Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy ở thành phố hà nội - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN MẠNH TÙNG

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA
CÁC VỤ ÁN VỀ MA TÚY Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 60 38 01 04
Người hướng dẫn khoa học: TS. …………..

HÀ NỘI – NĂM 2017


Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng
tôi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn cha từng đợc ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Xỏc nhn ca giỏo viờn hng dn

Tác giả luận văn


LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu lý luận và qua công tác thực tiễn, được sự hướng


Tên bảng Trang

2.1 Tỷ lệ các vụ án về ma túy so với tổng số các vụ án nói
chung trên địa bàn thành phố Hà Nội mà VKS đã thụ lý,
kiểm sát điều tra từ năm 2011 – 2015

44

2.2 Kết quả kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy trên địa bàn
thành phố Hà Nội giai đoạn 2011-2015

44

2.3 Kết quả thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
các vụ án về ma túy trên địa bàn thành phố Hà Nội giai
đoạn 2011-2015

45


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1

3.3 Về tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành và sự phối hợp với các cơ quan khác 78
3.4. Về cải thiện phương tiện làm việc và chế độ chính sách đối với cán bộ ngành kiểm sát 81
3.5 Yêu cầu riêng đặt ra đối với việc nâng cao chất lượng công tác giải quyết án ma túy trên địa
bàn thành phố Hà Nội 85
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cải cách tư pháp là yêu cầu cấp thiết của Đảng, Nhà nước ta hiện nay, nhằm mục tiêu xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân, do Đảng lãnh đạo. Chủ trương “Tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động
điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra” là một trong những vấn đề cơ bản, quan trọng trong
cải cách tư pháp hình sự hiện nay ở nước ta. Các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng về cải cách tư pháp
xác định: Viện kiểm sát phải chịu trách nhiệm chính về những oan, sai trong việc khởi tố, bắt, tạm
giữ, tạm giam, điều tra, truy tố; phải bảo đảm việc truy tố có căn cứ, đúng pháp luật, cùng với cơ
quan điều tra khắc phục những vi phạm, tồn tại trong quá trình điều tra, bảo đảm không để lọt tội
phạm, người phạm tội, không làm oan người vô tội. Tại Hội nghị triển khai công tác kiểm sát năm
2011, đồng chí Viện trưởng VKSNDTC đã kết luận về vấn đề này để chỉ đạo toàn Ngành Kiểm sát
quán triệt thực hiện; cụ thể như sau: “Cần có cách nhìn toàn diện, đầy đủ về quan hệ giữa thực
hành quyền công tố với kiểm sát điều tra; tăng cường hơn nữa vai trò chủ động của Viện kiểm sát
trong quá trình điều tra…; Tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra, gắn
công tố với hoạt động điều tra nghĩa là Viện kiểm sát phải “song hành” cùng với cơ quan điều tra
trong hoạt động điều tra, làm rõ tội phạm và người phạm tội; phải phối hợp chặt chẽ với cơ quan
điều tra để tìm giải pháp phát hiện, xử lý tội phạm khẩn trương nhất, đầy đủ nhất. Khi phát hiện
thấy hạn chế, thiếu sót trong quá trình điều tra, Viện kiểm sát phải coi đó cũng chính là hạn chế,
thiếu sót của mình để cùng với cơ quan điều tra tìm biện pháp khắc phục… Viện kiểm sát kiên
quyết không phê chuẩn đối với những quyết định tố tụng vi phạm pháp luật hoặc không có căn cứ.
Mục tiêu của hoạt động kiểm sát điều tra là nhằm hỗ trợ việc thực hành quyền công tố

Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, chức năng của VKSND ở bnước ta trong giai
đoạn hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Đây là một chức
năng mà VKSND đã đảm đương từ lâu nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều vướng mắc và khó khăn
do chưa đạt được sự thống nhất cao cả trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn. Công tác kiểm sát
hoạt động tư pháp đặc biệt là kiểm sát điều tra vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế mà nguyên nhân và
bài học kinh nghiệm của các hạn chế đó không phải chỉ có một, cần được nghiên cứu làm rõ và có
hướng khắc phục để tiếp tục tiến trình cải cách tư pháp, đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi của thực tiễn
đổi mới. Vì vậy, việc nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề trên không chỉ có giá trị về mặt lý luận mà
còn có ý nghĩa thực tiễn, góp phần đảm bảo sự thống nhất trong hành động, nâng cao hiệu quả của
công tác tư pháp nói chung, công tác kiểm sát nói riêng, hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và Nhà
nước giao phó cho VKSND, đáp ứng với yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Với mong muốn được góp phần làm sáng tỏ hơn một số vấn đề lý luận và thực tiễn thông
qua hoạt động thực hiện chức năng nhiệm vụ của VKSND đối với một loại tội phạm cụ thể đồng
thời đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng của hoạt động này trong điều kiện cải cách tư
pháp, tác giả chọn đề tài ‘’ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy ở
thành phố Hà Nội’’; làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Ở nước ta hiện nay, liên quan đến hoạt động THQCT và KSĐT, tác giả cũng đã tiếp cận,
tham khảo được một số công trình nghiên cứu sau: Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tư pháp trong giai đoạn điều tra’’; của Lê Hữu Thể (chủ biên), Nhà xuất bản Tư pháp, 2005.
- Luận văn thạc sĩ luật học “Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các tội xâm
phạm sức khỏe trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh – thực trạng và một số kiến nghị” của Nguyễn Văn
Hùng, Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội, 2014.
- Luận văn thạc sĩ luật học: "Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở
giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân" của Trịnh Duy Tám, Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh, 2005.
- Luận án tiến sĩ Luật học Lê Thị Tuyết Hoa: "Quyền công tố ở Việt Nam",
2005.
Ngoài ra, còn có các bài viết của các tác giả khác với các ý kiến và quan điểm khác nhau
được đăng trên các báo và Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Luật học…, các báo cáo tổng kết công tác,

Nghị quyết số 08/NQTW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49/NQTW ngày 26/5/2005 về chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị.
- Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng
các phương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu;
phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học để tổng
hợp các tri thức khoa học và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn.
5. Những điểm mới đóng góp của luận văn
- Luận văn đã khảo cứu chuyên sâu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động
THQCT và KSĐT các vụ án về ma túy.
- Luận văn cũng đánh giá, phân tích những hạn chế trong hoạt động củaVKSND khi
THQCT và KSĐT các vụ án về ma túy, thông qua đó, đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao
hiệu quả của VKSND trong hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án về ma túy ở địa bàn thành phố
Hà Nội.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn


Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hoạt động của VKSND khi
THQCT và KSĐT các vụ án về ma túy, góp phần xây dựng, hoàn thiện các tri thức của khoa học
Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự và khoa học Điều tra hình sự.
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích dành cho không chỉ
các nhà lập pháp mà còn cho các nhà nghiên cứu, các cán bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu
sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật.
Kết quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức chuyên sâu cho
các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và cơ quan Thi
hành án trong quá trình giải quyết vụ án hình sự được khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm
3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ
án về ma túy.

tố’’ và “Thực hành quyền côngtố’’ lần đầu tiên được xuất hiện bên cạnh khái niệm truyền thống
"kiểm sátviệc tuân theo pháp luật".
Có thể thấy, về khái niệm quyền công tố có rất nhiều quan điểm khácnhau. Mỗi quan điểm
trong số đó đều có những hạt nhân hợp lý của nó nhưngcũng đều bộc lộ những bất cập: Hoặc là
đánh đồng quyền công tố với kiểmsát tuân theo pháp luật, coi quyền công tố chỉ là quyền năng của
VKS trongkiểm sát tuân theo pháp luật nên đã mở rộng phạm vi của quyền công tố sangcác lĩnh
vực khác ngoài TTHS; hoặc là quá thu hẹp phạm vi của quyền côngtố, cho rằng quyền công tố chỉ
có trong giai đoạn xét xử sơ thẩm; hoặc xácđịnh không đúng chủ thể của quyền công tố…
Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho VKS truy cứu trácnhiệm hình sự đối với
người phạm tội; cơ quan công tố có trách nhiệm bảođảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để
xác định tội phạm và ngườiphạm tội, trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo
vệ sựbuộc tội đó trước phiên tòa [27, tr. 40].
Với nhận thức của mình, tôi ủng hộ quan điểm khái niệm quyền công tốnhư sau: Quyền
công tố là quyền của Nhà nước giao cho VKS truy cứu tráchnhiệm hình sự đối với người phạm tội;
cơ quan công tố có trách nhiệm bảođảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội
phạm và ngườiphạm tội, trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sựbuộc
tội đó trước phiên tòa [27, tr. 40].


