Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy ở thành phố hà nội - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN MẠNH TÙNG

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA
CÁC VỤ ÁN VỀ MA TÚY Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN MẠNH TÙNG

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA
CÁC VỤ ÁN VỀ MA TÚY Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành : Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
Mã số

viên đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những tri thức kinh nghiệm quý báu
trong suốt thời gian học tập tại trường.
Cảm ơn Lãnh đạo đơn vị công tác đã tạo điều kiện để tôi được học tập,
nâng cao trình độ.
Cảm ơn Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã giúp đỡ tôi rất
nhiều để tôi có được tư liệu thực tiễn hoàn thành luận văn này.
Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi
trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này.
Đặc biệt, tôi xin dành sự kính trọng và cảm ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn
Văn Tuân, người đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện
và hoàn thành luận văn.
Tác giả luận văn

Nguyễn Mạnh Tùng


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS

: Bộ luật Hình sự

BLTTHS

: Bộ luật Tố tụng hình sự

CQĐT

: Cơ quan điều tra

KSĐT


ADPL

: Áp dụng pháp luật


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu

Tên bảng

Trang

bảng
2.1

2.2
2.3

Tỷ lệ các vụ án về ma túy so với tổng số các vụ án nói
chung trên địa bàn thành phố Hà Nội mà VKS đã thụ lý,
kiểm sát điều tra từ năm 2011 - 2015
Kết quả kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy trên địa bàn
thành phố Hà Nội giai đoạn 2011-2015
Kết quả thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
các vụ án về ma túy trên địa bàn thành phố Hà Nội giai
đoạn 2011-2015

35



7

1.1.2

Thực hành quyền công tố

9

1.2

Khái niệm, đối tượng, phạm vi và nội dung của kiểm sát điều
tra
Đặc điểm của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát
điều tra các vụ án về ma túy
Tội phạm về ma túy

1.3
1.3.1
1.3.2

2.1

2.2

16
20
20

Đặc điểm thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các


Những hạn chế

42

2.3.2

Nguyên nhân

47

Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT
ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN VỀ MA TÚY TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

54

3.1

Về pháp luật

54

3.2.

Về nâng cao trình độ, năng lực nghiệp vụ trong áp dụng pháp
luật để thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra của
Kiểm sát viên
Về tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành và sự phối hợp với

82

KẾT LUẬN

85


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cải cách tư pháp là yêu cầu cấp thiết của Đảng, Nhà nước ta hiện nay,
nhằm mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt nam là
Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo. Chủ
trương “Tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra, gắn
công tố với hoạt động điều tra” là một trong những vấn đề cơ bản, quan trọng
trong cải cách tư pháp hình sự hiện nay ở nước ta. Các Nghị quyết, Chỉ thị
của Đảng về cải cách tư pháp xác định: Viện kiểm sát phải chịu trách nhiệm
chính về những oan, sai trong việc khởi tố, bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra,
truy tố; phải bảo đảm việc truy tố có căn cứ, đúng pháp luật, cùng với cơ quan
điều tra khắc phục những vi phạm, tồn tại trong quá trình điều tra, bảo đảm
không để lọt tội phạm, người phạm tội, không làm oan người vô tội.
Tại Hội nghị triển khai công tác kiểm sát năm 2011, đồng chí Viện
trưởng VKSNDTC đã kết luận về vấn đề này để chỉ đạo toàn Ngành Kiểm sát
quán triệt thực hiện; cụ thể như sau:
“Cần có cách nhìn toàn diện, đầy đủ về quan hệ giữa thực hành quyền
công tố với kiểm sát điều tra; tăng cường hơn nữa vai trò chủ động của Viện
kiểm sát trong quá trình điều tra…; Tăng cường trách nhiệm của công tố
trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra nghĩa là Viện
kiểm sát phải “song hành” cùng với cơ quan điều tra trong hoạt động điều

quốc lần thứ X của Đảng xác định: "Cải cách tư pháp khẩn trương, đồng bộ;
lấy cải cách hoạt động xét xử làm trọng tâm; thực hiện cơ chế công tố gắn với
hoạt động điều tra" [4]. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta tiếp
tục khẳng định: "Bảo đảm tốt hơn các điều kiện để Viện kiểm sát nhân dân
thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tư pháp; tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn
công tố với hoạt động điều tra" [5].
Nhận thức và quán triệt nghiêm túc tinh thần nghị quyết của Đảng,
trong những năm qua hoạt động thực hành quyền công tố (THQCT) và kiểm
sát điều tra (KSĐT) các vụ án hình sự của ngành Kiểm sát nhân dân đã có
nhiều chuyển biến tích cực. Với số lượng rất lớn các vụ án hình sự được phát
hiện, điều tra, truy tố, xét xử nhanh chóng, kịp thời bảo đảm sự nghiêm minh,
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan


3

người vô tội đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị và
trật tự xã hội.
Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, chức năng của VKSND ở
nước ta trong giai đoạn hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát các
hoạt động tư pháp. Đây là một chức năng mà VKSND đã đảm đương từ lâu
nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều vướng mắc và khó khăn do chưa đạt được
sự thống nhất cao cả trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn. Công tác kiểm sát
hoạt động tư pháp đặc biệt là kiểm sát điều tra vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế
mà nguyên nhân và bài học kinh nghiệm của các hạn chế đó không phải chỉ
có một, cần được nghiên cứu làm rõ và có hướng khắc phục để tiếp tục tiến
trình cải cách tư pháp, đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi của thực tiễn đổi mới. Vì
vậy, việc nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề trên không chỉ có giá trị về mặt
lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn, góp phần đảm bảo sự thống nhất trong

các chuyên đề của VKSNDTC qua từng năm.
3. Mục đích, câu hỏi và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu một số vấn
đề lí luận của THQCT và KSĐT, pháp luật tố tụng hình sự 2003; 2015 về
THQCT và KSĐT nói chung và các quy định của pháp luật đối với các tội
phạm ma túy nói riêng để góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lí luận và đề
xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động THQCT và KSĐT
các vụ án về ma túy.
3.2. Các câu hỏi nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có nhiệm vụ chủ yếu làm rõ
các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Những quy định cụ thể về vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của
VKS trong hoạt động THQCT và KSĐT là gì? Và cụ thể về việc kiểm sát các
vụ án về ma túy ra sao?
- Qua việc nghiên cứu, đánh giá thực tiễn hoạt động THQCT và KSĐT
các vụ án về ma túy trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2011- 2015, hãy
làm rõ những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trong hoạt động THQCT và
KSĐT của VKS?
- Trên cơ sở đó, hãy đánh giá chất lượng của các công tác này, những
kết quả đã đạt được, những vấn đề thiếu sót, yếu kém tồn tại và làm rõ nguyên
nhân của chúng đồng thời đề xuất một số giải pháp khắc phục?
3.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu


5

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động THQCT và KSĐT đối
với các vụ án về ma túy.
Đề tài xác định phạm vi nghiên cứu là hoạt động THQCT và KSĐT các

6

Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích
dành cho không chỉ các nhà lập pháp mà còn cho các nhà nghiên cứu, các cán
bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên
thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật. Kết quả
nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức
chuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các Cơ quan điều tra,
Viện kiểm sát, Tòa án và cơ quan Thi hành án trong quá trình giải quyết vụ án
hình sự được khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố và kiểm
sát điều tra các vụ án về ma túy.
Chương 2: Thực trạng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các
vụ án về ma túy trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay.
Chương 3: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hành quyền
công tố và kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy trên địa bàn thành phố Hà
Nội.


7

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ
KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN VỀ MA TÚY
1.1. Khái niệm, đối tượng, phạm vi và nội dung của thực hành
quyền công tố
1.1.1. Quyền công tố:

Có thể thấy, về khái niệm quyền công tố có rất nhiều quan điểm khác
nhau. Mỗi quan điểm trong số đó đều có những hạt nhân hợp lý của nó nhưng
cũng đều bộc lộ những bất cập: Hoặc là đánh đồng quyền công tố với kiểm
sát tuân theo pháp luật, coi quyền công tố chỉ là quyền năng của VKS trong
kiểm sát tuân theo pháp luật nên đã mở rộng phạm vi của quyền công tố sang
các lĩnh vực khác ngoài TTHS; hoặc là quá thu hẹp phạm vi của quyền công
tố, cho rằng quyền công tố chỉ có trong giai đoạn xét xử sơ thẩm; hoặc xác
định không đúng chủ thể của quyền công tố…
Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho VKS truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với người phạm tội; cơ quan công tố có trách nhiệm bảo
đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người
phạm tội, trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự
buộc tội đó trước phiên tòa [27, tr. 40].
Với nhận thức của mình, tôi ủng hộ quan điểm khái niệm quyền công tố
như sau: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho VKS truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với người phạm tội; cơ quan công tố có trách nhiệm bảo
đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người
phạm tội, trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự
buộc tội đó trước phiên tòa [27, tr. 40].
Tôi ủng hộ quan điểm trên bởi các lý do sau đây:
Thứ nhất, tôi nhận thấy quan điểm này phù hợp với quan điểm truyền
thống nghiên cứu lịch sử nhà nước - pháp luật về quyền công tố: "Quyền công
tố là quyền của Nhà nước, nhân danh Nhà nước buộc tội đối với người có
hành vi vi phạm mà pháp luật hình sự xem xét là tội phạm xâm hại trật tự
chung của toàn xã hội".
Thứ hai, quan điểm này cũng phù hợp với các quy định của pháp luật
của Nhà nước ta qua các thời kỳ khác nhau về quyền công tố, cụ thể:
- Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước ta qua các thời kỳ đều khẳng
định "Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố…".


