Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có bị can là người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh hà giang một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

VŨ THỊ MINH

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA
CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CÓ BỊ CAN LÀ NGƯỜI DÂN TỘC
THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG - MỘT SỐ
VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

VŨ THỊ MINH

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA
CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CÓ BỊ CAN LÀ NGƯỜI DÂN TỘC
THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG - MỘT SỐ
VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chuyên ngành

: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số

: 60 38 01 04

1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................. 1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ............................................... 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................. 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.............................................................. 5
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ............................................... 6
6. Địa điểm nghiên cứu ................................................................................... 6
7. Tính mới và những đóng góp của đề tài.................................................... 7
8. Kết cấu của luận văn ................................................................................... 8
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG
TỐ VÀ KIỂM SÁT TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG GIAI ĐOẠN
ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN .. 9
1.1. Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố ..................... 9
1.1.1. Khái niệm quyền công tố ............................................................... 9
1.1.2. Khái niệm thực hành quyền công tố........................................... 16
1.2. Khái niệm kiểm sát điều tra các vụ án hình sự ................................ 19
Chương 2. CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM
2003 VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA
CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ. THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH NÀY
ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CÓ BỊ CAN LÀ NGƯỜI DÂN TỘC
THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG....................................... 24


2.1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công
tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra các vụ
án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân ................................................... 24
2.2 Về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát tuân theo
pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự ................................... 39
2.3. Thực tiễn áp dụng các quy định về thực hành quyền công tố và
kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có bị can là người dân tộc thiểu số
trên địa bàn tỉnh Hà Giang ....................................................................... 48

3.4. Các giải pháp khác.............................................................................. 95
KẾT LUẬN .................................................................................................. 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 103


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS

: Bộ luật hình sự

BLTTHS

: Bộ luật tố tụng hình sự:

CQĐT

: Cơ quan điều tra

ĐTV

: Điều tra viên

KSV

: Kiểm sát viên

KSĐT

: Kiểm sát điều tra


: Viện kiểm sát nhân dân tối cao


DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Kết quả thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự
ở giai đoạn điều tra.......................................................................... 61
Bảng 2.2. Kết quả thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án
hình sự ở giai đoạn truy tố .............................................................. 63
Bảng 2.3. Viện kiểm sát trả hồ sơ điều tra bổ sung cho CQĐT ...................... 65
Bảng 2.4. Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung cho Viện kiểm sát ..................... 66
Bảng 2.5. Kiểm sát khởi tố, yêu cầu CQĐT khởi tố vụ án của VKS ............ 67


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
cũng như Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã xác định “Viện
kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp
theo quy định của Hiến pháp và Pháp luật”.
Thực hành quyền công tố (THQCT) và kiểm sát hoạt động tư pháp
trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự là chức năng của Viện kiểm
sát (VKS), bảo đảm hoạt động khởi tố - điều tra đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật; không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô
tội, góp phần ổn định xã hội, phát triển kinh tế, bảo vệ pháp chế xã hội chủ
nghĩa. Đảng ta đã chủ trương đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ
quan tư pháp trong đó có Viện kiểm sát nhân dân (VKSND). Đây là một chủ
trương lớn và đúng đắn của Đảng với mục tiêu là "xây dựng nền tư pháp
trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước
hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa..” [12, tr.2].

bảo vệ quyền của NDTTS, song thực tế hiện nay vấn đề này cũng đã nảy sinh
nhiều vướng mắc. Đã xảy ra những vụ án vi phạm nghiệm trọng thủ tục tố
tụng như: bị can là NDTTS không biết tiếng phổ thông nhưng không có người
tham gia phiên dịch trong quá trình lấy lời khai, hỏi cung bị can; bị can là
người chưa thành niên phạm tội không có người đại diện hợp pháp, không có
luật sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tạm giữ, tạm giam, quá
trình điều tra không thu thập được tài liệu chứng minh ngày, tháng, năm sinh
của bị can cũng như bị hại là NDTTS ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp
pháp của họ.

