MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Viện kiểm sát nhân dân là một trong bốn hệ thống cơ quan cấu thành
của bộ máy nhà nước, đóng một vai trò rất quan trọng trong việc duy trì trật tự
pháp luật, bảo vệ chế độ. Xác định được tầm quan trọng của hệ thống cơ quan
này, thời gian qua, cùng với việc đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta đã chủ
trương đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp trong đó
có Viện kiểm sát nhân dân (VKSND). Đây là một chủ trương lớn và đúng đắn
của Đảng được thể hiện trong nhiều văn kiện: Chỉ thị 53-CT/ TW ngày
21/3/2000 Về một số công việc cấp bách của các cơ quan tư pháp cần thực
hiện trong năm 2000, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 Về một số
nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết 49-
NQ/TW ngày 02/06/2005 Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 mà
mục tiêu là "xây dựng một nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm
minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa…"[17, tr. 2] trong đó có yêu cầu nâng cao chất
lượng hoạt động và đề cao trách nhiệm của các cơ quan và cán bộ tư pháp.
Đến nay, sau nhiều năm triển khai thực hiện các nghị quyết trên của
Đảng, công tác tư pháp đã đạt được những kết quả cụ thể, đáng khích lệ, đánh
dấu những biến chuyển tích cực trong công tác tư pháp, đấu tranh chống các
loại tội phạm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân:
Đã khắc phục một bước trong việc lạm dụng bắt khẩn cấp,
bắt oan, sai; tỷ lệ bắt, giam, giữ đưa ra truy tố đạt cao; công tác giải
quyết án trọng điểm và đấu tranh chống tội phạm đã được đẩy
nhanh tiến độ và đạt kết quả tốt, đã và đang giải quyết được nhiều
vụ án tham nhũng gây hậu quả nghiêm trọng, xử lý nghiêm minh,
không có "vùng cấm" nào... [5, tr. 5].
1
Tuy nhiên, công tác tư pháp vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế mà nguyên
nhân và bài học kinh nghiệm của các hạn chế đó không phải chỉ có một, cần
được nghiên cứu làm rõ và có hướng khắc phục để tiếp tục tiến trình cải cách
- Luận văn thạc sĩ luật học: "Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền
công tố ở giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân" của Trịnh Duy Tám,
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2005.
Ngoài ra, còn có các bài viết của các tác giả khác với các ý kiến và
quan điểm khác nhau được đăng trên các báo và Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí
Luật học…, các báo cáo tổng kết công tác, các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ,
các chuyên đề của VKSNDTC qua từng năm.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:
Luận văn tập trung nghiên cứu và góp phần làm sáng tỏ hơn một số vấn
đề lý luận về hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư
pháp trong giai đoạn điều tra của VKSND; thực trạng của công tác này ở Viện
kiểm sát (VKS) cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội; trên cơ sở đó đề
xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của các công tác này.
Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn tập trung làm rõ một số vấn
đề lý luận về quyền công tố, thực hành quyền công tố, hoạt động tư pháp,
kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND; tìm hiểu thực trạng của hoạt
động này ở VKS cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội trong những năm
gần đây; trên cơ sở đó đánh giá chất lượng của các công tác này, những kết
quả đã đạt được, những vấn đề thiếu sót, yếu kém tồn tại và làm rõ nguyên
nhân của chúng đồng thời đề xuất một số giải pháp khắc phục.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, kiểm sát các hoạt động tư pháp
3
trong tố tụng hình sự ở giai đoạn điều tra (kiểm sát điều tra), thực tiễn hoạt
động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra của VKS cấp huyện trên
địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2003 đến 2006.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
động. Mặc dù vậy, cho đến nay, trong khoa học pháp lý nói chung, trong khoa
học kiểm sát nói riêng và ngay cả trong thực tiễn hoạt động của VKSND vẫn
chưa đạt được sự thống nhất cao về các vấn đề này cả trên phương diện khái
niệm, nội dung, đối tượng và phạm vi của thực hành quyền công tố, kiểm sát
các hoạt động tư pháp cũng như mối quan hệ giữa chúng. Điều này không chỉ
ảnh hưởng đến nhận thức mà còn tác động trực tiếp đến hiệu quả của hoạt
động thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể trong hệ thống các
cơ quan tư pháp nói chung, cơ quan VKSND nói riêng. Để góp phần từng
bước nâng cao hiệu quả và dần đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của công tác kiểm
sát, điều không thể thiếu được là cần phải làm rõ từ trong nhận thức về các
vấn đề cơ bản có liên quan đến các hoạt động chức năng này: Khái niệm thế
nào là thực hành quyền công tố, thế nào là kiểm sát các hoạt động tư pháp, đối
tượng, nội dung, phạm vi cũng như mối quan hệ giữa chúng.
