BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------
NGUYỄN THỊ NGUYÊN
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU
TRA CÁC VỤ ÁN VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật tố tụng hình sự
Mã số
: 60380104
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Huyên
Hà Nội – 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập
của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ
công trình nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có
nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của
Luận văn này.
THQCT
: Thực hành quyền công tố
VKS
: Viện kiểm sát
VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
Trang
Bảng 1: Tổng số vụ án, bị can tội trộm cắp tài sản VKSND tỉnh Nam
định đã thụ lý kiểm sát điều tra việc khởi tố giai đoạn 2012 – 2016.
46
Bảng 2: Tỷ lệ các vụ án về tội trộm cắp tài sản so với tổng số các
47
vụ án nói chung trên địa bàn tỉnh Nam Định mà VKS đã thụ lý,
kiểm sát điều tra từ năm 2012 – 2016.
Bảng 3: Số liệu về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giam
52
2.2.2. Những hạn chế trong thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
đối với các vụ án về tội trộm cắp tài sản của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam
Định và nguyên nhân của hạn chế .................................................................. 55
Chương 3. YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA
CÁC VỤ ÁN TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
......................................................................................................................... 66
3.1. Yêu cầu..................................................................................................... 66
3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn
điều tra các vụ án trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định ..................... 68
3.2.1. Giải pháp về pháp luật........................................................................... 68
3.2.2. Những giải pháp khác ........................................................................... 72
KẾT LUẬN .................................................................................................... 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay đã và
đang đem lại sự chuyển biến tích cực trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội tại Việt Nam. Bên cạnh những mặt tích cực, nền kinh tế thị trường
cũng đã làm nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực, trong đó có tình hình tội phạm
diễn biến ngày càng phức tạp. Các vụ án xảy ra nhiều với mức độ nghiêm
trọng và tính chất ngày càng nguy hiểm. Đấu tranh phòng chống tội phạm, ổn
định trật tự xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân là nhiệm
vụ của Nhà nước.
bộ sa sút về phẩm chất, đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp. Vẫn còn tình
trạng oan, sai trong điều tra, bắt giam giữ, truy tố xét xử. Cơ sở vật chất,
phương tiện làm việc của các cơ quan tư pháp còn thiếu thốn, lạc hậu…”
Trong hơn ba mươi năm đổi mới, tỉnh Nam Định đã có bước phát triển
mạnh về nhiều mặt, kinh tế tăng trưởng, đời sống các tầng lớp nhân dân
không ngừng được cải thiện, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tuy nhiên,
không nằm ngoài ảnh hưởng tác động tiêu cực của phát triển kinh tế thị
trường, địa bàn rộng, dân số đông, tốc độ đô thị hóa nhanh đã làm cho Nam
Định gặp không ít khó khăn trong quản lý xã hội, tệ nạn xã hội và tội phạm,
trong đó có vấn đề đấu tranh phòng và chống tội phạm nói chung, phòng
chống tội phạm xâm phạm sở hữu nói riêng, đặc biệt là tội trộm cắp tài sản
chiếm tỷ lệ lớn và đang có chiều hướng gia tăng. Loại tội phạm này đã và
đang diễn biến phức tạp với tính chất, thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn gây
không ít khó khăn cho công tác điều tra, giải quyết vụ án.
Công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án về
tội trộm cắp tài sản của Viện kiểm sát nhân dân ở tỉnh Nam Định trong những
năm gần đây đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần không nhỏ vào
công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm và tội phạm. Tuy nhiên, qua tổng
kết thực tiễn cho thấy công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều
tra các vụ án về tội trộm cắp tài sản của Viện kiểm sát nhân dân ở tỉnh Nam
Định còn bộc lộ nhiều hạn chế như: Hoạt động thực hành quyền công tố chưa
3
được thực hiện ngay từ giai đoạn đầu của vụ án, Kiểm sát viên thiếu chủ động
trong việc đề ra yêu cầu điều tra, chưa thường xuyên trao đổi nắm bắt thông
tin về hoạt động điều tra nên còn bị động trong quá trình giải quyết vụ án, kỹ
năng thực hành quyền công tố của nhiều kiểm sát viên còn hạn chế… Điều
này dẫn đến nhiều vụ án bị kéo dài, phải gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn
trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều
tra theo yêu cầu cải cách tư pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Trịnh Duy Tám (2005), áp dụng pháp luật trong thực hành quyền
công tố ở giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân ở Việt nam hiện nay,
Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội.
