Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn thành phố hà nội - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN NGỌC ÁNH

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN NGỌC ÁNH

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự

CQĐT

Cơ quan điều tra

KSĐT

Kiểm sát điều tra

THQCT

Thực hành quyền công tố

TTHS

Tố tụng hình sự

VKS

Viện kiểm sát

VKSND

Viện kiểm sát nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng số 1: Số liệu vụ án, bị can tội xâm phạm sở hữu VKS hai cấp thành phố Hà
Nội kiểm sát việc khởi tố giai đoạn 2011 – 2015
Bảng số 2: Số liệu kiểm sát việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong các tội xâm


6

6. Những điểm mới và đóng góp của luận văn

6

7. Kết cấu của luận văn

7

CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN
CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ÐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ
HỮU
8
1.1.Khái niệm, mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra

8

1.1.1. Khái niệm thực hành quyền công tố

8

1.1.2. Khái niệm Kiểm sát điều tra

15

1.1.3. Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra

20

2.2. Thực trạng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án
xâm phạm sở hữu trên địa bàn thành phố Hà Nội
49
2.2.1. Những kết quả đạt được trong công tác thực hành quyền công tố và
kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu của Viện kiểm sát nhân dân hai
cấp thành phố Hà Nội
51
2.2. 2. Những hạn chế trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các
vụ án xâm phạm sở hữu của Viện kiểm sát nhân dân hai cấp thành phố Hà Nội
và nguyên nhân của những hạn chế
58
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HÀNH QUYỀN
CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ
HỮU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
68
3.1. Giải pháp về pháp luật
3.1.1. Hoàn thiện pháp luật Tố tụng hình sự

68
68

3.1.2. Hoàn thiện pháp luật hình sự và tăng cường hướng dẫn áp dụng pháp
luật hình sự
72
3.2. Những giải pháp khác

76

3.2.1. Tiếp tục kiện toàn biên chế, nâng cao‎ ý thức chính trị, phẩm chất đạo
đức và trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên ở Viện kiểm

Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), đất nước ta tiến hành
công cuộc đổi mới toàn diện và sâu sắc dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản
Việt Nam. Trải qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành quả
đáng khích lệ trên mọi mặt của đời sống chính trị, xã hội… nền kinh tế cơ bản
phát triển theo hướng kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên bên cạnh những kết quả mà nền kinh tế thị
trường mang lại thì mặt trái của nó chính là tai, tệ nạn xã hội, là vi phạm pháp
luật và tội phạm gia tăng, diễn biến của tội phạm phức tạp, tính chất thủ đoạn
ngày càng tinh vi. Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam hiện
hành, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) là cơ quan duy nhất có chức năng thực
hành quyền công tố (THQCT) và kiểm sát các hoạt động tư pháp, trong đó bao
gồm hoạt động Kiểm sát điều tra (KSĐT). KSĐT là hoạt động của VKSND
trong quá trình giải quyết án hình sự. KSĐT đảm bảo cho hoạt động điều tra
được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo mọi hành vi vi phạm
và tội phạm phải được phát hiện và xử lý trước pháp luật.
Công tác THQCT và KSĐT được thực hiện đúng theo quy định của pháp
luật sẽ giúp cho việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can được đúng người đúng tội,
hoạt động điều tra được đầy đủ, chính xác và kịp thời, tạo tiền đề cho công tác
truy tố và xét xử đảm bảo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, tránh làm oan
người vô tội hay bỏ lọt tội phạm.
Trước những yêu cầu của tình hình mới, VKSND cần tiếp tục thực hiện
đổi mới toàn diện cả về tổ chức và hoạt động thì mới hoàn thành được nhiệm vụ
của mình.Việc đổi mới của VKSND đã được Nghị quyết số 08/ NQ/TW ngày
02/01/2002 của Bộ Chính trị: “Về một số nhiệm vụ trọng tâm của công
tác tư pháp trong thời gian tới” xác định: “Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt
chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp.