1.1.1. Thực hành quyền công tố
Để hiểu rõ về thực hành quyền công tố, trước hết cần tìm hiểu về
quyền công tố: Khái niệm, nội dung, phạm vi và đối tượng của nó cả trên
phương diện lý luận và thực tiễn ở Việt Nam.
5
1.1.1.1. Quyền công tố
a) Khái niệm quyền công tố
Quyền công tố là một hoạt động tố tụng vì lợi ích công cộng đối với
người phạm tội đã được biết đến ngay từ những thời đại xa xưa của xã hội
loài người. Cùng với thời gian, đến nay, quyền công tố đã trở thành một chế
định pháp lý độc lập được thừa nhận chung trong luật tố tụng hình sự ở đa số
các nước văn minh trên thế giới. Ở nước ta, về mặt lập pháp, thuật ngữ quyền
công tố được ghi nhận lần đầu tiên trong Hiến pháp năm 1980 khi đề cập đến
chức năng, nhiệm vụ của VKSND (tại cụm từ "thực hành quyền công tố"). Từ
đó đến nay, trong khoa học và trong thực tiễn có nhiều ý kiến, quan điểm
khác nhau về khái niệm cũng như các vấn đề có liên quan: Đối tượng, phạm
vi, nội dung, chủ thể thực hành của quyền công tố và theo đó là thực hành
đưa các vụ việc vi phạm pháp luật nói chung ra trước Tòa án để xét xử nhằm
bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật; ở Việt Nam, quyền này
được giao cho VKSND [19, tr. 19]. Quan điểm này có thể coi là quan điểm
phổ biến trong ngành kiểm sát, đã được đưa vào giáo trình giảng dạy của
Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội và thường xuyên được nhắc đến trong các
văn bản hướng dẫn nghiệp vụ và các báo cáo tổng kết thực tiễn của ngành
kiểm sát. Theo quan điểm này thì đầu tiên quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực
hình sự, về sau nó được mở rộng sang các lĩnh vực tư pháp khác và cho đến
nay thì quyền công tố không chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự (TTHS) mà
còn có cả trong các lĩnh vực tố tụng dân sự và các lĩnh vực tố tụng tư pháp khác.
Theo tác giả, quan điểm này quá mở rộng cả khái niệm, nội dung và
phạm vi của quyền công tố, đã đồng nhất quyền công tố với những quyền
năng khác của VKS trong quá trình kiểm sát các hoạt động tư pháp (giải
quyết các vụ án dân sự, hành chính, kinh tế và lao động…).
Quan điểm thứ ba: Là quan điểm cho rằng quyền công tố chỉ tồn tại
trong lĩnh vực hình sự, là quyền của Nhà nước nhân danh công quyền truy tố
7
kẻ phạm tội ra trước Tòa án để xét xử và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa
hình sự sơ thẩm (duy trì quyền công tố); ở Việt Nam quyền này được Nhà
nước giao cho VKSND [62, tr. 1-60]. Theo quan điểm này thì chỉ có duy nhất
một chủ thể có quyền công tố - đó là VKS; việc thực hiện quyền công tố chỉ
diễn ra ở một lĩnh vực duy nhất là TTHS và cũng chỉ có ở một giai đoạn duy
nhất của TTHS là giai đoạn xét xử sơ thẩm.