- Hà Thị Minh Hạnh (2011), Chất lượng thực hành quyền công tố và
kiểm sát điều tra các vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp của Viện
kiểm sát nhân dân cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ
Luật học, Hà Nội.
- Bùi Mạnh Cường (2012), Gắn công tố với hoạt động điều tra trong
tố tụng hình sự theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X - Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội.
- Nguyễn Ngọc Ánh (2016) “Thực hành quyền công tố và Kiểm sát
điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Luận
văn thạc sỹ Luật học, Hà Nội.
- Nguyễn Công Cường (2016) “Thực hành quyền công tố trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự”, Luận văn thạc sỹ Luật học, Hà Nội.
Bên cạnh đó còn có các bài viết của nhiều tác giả khác với các ý kiến,
quan điểm khác nhau được đăng tải trên các báo, tạp chí như: Tổ chức bộ máy
và chức năng, nhiệm vụ của Viện Kiểm sát trong tiến trình cải cách tư pháp
của tác giả Lê Hữu Thể, Tạp chí Kiểm sát số 14 – 16, 2008; Bàn về mô hình
Viện kiểm sát theo yêu cầu cải cách tư pháp của tác giả Lại Hợp Việt, Tạp
chí Kiểm sát số 14 – 16, 2008; Thể chế chủ trương “Tăng cường trách nhiệm
5
của công tố trong hoạt động điều tra” trong Bộ luật tố tụng hình sự của tác
giả Nguyễn Tiến Sơn, Tạp chí Kiểm sát số 09, 2015…
Mặc dù các công trình nghiên cứu các bài viết nêu trên đã đề cập các
Qua đó đưa ra một số đề xuất, phương hướng nâng cao chất lượng thực hành
quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án về tội trộm cắp tài sản theo
tinh thần cải cách tư pháp mà Nghị quyết số 49/NQ/TW của Bộ Chính trị Ban
Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) đề ra.
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
+ Phân tích cơ sở lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn
điều tra các vụ án về tội trộm cắp tài sản.
+ Phân tích quy định của pháp luật tố tụng hình sự năm 2005, năm
2015 và thực tiễn thực hành quyền công tố các vụ án trộm cắp tài sản trên địa
bàn tỉnh Nam Định, những khó khăn, vướng mắc gặp phải, nguyên nhân dẫn
đến tình trạng đó.
+ Yêu cầu và đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật về thực
hành quyền công tố.
+ Đưa ra được những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hành
quyền công tố trong giai đoạn điều tra nói chung, chất lượng thực hành quyền
công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án về tội trộm cắp tài sản trên địa bàn
tỉnh Nam Định
5.Các phương pháp nghiên cứu sử dụng để thực hiện luận văn.
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật
lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về
Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà
nước pháp quyền, về chính sách tố tụng hình sự và hình sự, về vấn đề nâng
cao chất lượng thực hành quyền công tố trong cải cách tư pháp mà Nghị quyết
Đại hội Đảng VIII, IX, X và các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002,
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến
năm 2020 của Bộ Chính trị.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các
phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật tố tụng hình sự, khoa học
điều tra hình sự và các phương pháp, kỹ năng khác, như: phương pháp phân
trên địa bàn tỉnh Nam Định
8
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN TRỘM CẮP TÀI SẢN
1.1. Khái niệm, đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn
điều tra các vụ án trộm cắp tài sản.