Tôi ủng hộ quan điểm trên bởi các lý do sau đây:
Thứ nhất, tôi nhận thấy quan điểm này phù hợp với quan điểm truyền
thống nghiên cứu lịch sử nhà nước - pháp luật về quyền công tố: "Quyền công
tố là quyền của Nhà nước, nhân danh Nhà nước buộc tội đối với người có
hành vi vi phạm mà pháp luật hình sự xem xét là tội phạm xâm hại trật tự
chung của toàn xã hội".
Thứ hai, quan điểm này cũng phù hợp với các quy định của pháp luật
của Nhà nước ta qua các thời kỳ khác nhau về quyền công tố, cụ thể:
- Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước ta qua các thời kỳ đều khẳng
định "Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố…".
- Khi nói về vai trò nhiệm vụ của VKSND, đồng chí Trường Chinh đã

xác định vị trí, vai trò của VKSND trong hệ thống cơ quan nhà nước nói
chung, trong mối quan hệ với các cơ quan tư pháp nói riêng mà còn giúp cho
nhận thức thống nhất và hoạt động thực tiễn có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của
thực tiễn cải cách tư pháp.
Như phân tích trên, quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội; quyền công tố chỉ
có trong lĩnh vực TTHS; phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm
xảy ra, tiếp diễn suốt từ khởi tố, điều tra đến truy tố bị can ra Tòa, tranh tụng
tại phiên tòa và kết thúc bằng một bản án có hiệu lực pháp luật (hoặc quyết
định của Tòa án - trong trường hợp vụ án bị đình chỉ). Để thực hiện được
quyền công tố đó, Nhà nước ban hành pháp luật quy định các quyền năng
pháp lý khác nhau để các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng trong
từng giai đoạn khác nhau của tố tụng hình sự (hay nói cách khác đó là các
phương pháp khác nhau để tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong


những giai đoạn tố tụng khác nhau) - đó là thực hành quyền công tố.
Không chỉ Viện kiểm sát còn có cả Cơ quan điều tra và Tòa án cũng có
quyền phát động quyền công tố nhưng các quyết định khởi tố của các cơ quan
đó chỉ thực sự có ý nghĩa phát động công tố quyền sau khi được Viện kiểm
sát xem xét; nếu quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự của Cơ
quan điều tra không có căn cứ và trái pháp luật thì Viện kiểm sát có quyền
hủy bỏ. Tòa án có quyền khởi tố vụ án hình sự, nếu qua việc xét xử phát hiện
có tội phạm bị bỏ lọt, nhưng các quyết định khởi tố vụ án hình sự của Tòa án
đều phải được gửi cho Viện kiểm sát xem xét, nếu có vi phạm pháp luật thì
Viện kiểm sát sẽ kháng nghị. Như vậy, về mặt pháp lý chỉ có Viện kiểm sát là
cơ quan có quyền độc lập phát động quyền công tố mà không chịu sự can
thiệp của bất cứ cơ quan nhà nước nào. Trong giai đoạn điều tra, cơ quan điều
tra chỉ có quyền đề nghị áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn
chặn, còn việc quyết định là do Viện kiểm sát; Cơ quan điều tra có quyền độc

danh Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội; để đảm
bảo thực hiện được sự buộc tội nhân danh Nhà nước đó pháp luật quy định
các biện pháp cụ thể, các biện pháp đó chính là thực hành quyền công tố [47,
tr. 13-14]. Như vậy, có thể thấy rõ quyền công tố là cơ sở của thực hành
quyền công tố, phải có quyền công tố thì mới có thực hành quyền công tố cho
nên để xem xét phạm vi của thực hành quyền công tố thì trước hết phải xem
xét đến phạm vi của quyền công tố. Như phần trên đã nêu, phạm vi của quyền
công tố bắt đầu từ khi tội phạm được thực hiện … Còn thực hành quyền công
tố thì chỉ phát sinh kể từ thời điểm vụ án được khởi tố bằng quyết định chính
thức của cơ quan có thẩm quyền - tức là khi cơ quan tố tụng đã áp dụng một
trong các biện pháp thực hành quyền công tố. Tuy nhiên, trên thực tế có


không ít những trường hợp mặc dù có tội phạm xảy ra nhưng không được
khởi tố; điều này do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong khoa học pháp lý
gọi là "tội phạm ẩn" (tức là những tội phạm trên thực tế đã xảy ra nhưng chưa
được khởi tố để điều tra) [48, tr. 62-67] cho nên cơ quan tố tụng không áp
dụng được bất cứ một biện pháp thực hành quyền công tố nào. Với mục tiêu
mọi tội phạm xảy ra đều phải được phát hiện và xử lý theo pháp luật của
TTHS, nên về mặt nguyên tắc, cứ có tội phạm xảy ra là đòi hỏi quyền công tố
phải được phát động. Khi quyền công tố được phát động thì đồng nghĩa với
hoạt động thực hành quyền công tố được triển khai và khi quyền công tố
không còn thì hoạt động thực hành quyền công tố cũng được kết thúc. Vì vậy,
phạm vi thực hành quyền công tố được bắt đầu từ khi khởi tố vụ án hình sự và
kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị, hoặc vụ án
được đình chỉ theo quy định của pháp luật TTHS. Qua đây, có thể thấy rằng
phạm vi của thực hành quyền công tố hẹp hơn so với phạm vi của quyền công
tố, nó chỉ bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án và kết thúc khi bản án có
hiệu lực pháp luật (trừ trường hợp vụ án bị tạm đình chỉ, đình chỉ).
d) Nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra

thể có thẩm quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can: Có quyền độc lập quyết định
việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, không phải chịu sự chi phối của bất cứ cơ
quan nào, các quyết định này của VKS có hiệu lực ngay sau khi ban hành.
- Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều
tra, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra:
Trong TTHS, Cơ quan điều tra được giao trách nhiệm điều tra tội
phạm, có quyền áp dụng tất cả các biện pháp theo quy định của pháp luật để
điều tra làm rõ vụ án, làm rõ hành vi phạm tội cũng như các tình tiết có liên


quan như động cơ, mục đích của tội phạm, nhân thân của người phạm tội, các
tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, các thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra… Đây là
những hoạt động mà không có cơ quan nào có thể thay thế cho Cơ quan điều
tra được bởi họ có biên chế là đội ngũ các Điều tra viên được đào tạo chuyên
môn nghiệp vụ về điều tra và khám phá tội phạm [49, tr. 8-15]. Nhưng bởi
việc đưa một con người vào vòng tố tụng và xử lý họ về hình sự là vấn đề
không hề đơn giản, động chạm đến rất nhiều quyền cơ bản của công dân được
pháp luật bảo hộ cho nên cần phải đảm bảo tính thận trọng và chính xác cho
nên cần phải có sự chế ước giữa các cơ quan nhà nước với nhau trong TTHS
nhằm đảm bảo tất cả mọi hành vi phạm tội đã được phát hiện phải được khởi
tố, xử lý kịp thời và nghiêm minh nhưng phải có căn cứ và đúng pháp luật. Vì
vậy, pháp luật quy định giao cho một cơ quan nhà nước trách nhiệm kiểm tra,
giám sát, đảm bảo cho các tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc chứng minh
hành vi phạm tội và nhân thân của người phạm tội phải được thu thập đầy đủ,
toàn diện, khách quan và hợp pháp - Cơ quan đó là VKS. VKS là cơ quan duy
nhất có quyền can thiệp trực tiếp vào quá trình điều tra, đề ra yêu cầu điều tra
để Cơ quan điều tra tiến hành điều tra. Cơ quan điều tra mà cụ thể là các Điều
tra viên có trách nhiệm phải thực hiện tất cả các yêu cầu của VKS; trường hợp
không nhất trí, Cơ quan điều tra có quyền được kiến nghị đến VKS cấp trên
nhưng trong thời gian chờ đợi kết quả vẫn phải thực hiện nghiêm chỉnh các

tranh phòng chống tội phạm và bảo vệ quyền tự do dân chủ của công dân.
- Quyết định việc truy tố bị can, tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra vụ án,
bị can
Theo quy định tại Điều 141 BLTTHS, Điều 14 Luật tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân, thì Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất có quyền quyết định


việc truy tố bị can. Cơ quan điều tra có quyền đề nghị truy tố, nhưng trong
mọi trường hợp nếu Viện kiểm sát không truy tố thì vụ án phải được đình chỉ.
Cơ quan điều tra có quyền đình chỉ điều tra nhưng trường hợp quyết định đình
chỉ điều tra của cơ quan điều tra không có căn cứ thì Viện kiểm sát có quyền
hủy bỏ. Như vậy, theo quy định của pháp luật ở giai đoạn điều tra, Viện kiểm
sát có toàn quyền quyết định số phận pháp lý của vụ án hình sự. Đó là đưa
hay không đưa vụ án ra Tòa. Để thực hiện nhiệm vụ này, pháp luật hiện hành
đã có nhiều quy định cho Viện kiểm sát tác động vào quá trình điều tra, bảo
đảm hoạt động điều tra phải được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật,
việc điều tra phải khách quan, toàn diện, phải thu thập đầy đủ các chứng cứ,
cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội, làm rõ các tình tiết tăng nặng hoặc
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, xác định nguyên nhân và
điều kiện dẫn đến tội phạm, những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra
phải được phát hiện, khắc phục kịp thời và xử lý nghiêm minh.
Trong quá trình điều tra, Viện kiểm sát phải chủ động bám sát các
hoạt động điều tra của cơ quan điều tra như trực tiếp kiểm sát việc khám
nghiệm hiện trường, hỏi cung bị can, khám xét... Phải kiểm sát chặt chẽ các
hoạt động thu thập, bảo quản, đánh giá các chứng cứ của vụ án; kiểm sát chặt
chẽ ngay từ đầu việc khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và các quyết định
khác của cơ quan điều tra như quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra,
quyết định phục hồi điều tra vụ án... thông qua công tác kiểm sát, Viện kiểm
sát ra được các quyết định công tố kịp thời, chính xác như hủy các quyết định
không có căn cứ của cơ quan điều tra.