2


3

THQCT và KSĐT các tội xâm phạm sở hữu của VKSND ở Thành phố Hà Nội
còn bộc lộ nhiều hạn chế như: Hoạt động KSĐT chưa được thực hiện ngay từ
giai đoạn đầu của vụ án, Kiểm sát viên (KSV) thiếu chủ động trong việc đề ra
yêu cầu điều tra, chưa thường xuyên trao đổi nắm bắt thông tin về hoạt động
điều tra nên còn bị động trong quá trình giải quyết vụ án, kỹ năng KSĐT của
nhiều KSV còn hạn chế… Điều này dẫn đến nhiều vụ án bị kéo dài, phải gia hạn
thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam, còn bỏ lọt tội phạm…Những tồn tại nêu
trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, tuy nhiên nguyên nhân cơ bản là
do nhận thức pháp luật và áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ án
xâm phạm sở hữu của Cơ quan điều tra (CQĐT) và VKSND còn chưa thống
nhất. Lý luận về hoạt động kiểm sát trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự
chưa được xem xét, nghiên cứu có tính hệ thống, đầy đủ và toàn diện. Thực tiễn
hoạt động của VKSND trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự nói chung và
các vụ án xâm phạm sở hữu nói riêng chưa được quan tâm, nghiên cứu, tổng kết
thường xuyên.
Trước thực trạng nêu trên, với xu hướng hội nhập quốc tế như hiện nay,
việc nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động THQCT và KSĐT các
tội xâm phạm sở hữu, đánh giá kết quả đạt được và những hạn chế, tồn tại từ đó
đưa ra các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng THQCT và
KSĐT các tội xâm phạm sở hữu của VKSND ở Thành phố Hà Nội là vô cùng
cần thiết.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, học viên chọn đề tài: “Thực hành
quyền công tố và Kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn
thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
THQCT và KSĐT là chủ đề đã được nhiều học giả nghiên cứu dưới góc
độ lý luận và từ nhiều phương diện khác nhau, trong đó phải kể đến một số công
trình điển hình như sau:

một công trình khoa học nào nghiên cứu hoạt động THQCT và KSĐT cụ thể đối
với các vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn thành phố Hà Nội.


5

3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
- Mục đích của đề tài: Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận về THQCT và
KSĐT các vụ án xâm phạm sở hữu, đánh giá thực trạng và đưa ra các đề xuất,
phương hướng để nâng cao chất lượng THQCT và KSĐT các vụ án xâm phạm
sở hữu nói riêng và các vụ án hình sự nói chung. Qua đó góp phần hoàn thiện
hơn nữa các quy định của pháp luật về THQCT và KSĐT các vụ án hình sự theo
tinh thần cải cách tư pháp mà Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ
Chính trị đề ra.
- Nhiệm vụ của đề tài: Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có
những nhiệm vụ sau:
+ Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về THQCT và KSĐT nói chung và
đặc điểm THQCT và KSĐT đối với các tội xâm phạm sở hữu nói riêng
+ Phân tích, đánh giá những kết quả đã đạt được, những tồn tại, hạn chế
và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế về THQCT và KSĐT các tội xâm
phạm sở hữu của VKSND ở Thành phố Hà Nội (ở cả hai cấp)
+ Đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm đảm bảo và nâng cao chất
lượng công tác THQCT và KSĐT các tội xâm phạm sở hữu của VKSND ở
Thành phố Hà Nội.
4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định
của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về THQCT và KSĐT các vụ
án hình sự và hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án xâm phạm sở hữu của
VKSND ở Hà Nội.
- Phạm vi nghiên cứu:

xâm phạm sở hữu mà trong đó giải quyết nhiều vấn đề quan trọng trong việc áp
dụng pháp luật tố tụng hình sự và hình sự để làm sáng tỏ các vấn đề cần chứng
minh trong vụ án hình sự thông qua hoạt động THQCT và KSĐT của Viện kiểm
sát. Những điểm mới cơ bản của luận văn là:


