Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn thành phố hà nội - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN NGỌC ÁNH
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA
CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 60 38 01 04
Người hướng dẫn khoa học: TS. …………..

HÀ NỘI – NĂM 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, thông tin và kết quả được nêu trong Luận văn là trung thực. Những kết
luận khoa học của Luận văn chưa từng được công bố trong bất kì công trình
nghiên cứu khoa học nào khác.
Xác nhận của người hướng dẫn

Tác giả Luận văn


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS Bộ luật hình sự

7. Kết cấu của luận văn 7
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG
TỐ VÀ KIỂM SÁT ÐIỀU TRACÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU 8
1.1.Khái niệm, mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra 8
1.1.1.Khái niệm thực hành quyền công tố8
1.1.2.Khái niệm Kiểm sát điều tra15
1.1.3.Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra19
1.2.Đặc điểm của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ
án xâm phạm sở hữu 23
1.2.1.Các tội xâm phạm sở hữu23
1.2.2. Đặc điểm của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ
án xâm phạm sở hữu 27
1.3.Khái quát lịch sử hình thành chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát
điều tra ở Việt Nam 29


CHƯƠNG 2. PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ THỰC TRẠNG THỰC HÀNH
QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ÐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ
HỮU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 35
2.1. Pháp luật hiện hành về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ
án hình sự 35
2.1.1. Quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự 35
2.1.2. Quy định của pháp luật về kiểm sát điều tra vụ án hình sự 44
2.2. Thực trạng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án xâm
phạm sở hữu trên địa bàn thành phố Hà Nội 47
2.2.1. Những kết quả đạt được trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát
điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu của Viện kiểm sát nhân dân hai cấp thành phố
Hà Nội 49
2.2. 2. Những hạn chế trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án

công cuộc đổi mới toàn diện và sâu sắc dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản
Việt Nam. Trải qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành quả
đáng khích lệ trên mọi mặt của đời sống chính trị, xã hội… nền kinh tế cơ bản
phát triển theo hướng kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên bên cạnh những kết quả mà nền kinh tế thị
trường mang lại thì mặt trái của nó chính là tai, tệ nạn xã hội, là vi phạm pháp
luật và tội phạm gia tăng, diễn biến của tội phạm phức tạp, tính chất thủ đoạn
ngày càng tinh vi. Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam hiện
hành, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) là cơ quan duy nhất có chức năng thực
hành quyền công tố (THQCT) và kiểm sát các hoạt động tư pháp, trong đó bao
gồm hoạt động Kiểm sát điều tra (KSĐT). KSĐT là hoạt động của VKSND
trong quá trình giải quyết án hình sự. KSĐT đảm bảo cho hoạt động điều tra
được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo mọi hành vi vi phạm
và tội phạm phải được phát hiện và xử lý trước pháp luật.
Công tác THQCT và KSĐT được thực hiện đúng theo quy định của pháp
luật sẽ giúp cho việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can được đúng người đúng tội,
hoạt động điều tra được đầy đủ, chính xác và kịp thời, tạo tiền đề cho công tác
truy tố và xét xử đảm bảo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, tránh làm oan
người vô tội hay bỏ lọt tội phạm.
Trước những yêu cầu của tình hình mới, VKSND cần tiếp tục thực hiện
đổi mới toàn diện cả về tổ chức và hoạt động thì mới hoàn thành được nhiệm vụ
của mình.Việc đổi mới của VKSND đã được Nghị quyết số 08/ NQ/TW ngày


02/01/2002 của Bộ Chính trị: “Về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư
pháp trong thời gian tới” xác định: “Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức
năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp. Hoạt
động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án trong suốt quá trình
tố tụng nhằm đảm bảo không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, xử lý
kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng khi thi