2


Những hạn chế, tồn tại, thiếu sót trên do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Trong đó có những hạn chế, bất cập của pháp luật; về trách nhiệm, năng lực
của đội ngũ cán bộ THQCT và KSĐT án hình sự...
Để góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của THQCT và KSĐT
các vụ án hình sự có bị can là NDTTS cần có sự nghiên cứu để đề ra những
giải pháp nâng cao hiệu quả để công tác THQCT và KSĐT các vụ án hình sự
của VKSND trên địa bàn tỉnh Hà Giang đạt kết quả cao hơn, đáp ứng yêu cầu
cải cách tư pháp hiện nay. Với lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài “Thực hành
quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có bị can là người dân
tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Hà Giang - Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn” làm luận văn thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp là các chức năng Hiến định
của VKSND. Đã có một số công trình nghiên cứu khoa học ở cấp độ khác
nhau về vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động của VKS theo yêu cầu cải cách
tư pháp trong đó có đề tài ở cấp bộ "Những vấn đề lý luận về quyền công tố và
thực tiễn hoạt động công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay", Viện khoa học

hơ ̣p với vu ̣ 1C VKSNDTC thực hiê ̣n tháng 10/2011.
Các công trình nghiên cứu và bài viết nêu trên đã nghiên cứu về mặt lý
luận, thực tiễn và đề xuất những giải pháp khoa học ở những cấp độ khác
nhau nhằm đảm bảo nâng cao chất lượng THQCT và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
Kế thừa các kết quả nghiên cứu nêu trên tác giả mạnh dạn tiếp cận và
nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về trong quá trình THQCT và
KSĐT các vụ án hình sự có bị can là NDTTS của VKSND trên địa bàn tỉnh
Hà Giang. Tác giả mong muốn tìm ra giải pháp để nâng cao chất lượng trong

4


THQCT và KSĐT vụ án hình sự nói chung và các vụ án hình sự có bị can là
NDTTS nói riêng trên địa bàn tỉnh Hà Giang.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án
hình sự, làm rõ thực trạng hoạt động của VKSND trong quá trình THQCT và
KSĐT các vụ án hình sự có bị can là NDTTS trên địa bàn tỉnh Hà Giang.
Những kết quả, hạn chế, nguyên nhân tồn tại và những vướng mắc, đề xuất
một số giải pháp nâng cao chất lượng THQCT và KSĐT vụ án hình sự
trên địa bàn tỉnh Hà Giang nhằm đáp ứng nhu cầu cải cách tư pháp trong
thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu, luận văn tập trung làm rõ những nội
dung nghiên cứu sau:
- Quyền công tố (QCT), THQCT và KSĐT vụ án hình sự của VKSND;
- Làm rõ thực trạng của hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án hình
sự có bị can là NDTTS trên địa bàn tỉnh Hà Giang;

274km, phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng,
phía Tây giáp Yên Bái và Lào Cai. Diện tích tự nhiên là 7.884,37 km2. Địa
hình đồi núi phức tạp, đường xá giao thông đi lại còn nhiều khó khăn, dân cư
thưa thớt, có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống như: Kinh, Tày, Giấy,
Mông, Dao, Hoa.... Trình độ nhận thức và hiểu biết pháp luật của người dân
còn hạn chế nhất là đồng bào dân tộc thiểu số. Vì vậy, tội phạm có những
diễn biến phức tạp.