- Quyền công tố
Quyền công tố và thực hành quyền công tố là những khái niệm được
nhắc đến nhiều trong luật tố tụng hình sự nước ta khi đề cập chức năng của
viện kiểm sát các cấp. Nhưng dưới góc độ lập pháp thì Hiến pháp 1980 là văn
bản pháp lý đầu tiên đưa ra thuật ngữ “Thực hành quyền công tố” khi đề cập
đến chức năng của VKSND (Điều 138). Thuật ngữ này được nhắc lại ở Điều
1 và Điều 3 Luật Tổ chức VKSND năm 1981. Như vậy, hoạt động của
VKSND bên cạnh khái niệm truyền thống “kiểm sát việc tuân theo pháp luật”
đã xuất hiện khái niệm “quyền công tố” và “Thực hành quyền công tố”. Từ đó
đến nay đã có nhiều tài liệu giảng dạy, nhiều bài viết trên các tạp chí khoa học
đề cập đến khái niệm này. Song cho đến nay vẫn chưa đạt được sự thống nhất
cao trên phương diện nhận thức về nó.
Xét về mặt thuật ngữ, “công tố” là một từ ghép Hán – Việt. Theo Đại
từ điển tiếng Việt thì “công” có nghĩa “thuộc về nhà nước chung, cho mọi
người, khác với tư” còn “tố” có nghĩa “nói công khai cho mọi người biết việc
làm sai trái, phạm pháp của người khác”; "công tố" có nghĩa là "điều tra, truy
tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án".1 Như vậy, theo từ
điển tiếng Việt thì công tố được hiểu với các nội dung khác nhau bao gồm:
Điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án.
Ở nước ta, trong thời gian qua đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau
nhất là Tố tụng hình sự (TTHS) và cũng chỉ có ở một giai đoạn duy nhất của
TTHS là giai đoạn xét xử sơ thẩm.4
2
Võ Quang Nhạn (1984), “Bàn về quyền công tố”, Tập san kiểm sát, (2)
3
Trần Văn Độ (1999), "Một số vấn về quyền công tố", Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ: Những vấn đề lý luận về quyền
công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà
Nội.
4
Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2002), "Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực hành quyền công tố ở Việt
Nam từ năm 1945 đến nay", Thông tin khoa học pháp lý, Số chuyên đề, (1)
10
Quan điểm thứ tư: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho các
cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
người phạm tội.5 Theo quan điểm này thì chủ thể thực hành quyền công tố
không chỉ có VKS mà còn có các cơ quan tiến hành tố tụng khác (Cơ quan
điều tra, Tòa án, Thi hành án) và như vậy quyền công tố có trong tất cả các
giai đoạn từ điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án.
Do các quan niệm khác nhau như trên về quyền công tố cho nên dẫn
đến cách lí giải khác nhau về phạm vi thời gian cũng như không gian của
quyền công tố. Về không gian, đa số các quan điểm cho rằng quyền công tố
chỉ có trong lĩnh vực duy nhất là TTHS nhưng cũng có quan điểm cho rằng
chính trong truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Có thể thấy rằng, điểm hạn chế chung nhất của hầu hết các công trình
nghiên cứu về quyền công tố là không phân định rõ khái niệm, bản chất, nội
dung, phạm vi quyền công tố, hoạt động thực hành quyền công tố và hoạt
động kiểm sát tuân theo pháp luật. Đa số đều cho rằng hai chức năng của
VKS (Chức năng công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật) như
pháp luật trước đây quy định vừa có tính độc lập tương đối, vừa liên hệ chặt
chẽ, tác động qua lại, bổ sung cho nhau, giữa chúng có những nội dung hòa
nhập với nhau, đan xen lẫn nhau không thể tách rời, tạo nên sự thống nhất
trong chức năng của VKS.