Theo tác giả, quan điểm này trái ngược với quan điểm thứ hai, đã quá
thu hẹp không chỉ khái niệm, nội dung mà còn cả phạm vi của quyền công tố;
không những vậy còn không phản ánh được bản chất của quyền công tố và hơn
thế nữa còn nhầm lẫn giữa quyền công tố và thực hành quyền công tố bởi vì
truy tố và buộc tội chỉ là một trong số các quyền năng, là một số hoạt động cụ
thể trong số những hoạt động của VKS ở giai đoạn xét xử sơ thẩm trong
TTHS khi thực hành quyền công tố; ngoài các quyền năng đó ra, VKS còn có
Với nhận thức của mình, tác giả ủng hộ quan điểm thứ năm nêu trên
về khái niệm quyền công tố bởi các lý do sau đây:
Thứ nhất, tác giả nhận thấy quan điểm này phù hợp với quan điểm
truyền thống nghiên cứu lịch sử nhà nước - pháp luật về quyền công tố: "Quyền
công tố là quyền của Nhà nước, nhân danh Nhà nước buộc tội đối với người
có hành vi vi phạm mà pháp luật hình sự xem xét là tội phạm xâm hại trật tự
chung của toàn xã hội".
Thứ hai, quan điểm này cũng phù hợp với các quy định của pháp luật
của Nhà nước ta qua các thời kỳ khác nhau về quyền công tố, cụ thể:
- Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước ta qua các thời kỳ đều khẳng
định "Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố…".
- Khi nói về vai trò nhiệm vụ của VKSND, đồng chí Trường Chinh đã
khẳng định: "Không có cơ quan nhà nước nào có thể thay thế ngành kiểm sát
9
để sử dụng quyền công tố, bắt, giam, tha, điều tra, truy tố, xét xử có đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật hay không, đó chính là việc Viện kiểm sát
nhân dân phải trông nom, đảm bảo tốt".
- Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị Ban Chấp
hành Trung ương Đảng nêu rõ: "Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức
năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp" [16,
tr. 2].
- Tại Báo cáo thẩm tra của Ủy ban pháp luật của Quốc hội (số 729
ngày 14/3/2002) về dự án Luật Tổ chức VKSND khẳng định: "Hoạt động
công tố chỉ có trong lĩnh vực hình sự, bắt đầu từ việc phát hiện, khởi tố vụ án
đến truy tố bị can và tranh tụng tại phiên tòa" [42, tr. 4].
- Hiến pháp 1992 (đã sửa đổi bổ sung - Điều 137) và các văn bản
pháp luật của Nhà nước ta (Điều 1, 3 Luật Tổ chức VKSND năm 2002, Điều 23
Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS)) quy định "Viện kiểm sát có nhiệm vụ kiểm
sát tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, thực hành quyền công tố" [59, tr.
39].
tất cả các hành vi vi phạm pháp luật. Tức là đối tượng của quyền công tố rất
rộng và không cụ thể bởi lẽ các hành vi vi phạm pháp luật thì rất đa dạng,
phong phú và không chỉ có trong lĩnh vực TTHS mà còn có cả trong các lĩnh
vực tố tụng tư pháp khác.
Theo tác giả, vì chức năng duy nhất của quyền công tố là chức năng
buộc tội nhân danh Nhà nước, và vì chỉ có lĩnh vực TTHS là lĩnh vực duy nhất
liên quan đến việc truy tố và buộc tội đối với người phạm tội, các lĩnh vực tư
pháp khác là các lĩnh vực chỉ liên quan đến các vi phạm, tranh chấp khác cho
nên quyền công tố chỉ có duy nhất trong lĩnh vực TTHS, không thể có trong các
lĩnh vực tư pháp khác. Với quan điểm tán đồng với quan điểm thứ năm như đã
11
nêu trên, tác giả cho rằng đối tượng của quyền công tố là tội phạm và người
phạm tội.
* Nội dung của quyền công tố
Về nội dung của quyền công tố, cũng còn tồn tại những quan điểm rất
khác nhau song xuất phát từ quan điểm về bản chất của quyền công tố là sự
buộc tội nhân danh Nhà nước, đối tượng tác động của quyền công tố là tội
phạm và người phạm tội, tác giả thống nhất với quan điểm nội dung của
quyền công tố là sự buộc tội nhân danh Nhà nước đối với người đã thực hiện
tội phạm [25, tr. 36].