6


Việc nghiên cứu đề tài “Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra
các vụ án hình sự có bị can là người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Hà
Giang - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” là nhu cầu cấp thiết.
7. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Là một công trình nghiên cứu chuyên khảo. Đề tài nghiên cứu về lý
luận đầy đủ và toàn diện, rõ ràng về công tác THQCT và KSĐT các vụ án
hình sự có bị can là NDTTS của VKSND trên địa bàn tỉnh Hà Giang.
Luận văn có những điểm mới như sau:
- Phân tích làm sáng tỏ hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án hình sự
có bị can là NDTTS phạm tội trên địa bàn tỉnh Hà Giang.
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng và những điều kiện đảm bảo hoạt
động THQCT và KSĐT các vụ án hình sự có bị can là NDTTS phạm tội của
VKSND trên địa bàn tỉnh Hà Giang.
- Đánh giá thực trạng hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án hình sự
có bị can là NDTTS phạm tội của VKSND trên địa bàn tỉnh Hà Giang. Từ đó
rút ra những hạn chế và nguyên nhân, tồn tại trong quá trình thực hiện.
- Đề xuất các quan điểm, cũng như giải pháp bảo đảm hoạt động THQCT
và KSĐT các vụ án hình sự có bị can là NDTTS phạm tội của VKSND trên địa
bàn tỉnh Hà Giang. Nâng cao hiệu quả hoạt động này trong giai đoạn xây dựng



Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ
KIỂM SÁT TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU
TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.1. Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố
Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 thì VKSND có hai chức năng
là THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Mặc dù vậy, cho đến nay, trong
khoa học pháp lý nói chung, trong thực tiễn hoạt động của VKSND vẫn chưa
đạt được sự thống nhất cao về các vấn đề này cả trên phương diện khái niệm,
nội dung, đối tượng và phạm vi của THQCT, kiểm sát các hoạt động tư pháp
cũng như mối quan hệ giữa chúng. Để từng bước nâng cao hiệu quả và dần
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của công tác kiểm sát, điều không thể thiếu được là
cần phải làm rõ từ trong nhận thức về các vấn đề cơ bản có liên quan đến các
hoạt động chức năng này: Khái niệm thế nào là Q
CT, THQCT, thế nào là kiểm sát hoạt động điều tra, đối tượng, nội
dung, phạm vi cũng như mối quan hệ giữa chúng.
1.1.1. Khái niệm quyền công tố
Hiến pháp năm 1980 là văn bản pháp lý đầu tiên của Nhà nước ta đưa
ra thuật ngữ “thực hành quyền công tố” khi đề cập đến chức năng của
VKSND (Điều 138). Thuật ngữ này được nhắc lại ở Điều 1 và Điều 3 Luật tổ
chức VKSND năm 1981. Như vậy, trong các hoạt động của VKSND, bên
cạnh khái niệm truyền thống “kiểm sát việc tuân theo pháp luật” đã xuất hiện
khái niệm “quyền công tố” và “thực hành quyền công tố”.
Theo cuốn Đại từ điển tiếng Việt thì "công tố" có nghĩa là "điều tra,
truy tố và buộc tội kẻ phạm pháp trước tòa án" [ 49, tr.204].