7

- Phản ánh được thực trạng THQCT và KSĐT các vụ án xâm phạm sở hữu;
- Phân tích, đánh giá, chỉ ra được những tồn tại, hạn chế mà hoạt động
THQCT và KSĐT các vụ án xâm phạm sở hữu thường gặp phải;
- Đưa ra những vấn đề cần lưu ý, những kinh nghiệm khi THQCT và KSĐT
các vụ án xâm phạm sở hữu;
- Đề xuất hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật tố tụng hình sự cũng
như pháp luật hình sự liên quan đến THQCT và KSĐT các vụ án xâm phạm sở
hữu trong chiến lược cải cách tư pháp hiện nay.
Bên cạnh đó, Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ yêu
cầu không ngừng nâng cao chất lượng công tác THQCT và KSĐT các tội xâm
phạm sở hữu, đồng thời có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng
dạy, nghiên cứu các chuyên đề có liên quan đến thực hiện chức năng thực hành
quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố và kiểm sát
điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu
Chương 2: Pháp luật hiện hành và thực trạng thực hành quyền công tố và
kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn thành phố Hà Nội từ
năm 2011 đến năm 2015.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm

Quan điểm thứ nhất: Là quan điểm cho rằng tất cả các hoạt động kiểm
sát việc tuân theo pháp luật của VKS đều là THQCT. Những người theo quan
1

Nguyễn Như Ý (2007), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.


9

điểm này đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với hoạt động kiểm sát việc
tuân theo pháp luật của VKSND. Quan điểm này xuất phát từ chức năng của
VKSND để xem xét quyền công tố. Họ cho rằng tất cả các hoạt động kiểm sát
việc tuân theo pháp luật đều là THQCT. Điều đó có nghĩa là ngay cả khi Viện
kiểm sát kiến nghị yêu cầu các cơ quan nhà nước sửa chữa những vi phạm của
mình trên lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội cũng là THQCT. Theo quan điểm
này, công tố không phải là một chức năng độc lập của VKS mà chỉ là một quyền
năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp2
Quan điểm thứ hai: Quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước đưa
các vụ việc vi phạm pháp luật nói chung ra trước Tòa án để xét xử nhằm bảo vệ
lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật; ở Việt Nam, quyền này được giao
cho VKSND.3Theo quan điểm này thì đầu tiên quyền công tố chỉ có trong lĩnh
vực hình sự, về sau nó được mở rộng sang các lĩnh vực tư pháp khác và cho đến
nay thì quyền công tố không chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự (TTHS) mà
còn có cả trong các lĩnh vực tố tụng dân sự và các lĩnh vực tố tụng tư pháp khác.
Theo tác giả, quan điểm này quá mở rộng cả khái niệm, nội dung và
phạm vi của quyền công tố, đã đồng nhất quyền công tố với những quyền năng
khác của VKS trong quá trình kiểm sát các hoạt động tư pháp (giải quyết các vụ
án dân sự, hành chính, kinh tế và lao động…).
Quan điểm thứ ba: Là quan điểm cho rằng quyền công tố chỉ tồn tại
trong lĩnh vực hình sự, là quyền của Nhà nước nhân danh công quyền truy tố

nhân hợp lý của nó.
Tuy vậy, xuất phát từ căn cứ khoa học, các quy định của pháp luật, thực
tiễn hoạt động của các cơ quan tư pháp cũng như kinh nghiệm tổ chức và hoạt
động của các cơ quan tư pháp cũng như kinh nghiệm tổ chức và hoạt động công
tố ở các nước khác cho thấy các quan điểm nêu trên đã bộc lộ một số bất cập
như: Hoặc là đánh đồng quyền công tố với kiểm sát tuân theo pháp luật, coi
quyền công tố chỉ là quyền năng của VKS trong kiểm sát tuân theo pháp
luật nên đã mở rộng phạm vi của quyền công tố sang các lĩnh vực khác ngoài
TTHS; hoặc là quá thu hẹp phạm vi của quyền công tố, cho rằng quyền công tố
chỉ có trong giai đoạn xét xử sơ thẩm; hoặc xác định không đúng chủ thể của
quyền công tố…
4

Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2002), "Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực hành quyền công tố ở Việt Nam từ
năm 1945 đến nay", Thông tin khoa học pháp lý, Số chuyên đề, (1)
5

Lê Thị Tuyết Hoa (2001), “Bàn về quyền công tố”, Nhà nước và pháp luật (10)


11

Theo tác giả luận văn, để làm rõ khái niệm quyền công tố, phải xuất phát
từ lịch sử Nhà nước và pháp luật. Dù muốn hay không, chúng ta không thể
không thừa nhận Nhà nước ra đời và tồn tại luôn luôn là đại diện chính thức cho
xã hội (xét về mọi phương diện). Trong xã hội có giai cấp, bất kể là xã hội nào,
có nhiều loại quan hệ còn tồn tại, nhưng chung quy lại có hai nhóm quan hệ xã
hội cơ bản: nhóm quan hệ xã hội thể hiện lợi ích công cộng và nhóm quan hệ xã
hội thể hiện lợi ích của từng công dân. Nhà nước nói chung luôn luôn có trách
nhiệm bảo vệ các quan hệ xã hội liên quan đến lợi ích chung, đến trật tự xã hội

của VKSND nhằm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị được
tổ chức tháng 6/2002, đồng chí Hà Mạnh Trí - Viện trưởng VKSNDTC đã
khẳng định: "Việc thực hành quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực hình sự và chỉ
trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử".
- Hiến pháp 2013 (Điều 107) quy định: "Viện kiểm sát nhân dân thực
hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp".7Quy dịnh này cũng được cụ
thể hóa trong các văn bản pháp luật của Nhà nước ta (Điều 2 Luật Tổ chức
VKSND năm 2014, Điều 23 BLTTHS năm 2003).
Như vậy có thể thấy quyền công tố ở nước ta được giao cho một chủ thể
duy nhất đó là Viện kiểm sát. Quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực TTHS và có ở
tất cả các giai đoạn tố tụng từ khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử.
Từ những nội dung được trình bày trên, tác giả cho rằng: Quyền công tố
ở Việt Nam là quyền của Nhà nước giao cho VKSND thực hiện việc buộc tội đối
với người phạm tội nhằm bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội.
1.1.1.2. Thực hành quyền công tố
Khái niệm quyền công tố và THQCT có quan hệ mật thiết với nhau, giải
quyết chính xác, rõ ràng, rành mạch những vấn đề liên quan đến khái niệm
quyền công tố và THQCT sẽ giúp cho chúng ta nhận thức đầy đủ, chính xác vị
trí, vai trò của VKSND trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung,
trong mối quan hệ với các cơ quan tư pháp nói riêng cũng như chức năng, nhiệm
vụ của VKS, đặc biệt là trong TTHS. Điều này có nghĩa đặc biệt quan trọng
trong giai đoạn hiện nay khi chúng ta tích cực triển khai thực hiện các Nghị
quyết của Đảng về cải cách bộ máy Nhà nước, cải cách cơ quan tư pháp.

7

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (2013), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.