chưa thường xuyên trao đổi nắm bắt thông tin về hoạt động điều tra nên còn bị
động trong quá trình giải quyết vụ án, kỹ năng KSĐT của nhiều KSV còn hạn
chế… Điều này dẫn đến nhiều vụ án bị kéo dài, phải gia hạn thời hạn điều tra,
thời hạn tạm giam, còn bỏ lọt tội phạm…Những tồn tại nêu trên xuất phát từ
nhiều nguyên nhân khác nhau, tuy nhiên nguyên nhân cơ bản là do nhận thức
pháp luật và áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ án xâm phạm sở
hữu của Cơ quan điều tra (CQĐT) và VKSND còn chưa thống nhất. Lý luận về
hoạt động kiểm sát trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự chưa được xem
xét, nghiên cứu có tính hệ thống, đầy đủ và toàn diện. Thực tiễn hoạt động của
VKSND trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự nói chung và các vụ án xâm
phạm sở hữu nói riêng chưa được quan tâm, nghiên cứu, tổng kết thường xuyên.
Trước thực trạng nêu trên, với xu hướng hội nhập quốc tế như hiện nay,
việc nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động THQCT và KSĐT các
tội xâm phạm sở hữu, đánh giá kết quả đạt được và những hạn chế, tồn tại từ đó
đưa ra các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng THQCT và
KSĐT các tội xâm phạm sở hữu của VKSND ở Thành phố Hà Nội là vô cùng
cần thiết.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, học viên chọn đề tài: “Thực hành


quyền công tố và Kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn
thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
THQCT và KSĐT là chủ đề đã được nhiều học giả nghiên cứu dưới góc
độ lý luận và từ nhiều phương diện khác nhau, trong đó phải kể đến một số công
trình điển hình như sau:
- Lê Hữu Thể (Chủ biên) (2005), Thực hành quyền công tố và kiểm sát
các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
- Hà Thị Minh Hạnh (2011), Chất lượng thực hành quyền công tố và
kiểm sát điều tra các vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp của Viện kiểm

sở hữu nói riêng và các vụ án hình sự nói chung. Qua đó góp phần hoàn thiện
hơn nữa các quy định của pháp luật về THQCT và KSĐT các vụ án hình sự theo
tinh thần cải cách tư pháp mà Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ
Chính trị đề ra.
- Nhiệm vụ của đề tài: Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có
những nhiệm vụ sau:
+ Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về THQCT và KSĐT nói chung và
đặc điểm THQCT và KSĐT đối với các tội xâm phạm sở hữu nói riêng
+ Phân tích, đánh giá những kết quả đã đạt được, những tồn tại, hạn chế
và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế về THQCT và KSĐT các tội xâm
phạm sở hữu của VKSND ở Thành phố Hà Nội (ở cả hai cấp)
+ Đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm đảm bảo và nâng cao chất
lượng công tác THQCT và KSĐT các tội xâm phạm sở hữu của VKSND ở
Thành phố Hà Nội.


4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định
của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về THQCT và KSĐT các vụ
án hình sự và hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án xâm phạm sở hữu của
VKSND ở Hà Nội.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về không gian và thời gian: Luận văn chủ yếu nghiên cứu thực
tiễn áp hoạt động THQCT và KSĐT các tội xâm phạm sở hữu của VKSND ở
Thành phố Hà Nội trong giai đoạn 05 năm từ năm 2011 đến hết năm 2015.
+ Phạm vi về giai đoạn tố tụng: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn
đề lý luận và thực tiễn về THQCT và KSĐT các tội xâm phạm sở hữu của
VKSND ở Thành phố Hà Nội bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra hoặc phát hiện
được dấu hiệu của tội phạm cho tới khi vụ án được kết thúc điều tra bằng bản
kết luận điều tra của cơ quan có thẩm quyền chuyển cho Viện kiểm sát đề nghị

như pháp luật hình sự liên quan đến THQCT và KSĐT các vụ án xâm phạm sở
hữu trong chiến lược cải cách tư pháp hiện nay.
Bên cạnh đó, Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ yêu
cầu không ngừng nâng cao chất lượng công tác THQCT và KSĐT các tội xâm
phạm sở hữu, đồng thời có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng
dạy, nghiên cứu các chuyên đề có liên quan đến thực hiện chức năng thực hành
quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung


của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố và kiểm sát
điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu
Chương 2: Pháp luật hiện hành và thực trạng thực hành quyền công tố và
kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn thành phố Hà Nội từ
năm 2011 đến năm 2015.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm
sát điều tra các vụ ánxâm phạm sở hữu trên địa bàn thành phố Hà Nội.