Dù muốn hay không, chúng ta không thể không thừa nhận Nhà nước
ra đời và tồn tại luôn luôn là đại diện chính thức cho xã hội (xét về mọi
phương diện). Trong xã hội có giai cấp, bất kể là xã hội nào, có nhiều loại
quan hệ còn tồn tại, nhưng chung quy lại có hai nhóm quan hệ xã hội cơ bản:
nhóm quan hệ xã hội thể hiện lợi ích công cộng và nhóm quan hệ xã hội thể
hiện lợi ích của từng công dân. Nhà nước nói chung luôn luôn có trách nhiệm
bảo vệ các quan hệ xã hội liên quan đến lợi ích chung, đến trật tự xã hội
chung và trừng trị những hành vi vi phạm các quan hệ xã hội này. Nhà nước
bảo vệ các quan hệ xã hội loại này bằng cách quy định phạm vi những hành vi
12
nguy hiểm cho xã hội là tội phạm và hình phạt với các tội phạm. Nhà nước
thông qua cơ quan chuyên môn của mình là VKS có quyền truy tố kẻ phạm
tội ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội trước phiên tòa. Quyền công tố là
quyền của VKS thay thế Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
người có hành vi phạm tội. Quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực duy nhất đó
là lĩnh vực TTHS. Ở nước ta, quyền công tố được Nhà nước giao cho một cơ
quan duy nhất là VKS, không có bất cứ cơ quan nào có thể thay thế được.
cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật của Nhà nước ta (Điều 2 Luật Tổ chức
VKSND năm 2014, Điều 23 BLTTHS năm 2003).
Như vậy có thể thấy quyền công tố ở nước ta được giao cho một chủ
thể duy nhất đó là Viện kiểm sát. Quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực TTHS
và có ở các giai đoạn tố tụng từ khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử
Từ những nội dung được trình bày trên, tác giả cho rằng: Quyền công
tố là quyền lực của Nhà nước giao cho VKSND thực hiện việc truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong quá trình khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử và bảo vệ việc truy tố trước Tòa án.
- Thực hành quyền công tố
Khái niệm quyền công tố và THQCT có quan hệ mật thiết với nhau,
giải quyết chính xác, rõ ràng, rành mạch những vấn đề liên quan đến khái
niệm quyền công tố và THQCT sẽ giúp cho chúng ta nhận thức đầy đủ, chính
xác vị trí, vai trò của VKSND trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung,
trong mối quan hệ với các cơ quan tư pháp nói riêng cũng như chức năng,
nhiệm vụ của VKS, đặc biệt là trong TTHS. Điều này có nghĩa đặc biệt quan
trọng trong giai đoạn hiện nay khi chúng ta tích cực triển khai thực hiện các
Nghị quyết của Đảng về cải cách bộ máy Nhà nước, cải cách cơ quan tư pháp.
Cũng như khái niệm quyền công tố, khái niệm THQCT cũng ít được
đề cập đến trong các tài liệu pháp lý ở nước ta và cũng còn nhiều ý kiến khác
nhau về vấn đề này.
Theo từ điển tiếng Việt thì “thực hành” có nghĩa là “làm để áp dụng lý
thuyết vào thực tế”, “thực hành” cũng đồng nghĩa với “thực hiện”8. Đối với
khoa học pháp lý, chúng ta có thể hiểu thực hành là thực hiện việc áp dụng
các lý luận vào thực tiễn.
8
Từ điển tiếng Việt (2004), Nxb Đà Nẵng, tr.973
Từ điển Luật học (2006), Nxb Từ điển bách khoa – Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.457
10
Kết luận về công tác kiểm sát năm 1968, Nội san công tác kiểm sát số 3/1968, tr.55
15
vậy, nên việc xác định đúng phạm vi tố tụng hình sự của Viện kiểm sát ở giai
đoạn điều tra vụ án trộm cắp tài sản là hết sức cần thiết.