* Phạm vi của quyền công tố
Do hiện đang tồn tại những quan điểm khác nhau về quyền công tố
nên cũng có các cách lý giải khác nhau về phạm vi của quyền công tố (cả
phạm vi về không gian lẫn phạm vi về thời gian):
Về phạm vi không gian: Phần lớn các quan điểm cho rằng quyền công
tố chỉ có duy nhất trong lĩnh vực hình sự. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có quan
điểm cho rằng quyền công tố được thực hiện không chỉ trong lĩnh vực hình sự
mà còn trong các lĩnh vực hoạt động tư pháp khác (tố tụng dân sự, kinh tế, lao
động…). Theo quan điểm của tác giả, vì bản chất của quyền công tố là buộc
tội cho nên quyền công tố không thể có trong các lĩnh vực khác không liên
cùng đối với người phạm tội - chính là nội dung của thực hành quyền công tố.
- Quan điểm thứ hai: Là quan điểm cho rằng phạm vi của quyền công tố
bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
So với quan điểm thứ nhất, quan điểm này tuy có mở rộng hơn phạm
vi của quyền công tố, theo đó thì quyền công tố có cả trong giai đoạn điều tra
nhưng lại giới hạn thời điểm kết thúc của quyền công tố là chỉ đến khi bản án
sơ thẩm có hiệu lực pháp luật; cũng như quan điểm thứ hai, quan điểm này
13
vẫn bộc lộ những hạn chế, chưa đầy đủ và thiếu tính thuyết phục bởi không
phù hợp với thực tiễn, không lý giải được vai trò của VKS khi thực hiện chức
năng thực hành quyền công tố trong các phiên tòa khác sau phiên tòa sơ thẩm
(trong phiên tòa phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm).
- Quan điểm thứ ba: Phạm vi của quyền công tố là từ khi khởi tố vụ
án đến khi người phạm tội chấp hành xong bản án. Theo quan điểm này thì
quyền công tố có trong tất cả các giai đoạn của TTHS từ giai đoạn điều tra,
truy tố, xét xử đến thi hành án hình sự, tức là quyền công tố có cả sau khi mà
bản án đã có hiệu lực pháp luật.
Quan điểm này đã mở rộng hơn nữa phạm vi của quyền công tố
nhưng cũng lại chưa đầy đủ và cũng chưa có sức thuyết phục bởi vì bản chất
của quyền công tố là sự buộc tội nhân danh Nhà nước đối với người phạm tội
cho nên cứ ở đâu và bất cứ khi nào có tội phạm xảy ra thì ở đó và thời điểm
ấy cũng đồng thời xuất hiện đòi hỏi đối với các cơ quan chức năng trong việc
buộc phải tiến hành các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật để xác
định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội để thực hành quyền công tố
cho nên quyền công tố thực ra không chỉ có từ khi vụ án được khởi tố mà nó
xuất hiện từ trước đó, ngay từ khi tội phạm được thực hiện. Và vì quyền công tố
là quyền nhân danh công quyền buộc tội đối với những người có hành vi phạm
tội cho nên một khi đã có được bản án có hiệu lực pháp luật thì việc buộc tội
đã chấm dứt, không thể còn quyền công tố kéo dài hơn nữa; vì vậy, trong giai
đoạn thi hành án, không thể nói vẫn còn có sự hiện diện của quyền công tố.
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng trong từng giai đoạn khác nhau của tố
tụng hình sự (hay nói cách khác đó là các phương pháp khác nhau để tổ chức
thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong những giai đoạn tố tụng khác nhau) - đó
là thực hành quyền công tố. Ở Việt Nam, căn cứ vào các quy định của Hiến
15
pháp và pháp luật và thực tiễn thì từ trước đến nay quyền này được giao cho
duy nhất VKS. Vậy, chủ thể thực hành quyền công tố ở Việt Nam là VKSND.