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ
KIỂM SÁT ÐIỀU TRACÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU
1.1. Khái niệm, mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra
1.1.1. Khái niệm thực hành quyền công tố
1.1.1.1. Quyền công tố
Trên thế giới, khái niệm quyền công tố và THQCT đã xuất hiện từ rất
sớm, gắn liền với lịch sử ra đời và phát triển của nhà nước và pháp luật. Nhưng
ở nước ta dưới góc độ lập pháp thì Hiến pháp 1980 là văn bản pháp lý đầu tiên

2Võ Quang Nhạn (1984), “Bàn về quyền công tố”, Tập san kiểm sát, (2)
lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật; ở Việt Nam, quyền này được giao
cho VKSND.3Theo quan điểm này thì đầu tiên quyền công tố chỉ có trong lĩnh
vực hình sự, về sau nó được mở rộng sang các lĩnh vực tư pháp khác và cho đến
nay thì quyền công tố không chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự (TTHS) mà
còn có cả trong các lĩnh vực tố tụng dân sự và các lĩnh vực tố tụng tư pháp khác.
Theo tác giả, quan điểm này quá mở rộng cả khái niệm, nội dung và
phạm vi của quyền công tố, đã đồng nhất quyền công tố với những quyền năng
khác của VKS trong quá trình kiểm sát các hoạt động tư pháp (giải quyết các vụ
án dân sự, hành chính, kinh tế và lao động…).
Quan điểm thứ ba: Là quan điểm cho rằng quyền công tố chỉ tồn tại
trong lĩnh vực hình sự, là quyền của Nhà nước nhân danh công quyền truy tố kẻ
phạm tội ra trước Tòa án để xét xử và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa hình sự
sơ thẩm (duy trì quyền công tố); ở Việt Nam quyền này được Nhà nước giao cho
VKSND. Theo quan điểm này thì chỉ có duy nhất một chủ thể có quyền công tố


- đó là VKS; việc thực hiện quyền công tố chỉ diễn ra ở một lĩnh vực duy nhất là
Tố tụng hình sự (TTHS) và cũng chỉ có ở một giai đoạn duy nhất của TTHS là
giai đoạn xét xử sơ thẩm.4
Theo tác giả, quan điểm này trái ngược với quan điểm thứ hai, đã quá
thu hẹp không chỉ khái niệm, nội dung mà còn cả phạm vi của quyền công tố;
không những vậy còn không phản ánh được đầy đủ bản chất của quyền công tố.
Trên thực tế, hoạt động truy tố và buộc tội của Viện kiểm sát tại phiên ṭa chỉ là
một trong số những nội dung của hoạt động THQCT.
Quan điểm thứ tư: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho các
cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người
phạm tội.5Theo quan điểm này thì chủ thể thực hành quyền công tố không chỉ
có VKS mà còn có các cơ quan tiến hành tố tụng khác (Cơ quan điều tra, Tòa
án, Thi hành án) và như vậy quyền công tố có trong tất cả các giai đoạn từ điều

có bất cứ cơ quan nào có thể thay thế được. Điều này thể hiện qua các quy định
của pháp luật, các kiến, tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước:
- Khi nói về vai trò nhiệm vụ của VKSND, đồng chí Trường Chinh đã
khẳng định: "Không có cơ quan nhà nước nào có thể thay thế ngành kiểm sát để
sử dụng quyền công tố, bắt, giam, tha, điều tra, truy tố, xét xử có đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật hay không, đó chính là việc Viện kiểm sát nhân dân
phải trông nom, đảm bảo tốt".
- Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị Ban Chấp
hành Trung ương Đảng nêu rõ: "Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng
công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp".6
- Kết luận tại Hội nghị của ngành kiểm sát nhân dân quán triệt những nội