Theo từ điển tiếng Việt, điều tra là “tìm hỏi, xem xét để biết rõ sự
thật”11. Từ điển Luật học thì giải thích: “Điều tra là công tác trong tố tụng
hình sự được tiến hành nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách
quan, toàn diện và đầy đủ”12
* Về tội trộm cắp tài sản: Điều 138 Bộ luật hình sự quy định về tội
trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, điều luật không mô tả hành vi trộm cắp tài sản
được thực hiện như thế nào, nhưng căn cứ vào lý luận và thực tiễn xét xử thì
trộm cắp tài sản là hành vi lén lút lấy tài sản của chủ sở hữu hoặc người có
trách nhiệm quản lý tài sản mà không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực
hoặc bất cứ một thủ đoạn nào nhằm uy hiếp tinh thần của người quản lý tài
sản. Thông thường người phạm tội lợi dụng sự mất cảnh giác của người quản
lý tài sản để lấy tài sản mà người quản lý tài sản không hề hay biết. Đặc điểm
nổi bật của tội trộm cắp tài sản là người phạm tội lén lút lấy tài sản mà chủ sở
hữu hoặc người quản lý tài sản không hề biết mình bị mất tài sản, chỉ sau đó
họ mới biết bị mất tài sản. Tính chất lén lút của hành vi trộm cắp tài sản thể
hiện ở chỗ người phạm tội giấu diếm hành vi phạm tội.13 Tuy nhiên, lén lút
không phải là đặc trưng duy nhất của tội trộm cắp tài sản mà là phải đi kèm
với mục đích chiếm đoạt tài sản. Có thể nói trộm cắp tài sản là chiếm đoạt tài
Vì vậy, có thể hiểu: Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
các vụ án trộm cắp tài sản là hoạt động của Viện kiểm sát thực hiện việc buộc
tội đối với người có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, bảo đảm
mọi hành vi phạm tội được phát hiện đều phải được khởi tố, điều tra, không để
lọt người phạm tội, không làm oan người vô tội.
Từ khái niệm trên có thể rút ra một số điểm chung về THQCT trong giai
đoạn điều tra các vụ án trộm cắp tài sản như sau:
+ Đối tượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ
án trộm cắp tài sản
Đối tượng của quyền công tố là yếu tố mà quyền công tố tác động tới
nhằm thực hiện mục đích truy cứu trách nhiệm hình sự. Với cách hiểu này,
đối tượng của thực hành quyền công tố không gì có thể khác hơn là tội phạm
và người phạm tội. Do đối tượng tác động của thực hành quyền công tố cũng
chính là đối tượng của quyền công tố, nên đối tượng tác động của thực hành
quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án trộm cắp tài sản cũng chính
là tội phạm và người phạm tội.
+ Phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án trộm
cắp tài sản.
17
Phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra và kết thúc khi
bản án đã có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị. Để đảm bảo thực hiện
quyền công tố thì Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật, trong đó quy định
các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố. Các quyền năng đó được
giao cho VKS thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự
đối với người phạm tội.
Còn phạm vi thực hành quyền công tố thì chỉ phát sinh kể từ thời
điểm vụ án được khởi tố bằng quyết định chính thức của cơ quan có thẩm
Khởi tố vụ án là giai đoạn tố tụng mở đầu của TTHS, trong đó cơ quan
có thẩm quyền xác định có hay không dấu hiệu tội phạm để ra quyết định
khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án. Còn điều tra là giai đoạn tố tụng
hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS
quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hiện hành vi phạm tội làm
cơ sở cho việc giải quyết vụ án.16 Khởi tố vụ án là giai đoạn tố tụng mở đầu
cho các hoạt động điều tra, chưa khởi tố vụ án thì không được tiến hành các
hoạt động điều tra, trừ một số trường hợp đặc biệt. Do đó, không thể xem
khởi tố vụ án hình sự như một hoạt động trong giai đoạn điều tra. Hoạt động
điều tra chỉ được tiến hành sau khi đã có quyết định khởi tố vụ án. Vì vậy,
theo quan điểm của tác giả, phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn
điều tra bắt đầu từ thời điểm sau khi khởi tố vụ án đến khi kết thúc điều tra
hoặc đình chỉ vụ án.
Theo cách hiểu như vậy, thì phạm vi thực hành quyền công tố trong
giai đoạn điều tra các vụ án trộm cắp tài sản cũng bắt đầu từ thời điểm sau khi
khởi tố vụ án đến khi kết thúc điều tra hoặc đình chỉ vụ án.
+ Chủ thể thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án
trộm cắp tài sản
15
Nguyễn Hải Phong (2014) “Một số vấn đề về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra,
gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.13.
16
Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật tố tụng hình sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
tr.233,265.
19