Như vậy, có thể đi đến khái niệm sau: Thực hành quyền công tố là việc
Nhà nước tổ chức và giao cho cơ quan đại diện của mình (VKS) các quyền
năng pháp lý để thực hiện trong tất cả giai đoạn của TTHS từ điều tra, truy tố
đến xét xử nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm
tội và áp dụng đối với họ các chế tài hình sự cần thiết [62, tr. 1-60].
b) Phạm vi thực hành quyền công tố
Theo quy định của pháp luật nước ta thì cơ quan VKS có trách nhiệm
thực hành quyền công tố trong tất cả mọi giai đoạn của TTHS từ điều tra, truy tố
đến xét xử (bao gồm cả xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm, tái thẩm).
Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với người phạm tội; để đảm bảo thực hiện được sự buộc tội nhân
danh Nhà nước đó pháp luật quy định các biện pháp cụ thể, các biện pháp đó
chính là thực hành quyền công tố [57, tr. 13-14]. Như vậy, có thể thấy rõ
quyền công tố là cơ sở của thực hành quyền công tố, phải có quyền công tố
thì mới có thực hành quyền công tố cho nên để xem xét phạm vi của thực
hành quyền công tố thì trước hết phải xem xét đến phạm vi của quyền công
tố. Như phần trên đã nêu, phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm
được thực hiện … Còn thực hành quyền công tố thì chỉ phát sinh kể từ thời
điểm vụ án được khởi tố bằng quyết định chính thức của cơ quan có thẩm
quyền - tức là khi cơ quan tố tụng đã áp dụng một trong các biện pháp thực
hành quyền công tố. Tuy nhiên, trên thực tế có không ít những trường hợp
mặc dù có tội phạm xảy ra nhưng không được khởi tố; điều này do nhiều
nguyên nhân khác nhau, trong khoa học pháp lý gọi là "tội phạm ẩn" (tức là
việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, không phải chịu sự chi phối của bất cứ cơ
quan nào, các quyết định này của VKS có hiệu lực ngay sau khi ban hành.
17
- Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều
tra, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra:
Trong TTHS, Cơ quan điều tra được giao trách nhiệm điều tra tội phạm,
có quyền áp dụng tất cả các biện pháp theo quy định của pháp luật để điều tra
làm rõ vụ án, làm rõ hành vi phạm tội cũng như các tình tiết có liên quan như
động cơ, mục đích của tội phạm, nhân thân của người phạm tội, các tình tiết tăng
nặng giảm nhẹ, các thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra… Đây là những hoạt
động mà không có cơ quan nào có thể thay thế cho Cơ quan điều tra được bởi
họ có biên chế là đội ngũ các Điều tra viên được đào tạo chuyên môn nghiệp
vụ về điều tra và khám phá tội phạm [64, tr. 8-15]. Nhưng bởi việc đưa một
con người vào vòng tố tụng và xử lý họ về hình sự là vấn đề không hề đơn
giản, động chạm đến rất nhiều quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo
hộ cho nên cần phải đảm bảo tính thận trọng và chính xác cho nên cần phải có sự
chế ước giữa các cơ quan nhà nước với nhau trong TTHS nhằm đảm bảo tất cả
mọi hành vi phạm tội đã được phát hiện phải được khởi tố, xử lý kịp thời và
nghiêm minh nhưng phải có căn cứ và đúng pháp luật. Vì vậy, pháp luật quy
định giao cho một cơ quan nhà nước trách nhiệm kiểm tra, giám sát, đảm bảo
cho các tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc chứng minh hành vi phạm tội và
nhân thân của người phạm tội phải được thu thập đầy đủ, toàn diện, khách
quan và hợp pháp - Cơ quan đó là VKS. VKS là cơ quan duy nhất có quyền
can thiệp trực tiếp vào quá trình điều tra, đề ra yêu cầu điều tra để Cơ quan
điều tra tiến hành điều tra. Cơ quan điều tra mà cụ thể là các Điều tra viên có
trách nhiệm phải thực hiện tất cả các yêu cầu của VKS; trường hợp không
nhất trí, Cơ quan điều tra có quyền được kiến nghị đến VKS cấp trên nhưng
trong thời gian chờ đợi kết quả vẫn phải thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu
đó. Ngoài ra, VKS còn có quyền tự mình trực tiếp tiến hành một số hoạt động
điều tra nếu xét thấy cần thiết như ghi lời khai của bị hại, nhân chứng, thực
Tóm lại, tất cả các vấn đề mà VKS có quyền quyết định trong các giai
đoạn khác nhau của tố tụng hình sự như nêu trên chính là nội dung của thực
hành quyền công tố. Vậy, nội dung của thực hành quyền công tố là tất cả các
quyền năng pháp lý mà pháp luật quy định cho cơ quan được giao thẩm quyền
(ở nước ta, cơ quan đó là VKSND) để sử dụng nhằm truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với người có hành vi phạm tội.