cơ quan có quyền độc lập phát động quyền công tố mà không chịu sự can
thiệp của bất cứ cơ quan nhà nước nào. Trong giai đoạn điều tra, cơ quan điều
tra chỉ có quyền đề nghị áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn
chặn, còn việc quyết định là do Viện kiểm sát; Cơ quan điều tra có quyền độc
lập thu thập tài liệu chứng cứ, nhưng việc bảo đảm cho các tài liệu chứng cứ
ấy có đủ cơ sở để truy tố bị can hay không là do Viện kiểm sát chịu trách
nhiệm. Khi có đủ tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội và xét thấy
cần xử lý người đó trước Tòa án thì Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can ra
Tòa. BLTTHS nước ta đã quy định thẩm quyền công tố của Viện kiểm sát


11

trong tố tụng hình sự rất lớn là “được áp dụng các biện pháp do BLTTHS để
xác định tội phạm và xử lý người phạm tội” (Điều 23 BLTTHS 2003). Như
vậy, về thực hành quyền công tố là chức năng mà không cơ quan nhà nước
nào làm thay Viện kiểm sát. Ở Việt Nam, căn cứ vào các quy định của Hiến
pháp và pháp luật và thực tiễn thì từ trước đến nay quyền này được giao cho
duy nhất VKS. Vậy, chủ thể thực hành quyền công tố ở Việt Nam là Viện
kiểm sát nhân dân.
Từ những phân tích trên có thể đi đến khái niệm sau:
Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người
phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án
hình sự. [45, tr. 1].
b) Đối tượng thực hành quyền công tố:
Đối tượng của quyền công tố là yếu tố mà quyền công tố tác động tới
nhằm thực hiện mục đích truy cứu trách nhiệm hình sự. Với cách hiểu này,
đối tượng của quyền công tố không gì có thể khác hơn là tội phạm và người

không còn thì hoạt động thực hành quyền công tố cũng được kết thúc. Vì vậy,
phạm vi thực hành quyền công tố được bắt đầu từ khi khởi tố vụ án hình sự và
kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị, hoặc vụ án
được đình chỉ theo quy định của pháp luật TTHS. Qua đây, có thể thấy rằng
phạm vi của thực hành quyền công tố hẹp hơn so với phạm vi của quyền công
tố, nó chỉ bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án và kết thúc khi bản án có
hiệu lực pháp luật (trừ trường hợp vụ án bị tạm đình chỉ, đình chỉ).
d) Nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
Để buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội, pháp luật đã
quy định hàng loạt các hoạt động tố tụng, như: khởi tố vụ án, khởi tố bị can,
tiến hành điều tra thu thập chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của người
đã thực hiện hành vi phạm tội, buộc tội đối với bị can, bị cáo và bảo vệ quan
điểm truy tố. Việc sử dụng các quyền năng pháp lý để thực hiện các hoạt động
tố tụng này chính là nội dung của thực hành quyền công tố.
Theo các quy định của BLTTHS và Luật Tổ chức VKSND thì "Viện
kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố trong tất cả các giai đoạn điều
tra, truy tố và xét xử bằng các biện pháp theo quy định của pháp luật". Trong
khuôn khổ đề tài nghiên cứu tôi xin chú trọng trình bày nội dung thực hành
quyền công tố trong giai đoạn điều tra, cụ thể như sau:


13

- Khởi tố vụ án, khởi tố bị can: Đây là các biện pháp phát động quyền
công tố, mở đầu cho cả quá trình TTHS, là điểm mốc làm phát sinh quan hệ
pháp luật hình sự giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền với người có
hành vi phạm tội bởi bắt đầu từ đây, cơ quan có thẩm quyền chính thức bắt
đầu các hoạt động điều tra nhằm làm rõ tội phạm và người phạm tội, làm rõ
các tình tiết của vụ án… Theo quy định của pháp luật, VKS là cơ quan duy
nhất trong TTHS có quyền quyết định việc có hay không khởi tố vụ án hình

