bị phiên toà khi cần thiết, trước khi bắt đầu phiên toà, phổ
biến nội quy phiên toà (điều 171 BLTTHS 2003), báo cáo danh sách những

nếu điều đó không làm xấu hơn tình trạng của bị cáo và không vi phạm quyền
bào chữa của bị cáo. Ngoài ra, Kiểm sát viên còn kiểm sát việc tuân theo pháp
luật tại phiên toà. Đây là hai chức năng gắn bó chặt chẽ với nhau, trong đó,
chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử hỗ trợ cho chức năng
thực hành quyền công tố. Các chức năng này của Viện kiểm sát được kiểm sát
viên thực hiện thông qua hoạt động tranh tụng tại phiên toà. Ngay cả sau khi
phiên toà kết thúc, Kiểm sát viên vẫn còn phải tiếp tục thực hiện nhiệm vụ

23


của mình, kiểm sát tính hợp pháp và có căn cứ của bản án mà HĐXX đã
tuyên và biên bản phiên toà. Nếu phát hiện có vi phạm pháp luật, Kiểm sát
viên có quyền yêu cầu toà án khắc phục những vi phạm đó hoặc báo cáo Viện
trưởng Viện kiểm sát kháng nghị theo trình tự phúc thẩm.
Qua phân tích nhiệm vụ quyền hạn của Kiểm sát viên, có thể nhận thấy
mối quan hệ giữa Thẩm phán và Kiểm sát viên là mối quan hệ phối hợp
nhưng có sự kiểm tra, giám sát lẫn nhau. Mặc dù BLTTHS không quy định cụ
thể sự phối hợp này tuy nhiên đây là hai chức danh tư pháp chủ yếu trong tố
tụng hình sự để tìm ra sự thật khách quan của vụ án. Mỗi một khâu làm tốt sẽ
tạo tiền đề, điều kiện để khâu sau đạt hiệu quả cao. Công tác xét xử của Toà
án đạt hiệu quả phải phụ thuộc vào yếu tố con người. Cho dù pháp luật có
hoàn hảo mà trình độ, ‎ý thức của những người tiến hành tố tụng không có thì
cũng không đạt được hiệu quả mong muốn. Sự phối hợp ở đây không có
nghĩa là thông đồng để đưa ra phán quyết sai lầm, bỏ lọt tội phạm. Sự phối
hợp ở đây là tạo điều kiện cho cả Thẩm phán và Kiểm sát viên hoàn thành
nhiệm vụ của mình. Phối hợp được thể hiện cả về hình thức lẫn nội dung.
+ Quan hệ giữa Thẩm phán và các chức danh bổ trợ tư pháp khác
trong hoạt động tố tụng: diễn biến phiên toà được tiến hành theo ba chức năng
cơ bản của tố tụng hình sự là buộc tội (do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát

quan hệ giữa Thẩm phán và Luật sư, Giám định viên. Sự khác biệt này xuất
phát từ vị trí tố tụng của các chức danh này. Đây là sự khác biệt về bản chất.
Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên là những người tiến hành tố tụng có
trách nhiệm chứng minh tội phạm, tìm ra sự thật khách quan của vụ án. Trong
khi đó thì Luật sư, Giám định viên không có nghĩa vụ này. Họ tham gia tố
tụng với quyền là làm sáng rõ vụ án để bảo vệ lợi ích cho thân chủ của mình.
Đây là quyền chứ không phải là nghĩa vụ. Quan hệ giữa Thẩm phán với Luật
sư, Giám định viên chỉ phát sinh trong những vụ án cụ thể. Nếu vụ án đó
không đòi hỏi phải có kết quả giám định hoặc không có luật sư tham gia thì
mối quan hệ này không xuất hiện.
1.2.3. Những nguyên tắc cơ bản của hoạt động xét xử và sự chi phối, tác
động đến địa vị pháp lý của Thẩm phán

25


Trích đoạn Thẩm phán với việc thực hiện nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự 1 Nguyên tắc khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân Nguyên tắc Toà án xét xử tập thể và biểu quyết theo đa số và nguyên tắc khi xét xử có Hội thẩm tham gia Thẩm phán với việc thực hiện nguyên tắc tranh tụng tại phiên toà theo tinh thần cải cách tư pháp Thẩm phán với việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của BLTTHS Xác định vị trí trung tâm của Toà án trong hệ thống tư pháp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status