Qua các nội dung đã phân tích trên, tác giả đi đến kết luận: Nội dung
của thực hành quyền công tố là việc VKS sử dụng tổng hợp các quyền năng
pháp lý độc lập, nhằm truy cứu đến cùng trách nhiệm hình sự đối với người
phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử.
1.1.2. Kiểm sát các hoạt động tư pháp
1.1.2.1. Cơ quan tư pháp
Về khái niệm tư pháp, quyền tư pháp, cơ quan tư pháp hiện nay cả
trên phương diện lý luận và trong thực tiễn còn có nhiều quan điểm khác
nhau... Quyền tư pháp có thể được hiểu theo hai nghĩa hẹp và rộng. Nếu hiểu
theo nghĩa hẹp, quyền tư pháp có nghĩa là quyền xét xử của Tòa án; hiểu theo
nghĩa rộng thì đó là quyền xét xử của Tòa án và các hoạt động áp dụng pháp
luật của các cơ quan bảo vệ pháp luật như Cơ quan điều tra, cơ quan Tòa
án và Cơ quan thi hành án … nhằm đảm bảo cho hoạt động xét xử của Tòa
án [3, tr. 67].
Trong quá trình tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước, bất cứ quốc
gia nào cũng đều có ba loại quyền lực (còn gọi là ba nhánh quyền lực): Lập
pháp, hành pháp và tư pháp. Do ảnh hưởng của điều kiện lịch sử, truyền thống
dân tộc, đặc điểm kinh tế… và đặc biệt là bản chất xã hội mà ở mỗi quốc gia
có một cách tổ chức và phân công các quyền đó trong bộ máy nhà nước khác
nhau nhưng bất kỳ nhà nước nào cũng đều có các biện pháp để đảm bảo cho
pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh. Nhà nước tư sản dùng "tam quyền
20
phân lập", giao mỗi loại quyền lực đó cho một cơ quan nắm giữ nhằm chế
ước lẫn nhau, tránh sự lạm quyền trong quá trình thực thi pháp luật. Ở nhà
một cơ quan trọng yếu của Chính phủ…". Hiến pháp năm 1946 (Điều 63) ghi
rõ: "Cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một hệ thống gồm
Tòa án tối cao, các Tòa án phúc thẩm, các Tòa án đệ nhị cấp và sơ thẩm". Như
vậy, ở nước ta, khi ấy, quan niệm tư pháp là xét xử và theo đó cơ quan tư pháp
là cơ quan xét xử (Tòa án). Các Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946, số 51/SL
ngày 17/4/1946, 131/SL ngày 20/7/1946 vào thời kỳ trước khi Hiến pháp 1946
được thông qua và tại bản Hiến pháp 1946 thể hiện rõ ngay trong cơ cấu tổ chức
của hệ thống Tòa án, cơ quan công tố đã bắt đầu hình thành: Ở Tòa sơ cấp,
Thẩm phán làm cả nhiệm vụ buộc tội và xét xử; ở Tòa án cấp đệ nhị có Thẩm
phán buộc tội - Thẩm phán công tố, Biện lý, Phó biện lý do Bộ Tư pháp bổ
nhiệm để thực hành quyền công tố và quản lý các hoạt động tư pháp của Công
an, giám sát thi hành án; ở Tòa thượng thẩm, Chưởng lý đứng đầu và dưới
quyền là các công chức làm công tác công tố chuyên trách ngồi ghế công tố
để thực hành quyền công tố nhà nước, truy tố bị cáo ra tòa bằng bản cáo trạng,
quản lý toàn bộ tổ chức và hoạt động của Công tố viện nằm trong Tòa án
thường, trông coi việc thi hành và đốc thúc việc thi hành các bản án; ở Tòa án
binh, chức năng công tố được giao cho Ủy viên Chính phủ đứng buộc tội…
Như vậy, cơ quan tư pháp ở nước ta khi đó là cơ quan làm công tác xét xử (Tòa
án) và cơ quan buộc tội phục vụ cho công tác xét xử của Tòa án (cơ quan công
tố); chức năng của cơ quan tư pháp không chỉ là xét xử mà còn có cả chức năng
khác (điều tra và truy tố).