9



chúng cả về nội dung lẫn phạm vi áp dụng. Bởi lẽ đó không thể đồng nhất hai
chức năng này của VKS với nhau.
Quan điểm thứ hai, QCT là quyền của Nhà nước giao cho VKS truy tố
kẻ phạm tội ra Tòa án (TA), thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa (thực hiện
quyền công tố). Quan điểm này đã nhấn mạnh vai trò duy nhất của VKS trong
việc thực hiện QCT và chỉ thực hiện duy nhất là tố tụng hình sự (TTHS) và
cũng chỉ ở một giai đoạn duy nhất của TTHS là giai đoạn xét xử sơ thẩm (tức
chỉ là việc truy tố và buộc tội tại phiên tòa).
Theo chúng tôi, quan điểm này đã thu hẹp khái niệm, nội dung, phạm
vi QCT và không phản ánh được đầy đủ bản chất quyền này. Trên thực tế,
hoạt động truy tố và buộc tội của VKS sát tại phiên tòa chỉ là một nội dung
của hoạt động THQCT, hay nói chính xác hơn, đó chỉ là một số trong các
quyền hạn của VKS khi thực hiện quyền công tố [45, tr.22 - 24]
Quan điểm thứ ba, QCT là quyền đại diện cho Nhà nước để đưa các vụ
việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích của Nhà
nước, bảo vệ trật tự pháp luật; ở Việt Nam, quyền này được giao cho VKSND
[16, tr.19].
Những người theo quan điểm này cho rằng, QCT được thể hiện đầu
tiên trong lĩnh vực hình sự, TTHS, cùng với sự phát triển của xã hội, của các
ngành luật, quyền công tố được mở rộng sang lĩnh vực dân sự, tố tụng dân sự
và ngày nay tiếp tục mở rộng sang lĩnh vực tố tụng tư pháp khác.
Theo chúng tôi, quan điểm này đã quá mở rộng khái niệm, nội dung và
phạm vi của QCT, đã đồng nhất QCT với những quyền năng khác của VKS
trong quá trình kiểm sát các hoạt động tư pháp (giải quyết các vụ án dân sự,
hành chính, kinh tế và lao động...)
Quan điểm thứ tư, QCT là quyền Nhà nước giao cho các cơ quan tiến
hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng các chế tài
11



Nhà nước, QCT được thực hiện trong tất cả các quá trình giải quyết các vi
phạm pháp luật, bao gồm TTHS, tố tụng dân sự, tố tụng kinh tế, tố tụng lao
động, tố tụng hành chính. Sự tồn tại QCT trong các hoạt động tố tụng nêu trên
là do nhu cầu khách quan, bởi vì, Nhà nước không thể không thể hiện quyền
lực của mình trong việc giải quyết các vi phạm pháp luật; và sự hiện diện
công tố như một điều kiện bảo đảm tính hiệu quả của việc giải quyết các vi
phạm pháp luật của cơ quan tài phán. Theo quan điểm trên, QCT trong các
hoạt động tố tụng được biểu hiện cụ thể ở các quyền của VKS như quyền
khởi tố vụ án (dân sự, hành chính, hình sự, lao động), quyền tham gia tố tụng
từ bất cứ giai đoạn tố tụng nào khi xét thấy cần thiết (dân sự, kinh tế..), quyền
yêu cầu TA hoặc tự mình điều tra, xác minh những vấn đề cần làm sáng tỏ
trong vụ án...QCT trong các hoạt động tố tụng khác nhau không giống nhau
về nội dung cũng như hình thức thực hiện. Trong TTHS, thực hiện QCT có
nghĩa là Nhà nước thực hiện sự buộc tội đối với con người phạm tội cụ thể,
còn trong các hoạt động tố tụng khác, THQCT được hiểu là việc Nhà nước
trực tiếp hay gián tiếp (bằng văn bản) quy lỗi cho một người hay một pháp
nhân nào đó trong việc thực hiện một hay nhiều hành vi vi phạm pháp luật
tương ứng. Như vậy, sự buộc tội (quy lỗi hình sự) còn là việc quy lỗi cho
người khác.
Quan điểm thứ sáu, QCT là quyền của Nhà nước đưa các việc làm
phạm pháp liên quan đến lợi ích chung ra TA để xét xử, vì Nhà nước nhân
danh xã hội duy trì trật tự chung bằng pháp luật. Sự can thiệp của Nhà nước
vào các việc phạm pháp nói trên là do nhu cầu duy trì mọi xung đột xã hội
gắn với trật tự công cộng mà trách nhiệm của Nhà nước là phải đứng ra điều
hòa - đó là bản chất của quyền lực công. Quyền lực công được Nhà nước giao
cho cơ quan nào phụ thuộc vào từng kiểu Nhà nước. Theo quan điểm này,
QCT là quyền lực công, quyền đó thuộc Nhà nước được bắt nguồn từ nhu cầu
13