tư pháp mà chỉ là hoạt động tư pháp nếu hoạt động đó gắn liền với việc giải
quyết một vụ án, một tranh chấp cụ thể.


Kiểm sát các hoạt động tư pháp là một trong hai chức năng hiến định
của Viện kiểm sát nhân dân. Theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát thực
hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp bằng các công tác khác nhau
gắn liền với các lĩnh vực khác nhau bao gồm kiểm sát các hoạt động của các
cơ quan tiến hành tố tụng hình sự và tố tụng tư pháp khác trong lĩnh vực giải
quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động…
Gắn liền với tố tụng hình sự là các công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong việc điều tra các vụ án hình sự của Cơ quan điều tra - Kiểm sát điều tra,
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự - Kiểm
sát xét xử và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành các bản án
và các quyết định của Tòa án nhân dân. Cả ba lĩnh vực công tác đó hợp thành
kiểm sát các hoạt động tư pháp.
Kiểm sát điều tra
Theo quy định của pháp luật, trong lĩnh vực hình sự, Viện kiểm sát
thực hiện chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tư pháp bằng các công tác khác nhau gắn với các giai đoạn tố tụng khác
nhau: Thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật trong việc
điều tra các vụ án hình sự của Cơ quan điều tra; thực hành quyền công tố và
kiểm sát tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự; kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong việc thi hành các bản án hình sự và các quyết định
của TAND (Điều 4 Luật Tổ chức VKSND năm 2014). Ứng với mỗi công tác
này, Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định một chương riêng biệt. Trong
đó, tại chương II, các mục 2 (gồm các điều 14, 15) quy định cụ thể về nhiệm
vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công tố và
kiểm sát tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của Cơ quan
điều tra (công tác thứ nhất) với tiêu đề "Thực hành quyền công tố và kiểm sát


hành một số hoạt động điều tra trong việc thực hiện hoạt động điều tra theo
thẩm quyền cũng là đối tượng của KSĐT. Các cơ quan này gồm có: Bộ đội
biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Lực lượng cảnh sát biển và các cơ quan
khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra. Quyền hạn điều tra của các cơ quan này được quy
định tại Điều 111 BLTTHS và các điều 2, 20, 21, 24, 25 Pháp lệnh tổ chức
điều tra hình sự, Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh
tổ chức điều tra hình sự. Khi tiến hành hoạt động điều tra theo thẩm quyền nói
trên, các cơ quan này phải đảm bảo tuân thủ theo quy định của pháp luật tố
tụng hình sự.
Bên cạnh đó, khi thực hiện KSĐT vụ án hình sự, VKS cũng phải đảm
bảo sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng. Đó là sự tuân
theo pháp luật của người bị tạm giữ, bị can, người bị hại, người làm chứng,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người giám định, người phiên dịch,
người bào chữa... Kiểm sát sự tuân theo pháp luật của những người tham gia
tố tụng là kiểm sát việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định
của pháp luật khi tham gia vào các hoạt động tố tụng. Người tham gia tố tụng
phải thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của họ và CQĐT phải đảm bảo để
người tham gia tố tụng được thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó.
c) Phạm vi của kiểm sát điều tra
Phạm vi của kiểm sát điều tra: Về phạm vi không gian: Kiểm sát điều
tra chỉ có trong lĩnh vực TTHS và chỉ ở giai đoạn đầu của TTHS - giai đoạn
điều tra. Về phạm vi thời gian: Kiểm sát điều tra bắt đầu từ khi khởi tố vụ án
và kết thúc khi VKS có quyết định xử lý vụ án và bị can (quyết định truy tố
hoặc đình chỉ điều tra vụ án, bị can).
Việc nhận thức đúng đắn phạm vi của hoạt động THQCT và KSĐT
các vụ án hình sự có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Chỉ trên cơ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status