13

14

Phạm vi thực hành quyền công tố: Theo quy định của pháp luật nước ta
thì cơ quan VKS có trách nhiệm thực hành quyền công tố trong tất cả mọi giai
đoạn của TTHS từ điều tra, truy tố đến xét xử (bao gồm cả xét xử sơ thẩm, phúc
thẩm và giám đốc thẩm, tái thẩm).
Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình
sự đối với người phạm tội; để đảm bảo thực hiện được sự buộc tội nhân danh
Nhà nước đó pháp luật quy định các chức năng, nhiệm vụ cụ thể, các chức năng,
nhiệm vụ đó chính là thực hành quyền công tố.8Như vậy, có thể thấy rõ quyền
công tố là cơ sở của thực hành quyền công tố, phải có quyền công tố thì mới có
thực hành quyền công tố cho nên để xem xét phạm vi của thực hành quyền công
tố thì trước hết phải xem xét đến phạm vi của quyền công tố. Như phần trên đã
nêu, phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm được thực hiện … Còn
thực hành quyền công tố thì chỉ phát sinh kể từ thời điểm vụ án được
khởi tố bằng quyết định chính thức của cơ quan có thẩm quyền - tức là khi cơ
quan tố tụng đã áp dụng một trong các biện pháp thực hành quyền công tố. Tuy
nhiên, trên thực tế có không ít những trường hợp mặc dù có tội phạm xảy ra
nhưng không được khởi tố; điều này do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong
khoa học pháp lý gọi là "tội phạm ẩn" (tức là những tội phạm trên thực tế đã xảy
ra nhưng chưa được khởi tố để điều tra)9cho nên cơ quan tố tụng không áp dụng
được bất cứ một biện pháp thực hành quyền công tố nào. Qua đây, có thể thấy
rằng phạm vi của thực hành quyền công tố hẹp hơn so với phạm vi của quyền
công tố, nó chỉ bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án và kết thúc khi bản án
có hiệu lực pháp luật (trừ trường hợp vụ án bị tạm đình chỉ, đình chỉ).

8

Lê Cảm (2001), "Một số vấn đề lý luận cơ bản về quyền công tố", Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ: Những vấn đề lý luận về
quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà

gia chỉ đạo biên soạn, thì "kiểm sát" là hoạt động của VKSND nhằm kiểm tra,
giám sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước.
Với cách giải thích khái niệm "kiểm sát" của hai cuốn từ điển nêu trên,
chúng tôi cho rằng, kiểm sát gồm hai loại hình hoạt động cơ bản: giám sát và
kiểm tra. Hoạt động giám sát là hoạt động theo dõi các hoạt động của các đối
tượng bị giám sát và khi cần thiết thì sử dụng các biện pháp tác động phù hợp để


16

yêu cầu người, cơ quan bị giám sát có hành vi vi phạm pháp luật sửa chữa vi
phạm đó. Hoạt động kiểm tralà hoạt động xem xét, đánh giá hoạt động của
người, cơ quan bị kiểm tra.
Kiểm sát điều tra nói một cách đầy đủ đó là kiểm sát các hoạt động tư
pháp trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
Thuật ngữ "kiểm sát các hoạt động tư pháp" được xuất hiện trong các văn
kiện của Đảng như Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX, Nghị quyết số 08 ngày
02/01/2002 của Bộ chính trị và đặc biệt được quy định tại Điều 107 Hiến pháp
năm 2013 và Luật tổ chức VKSND năm 2014. Tuy nhiên nhà lập pháp nước ta
chưa đưa ra một định nghĩa pháp lý chung nhất của khái niệm "kiểm sát các hoạt
động tư pháp" nên dẫn đến nhiều quan điểm nhận thức khác nhau về khái niệm
này. Một thực tế chúng ta phải thừa nhận rằng trong suốt một thời gian dài
chúng ta chưa quan tâm đúng mực đến lĩnh vực tư pháp, điều đó thể hiện ở việc
trước khi có Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX thuật ngữ quyền tư
pháp ít được sử dụng trong ngôn ngữ chính trị, pháp luật và khoa học. Điều đó
đã không tạo ra được tiền đề cho việc nghiên cứu các vấn đề về tư pháp, trong
đó có vấn đề "kiểm sát các hoạt động tư pháp".10Do vậy, hiện nay xung quanh
khái niệm “kiểm sát các hoạt động tư pháp” đang còn có nhiều quan điểm khác
nhau, tựu chung lại có ba nhóm quan điểm sau:
Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng "Kiểm sát các hoạt động tư pháp chỉ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status