nên cần phải có sự chế ước giữa các cơ quan nhà nước với nhau trong TTHS
nhằm đảm bảo tất cả mọi hành vi phạm tội đã được phát hiện phải được khởi
tố, xử lý kịp thời và nghiêm minh nhưng phải có căn cứ và đúng pháp luật. Vì
vậy, pháp luật quy định giao cho một cơ quan nhà nước trách nhiệm kiểm tra,
giám sát, đảm bảo cho các tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc chứng minh
hành vi phạm tội và nhân thân của người phạm tội phải được thu thập đầy đủ,
toàn diện, khách quan và hợp pháp - Cơ quan đó là VKS. VKS là cơ quan duy
nhất có quyền can thiệp trực tiếp vào quá trình điều tra, đề ra yêu cầu điều tra
để Cơ quan điều tra tiến hành điều tra. Cơ quan điều tra mà cụ thể là các Điều
tra viên có trách nhiệm phải thực hiện tất cả các yêu cầu của VKS; trường hợp
không nhất trí, Cơ quan điều tra có quyền được kiến nghị đến VKS cấp trên
nhưng trong thời gian chờ đợi kết quả vẫn phải thực hiện nghiêm chỉnh các
yêu cầu đó. Ngoài ra, VKS còn có quyền tự mình trực tiếp tiến hành một số
hoạt động điều tra nếu xét thấy cần thiết như ghi lời khai của bị hại, nhân
chứng, thực nghiệm điều tra…
- Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên theo
quy định của BLTTHS, nếu hành vi có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố hình sự
Để bảo đảm việc điều tra vụ án được khách quan, toàn diện và đầy đủ,
Viện kiểm sát có quyền yêu cầu thủ trưởng cơ quan điều tra thay đổi Điều tra
viên khi có căn cứ cho rằng Điều tra viên đó không vô tư trong quá trình tiến
hành tố tụng. Trong trường hợp hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tội
phạm như tiêu hủy, đánh tráo vật chứng của vụ án, làm sai lệch hồ sơ vụ án
đang điều tra... thì Viện kiểm sát có quyền khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị
can đối với Điều tra viên đó.
- Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp bắt, tạm giữ,
tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác
Trong quá trình điều tra, pháp luật tố tụng đã quy định cho cơ quan
điều tra có quyền ra các quyết định bắt, tạm giữ, ra lệnh tạm giam hoặc đề
nghị áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác hạn chế một số quyền của người


tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, xác định nguyên nhân và
điều kiện dẫn đến tội phạm, những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra
phải được phát hiện, khắc phục kịp thời và xử lý nghiêm minh.


16

Trong quá trình điều tra, Viện kiểm sát phải chủ động bám sát các
hoạt động điều tra của cơ quan điều tra như trực tiếp kiểm sát việc khám
nghiệm hiện trường, hỏi cung bị can, khám xét... Phải kiểm sát chặt chẽ các
hoạt động thu thập, bảo quản, đánh giá các chứng cứ của vụ án; kiểm sát chặt
chẽ ngay từ đầu việc khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và các quyết định
khác của cơ quan điều tra như quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra,
quyết định phục hồi điều tra vụ án... thông qua công tác kiểm sát, Viện kiểm
sát ra được các quyết định công tố kịp thời, chính xác như hủy các quyết định
không có căn cứ của cơ quan điều tra.
Như vậy, pháp luật hiện hành đã quy định các nội dung hoạt động
công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra, nhằm bảo đảm việc truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can có căn cứ và đúng pháp luật. Hoạt
động này của Viện kiểm sát chỉ đúng đắn khi kết quả điều tra của cơ quan
điều tra được bảo đảm bởi hoạt động kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát một
cách khách quan, toàn diện và đầy đủ.
1.2. Khái niệm, đối tượng, phạm vi và nội dung của kiểm sát điều
tra:
a) Khái niệm:
Theo quy định của pháp luật thì chức năng, nhiệm vụ của VKSND là
"Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp…". Qua tinh
thần của các văn bản pháp luật, có thể thấy rõ đây là hai chức năng hoàn toàn
độc lập của VKS. Các vấn đề có liên quan đến chức năng thứ nhất (thực hành
quyền công tố) đã được làm rõ qua phần phân tích trên. Các vấn đề có liên

và các quyết định của Tòa án nhân dân. Cả ba lĩnh vực công tác đó hợp thành
kiểm sát các hoạt động tư pháp.
Kiểm sát điều tra
Theo quy định của pháp luật, trong lĩnh vực hình sự, Viện kiểm sát
thực hiện chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tư pháp bằng các công tác khác nhau gắn với các giai đoạn tố tụng khác
nhau: Thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật trong việc
điều tra các vụ án hình sự của Cơ quan điều tra; thực hành quyền công tố và
kiểm sát tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự; kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong việc thi hành các bản án hình sự và các quyết định
của TAND (Điều 4 Luật Tổ chức VKSND năm 2014). Ứng với mỗi công tác
này, Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định một chương riêng biệt. Trong
đó, tại chương II, các mục 2 (gồm các điều 14, 15) quy định cụ thể về nhiệm



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status