cũng đều bộ lộ những bất cập: hoặc là đánh đồng QCT với kiểm sát tuân theo
pháp luật, coi QCT chỉ là quyền năng của VKS trong kiểm sát tuân theo pháp
luật nên đã mở rộng phạm vi của QCT sang các lĩnh vực khác ngoài TTHS;
hoặc là quá thu hẹp phạm vi của QCT, cho rằng QCT chỉ có trong giai đoạn
xét xử sơ thẩm; hoặc xác định không đúng chủ thể của QCT...
Với nhận thức của mình, chúng tôi ủng hộ quan điểm thứ bảy nêu trên
về khái niệm QCT bởi các lý do sau đây:
Thứ nhất, quan điểm này phù hợp với quan điểm truyền thống nghiên
cứu lịch sử nhà nước - pháp luật về QCT: “Quyền công tố là quyền của Nhà
nước, nhân danh Nhà nước buộc tội đối với người có hành vi vi phạm pháp
luật hình sự xem xét là tội phạm xâm hại trật tự chung của toàn xã hội”.
Thứ hai, quan điểm này cũng phù hợp với các quy định của pháp luật
của Nhà nước ta qua các thời kỳ khác nhau về QCT, cụ thể:
- Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước ta qua các thời kỳ đều khẳng
định “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố..”. Cụ thể, tại Điều
107, Hiến pháp năm 2013; Điều 2, 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014; Điều
23 BLTTHS năm 2003 quy định: Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền
công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.
Như vậy, có thể thấy THQCT là việc truy cứu người có hành vi phạm
tội ra trước TA; QCT ở nước ta được giao cho chủ thể duy nhất là VKS; QCT
chỉ có trong lĩnh vực hình sự và có ở tất cả các giai đoạn từ khi khởi tố, điều
tra đến truy tố và xét xử hình sự; các công tác khác như giải quyết án dân sự,
giam giữ cải tạo, giải quyết án hành chính, kinh tế, lao động, thi hành án....của
VKSND là hoạt động thuộc lĩnh vực kiểm sát các hoạt động tư pháp khác.
Từ sự phân tích như trên, có thể rút ra khái niệm QCT: Quyền công tố ở
Việt Nam là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát quyết định việc truy
tố và buộc tội người thực hiện hành vi phạm tội tại phiên Tòa.
15



Xuất phát từ quan niệm QCT là nhân danh Nhà nước để phát hiện tội
phạm, truy tố bị can ra trước TA và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa, nên
THQCT là chức năng mà không cơ quan nào có thể làm thay VKS. Chức
năng này được quy định cụ thể tại Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014:
Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố
tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm
tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến
nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án
hình sự [43].
Trên cơ sở khái niệm này cũng như những quy định tại Mục 2, Chương
II của Luật tổ chức VKSND năm 2014 về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi
THQCT và kiểm sát điều tra VAHS, luận văn đưa ra định nghĩa về THQCT
trong giai đoạn điều tra như sau:
Thực hành quyền công tố trong điều tra vụ án hình sự là chức năng tư
pháp của Viện kiểm sát nhân dân để thực hiện quyền của nhà nước trong việc
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội, được thực
hiện từ khi khởi tố và trong suốt quá trình điều tra vụ án hình sự cho đến khi
kết thúc điều tra.
Với những phân tích và định nghĩa nêu trên, có thể xác định đối tượng,
nội dung, chủ thể, phạm vi của THQCT trong điều tra VAHS như sau:
- Đối tượng của THQCT chính là tội phạm và người phạm tội.
- Nội dung của THQCT là thực hiện truy cứu trách nhiệm hình sự và việc
buộc tội đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm.
- Chủ thể THQCT là Viện kiểm sát nhân dân.
- Phạm vi THQCT bắt đầu từ khi khởi tố VAHS đến khi kết thúc điều tra.
- Trình tự thủ tục THQCT phải tiến hành theo quy định của Bộ luật TTHS.
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra có các đặc điểm như sau:
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status