Từ đó đến nay, Đảng và Nhà nước luôn chú trọng việc đổi mới tổ
chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp. Điều đó được thể hiện rất rõ
trong các văn bản pháp luật và thực tiễn tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà
nước ta nói chung, của các cơ quan tư pháp nói riêng qua mỗi thời kỳ:
22
- Năm 1958, cùng với việc thành lập hệ thống Tòa án nhân dân các
cấp, ngày 29/01/1958, Quốc hội đã có Nghị quyết thành lập Viện công tố và
cơ quan thực hiện chức năng công tố đã tách hẳn khỏi hệ thống Tòa án nhân
dân, tuy vẫn trực thuộc Hội đồng chính phủ.
(Tòa án) và các cơ quan làm công tác điều tra và công tố phục vụ cho công
tác xét xử [3, tr. 73; 31, tr. 8]. Đến nay, cùng với xu thế phát triển của xã hội,
các quan hệ xã hội cũng ngày càng phát triển, nhu cầu của hoạt động tư pháp,
khái niệm tư pháp cũng được nhìn nhận với những nội dung rộng hơn [31, tr.
9]; vai trò của cơ quan tư pháp càng ngày càng trở nên quan trọng hơn, cơ
quan xét xử không chỉ xét xử các vụ án hình sự, dân sự mà còn các tranh chấp
ngày càng đa dạng hơn, cả về kinh tế, lao động, hành chính... Để đảm bảo cho
sự phán quyết đó được đúng đắn thì phải có được các tài liệu, chứng cứ để
làm căn cứ cho việc phán quyết đó cho nên đã xuất hiện đòi hỏi tổ chức Cơ
quan điều tra được sắp xếp và ngày một kiện toàn. Cho đến nay, Cơ quan điều
tra được pháp luật tố tụng nước ta quy định như một hệ thống cơ quan tư pháp
có chức năng điều tra độc lập trong TTHS [31, tr. 10]. Và cũng để đảm bảo
cho việc xét xử được chính xác, đúng người, đúng tội, pháp chế được thống
nhất và tăng cường, trên cơ sở sáng kiến của V.I. Lênin và thực tiễn của các
nước xã hội chủ nghĩa, VKSND ở nước ta được thành lập với tư cách là một
hệ thống cơ quan độc lập với chức năng buộc tội trong các vụ án hình sự
(thực hành quyền công tố) đồng thời giám sát việc tuân theo pháp luật của
Tòa án trong quá trình giải quyết các vụ án. Đồng thời để các phán quyết của
Tòa án thực sự có giá trị pháp lý trong đời sống, trên cơ sở Nghị quyết của
Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 1 ngày 06/10/1992, tháng 6/1993, hệ thống Cơ
quan thi hành án đã chính thức tách khỏi Tòa án, trở thành cơ quan độc lập và
ngày càng được củng cố, kiện toàn. Như vậy, cùng với sự phong phú về nội
dung hoạt động của tư pháp, hệ thống các cơ quan tư pháp cũng ngày càng
phong phú. Sự hình thành Cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành án chuyên trách
24
là cần thiết, đáp ứng với yêu cầu của thực tiễn và chúng hợp với VKS, Tòa án
thành một chỉnh thể gọi là hệ thống các cơ quan tư pháp chính là biểu hiện
của sự phong phú đó.
Qua phân tích trên có thể kết luận: Cơ quan tư pháp ở Việt Nam là
các cơ quan nhà nước được giao trách nhiệm thực thi quyền lực nhà nước