dung cơ bản của Luật Tổ chức VKSND năm 2002 và những công tác trọng tâm
của VKSND nhằm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị được
tổ chức tháng 6/2002, đồng chí Hà Mạnh Trí - Viện trưởng VKSNDTC đã
khẳng định: "Việc thực hành quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực hình sự và chỉ
trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử".
- Hiến pháp 2013 (Điều 107) quy định: "Viện kiểm sát nhân dân thực
hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp".7Quy dịnh này cũng được
cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật của Nhà nước ta (Điều 2 Luật Tổ chức
VKSND năm 2014, Điều 23 BLTTHS năm 2003).
Như vậy có thể thấy quyền công tố ở nước ta được giao cho một chủ thể
duy nhất đó là Viện kiểm sát. Quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực TTHS và có ở
tất cả các giai đoạn tố tụng từ khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử
Từ những nội dung được trình bày trên, tác giả cho rằng: Quyền công tố
ở Việt Nam là quyền của Nhà nước giao cho VKSND thực hiện việc buộc tội đối
với người phạm tội nhằm bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội.
1.1.1.2. Thực hành quyền công tố
Khái niệm quyền công tố và THQCT có quan hệ mật thiết với nhau, giải

Pháp luật hiện hành cũng đã có quy định cụ thể về THQCT tại Điều 3
Luật Tổ chức VKSND năm 2014 “ Thực hành quyền công tố là hoạt động của
Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà
nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử vụ án hình sự”
Phạm vi thực hành quyền công tố: Theo quy định của pháp luật nước ta
thì cơ quan VKS có trách nhiệm thực hành quyền công tố trong tất cả mọi giai


đoạn của TTHS từ điều tra, truy tố đến xét xử (bao gồm cả xét xử sơ thẩm, phúc
thẩm và giám đốc thẩm, tái thẩm).
Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình
sự đối với người phạm tội; để đảm bảo thực hiện được sự buộc tội nhân danh
Nhà nước đó pháp luật quy định các chức năng, nhiệm vụ cụ thể, các chức năng,
nhiệm vụ đó chính là thực hành quyền công tố.8Như vậy, có thể thấy rõ quyền
công tố là cơ sở của thực hành quyền công tố, phải có quyền công tố thì mới có
thực hành quyền công tố cho nên để xem xét phạm vi của thực hành quyền công
tố thì trước hết phải xem xét đến phạm vi của quyền công tố. Như phần trên đã
nêu, phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm được thực hiện … Còn
thực hành quyền công tố thì chỉ phát sinh kể từ thời điểm vụ án được khởi tố
bằng quyết định chính thức của cơ quan có thẩm quyền - tức là khi cơ quan tố
tụng đã áp dụng một trong các biện pháp thực hành quyền công tố. Tuy nhiên,
trên thực tế có không ít những trường hợp mặc dù có tội phạm xảy ra nhưng
không được khởi tố; điều này do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong khoa học
pháp lý gọi là "tội phạm ẩn" (tức là những tội phạm trên thực tế đã xảy ra nhưng
chưa được khởi tố để điều tra)9cho nên cơ quan tố tụng không áp dụng được bất
cứ một biện pháp thực hành quyền công tố nào. Qua đây, có thể thấy rằng phạm
vi của thực hành quyền công tố hẹp hơn so với phạm vi của quyền công tố, nó
chỉ bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án và kết thúc khi bản án có hiệu lực

gia chỉ đạo biên soạn, thì "kiểm sát" là hoạt động của VKSND nhằm kiểm tra,
giám sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước.
Với cách giải thích khái niệm "kiểm sát" của hai cuốn từ điển nêu trên,
chúng tôi cho rằng, kiểm sát gồm hai loại hình hoạt động cơ bản: giám sát và
kiểm tra. Hoạt động giám sát là hoạt động theo dõi các hoạt động của các đối


tượng bị giám sát và khi cần thiết thì sử dụng các biện pháp tác động phù hợp để
yêu cầu người, cơ quan bị giám sát có hành vi vi phạm pháp luật sửa chữa vi
phạm đó. Hoạt động kiểm tralà hoạt động xem xét, đánh giá hoạt động của
người, cơ quan bị kiểm tra.
Kiểm sát điều tra nói một cách đầy đủ đó là kiểm sát các hoạt động tư
pháp trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
Thuật ngữ "kiểm sát các hoạt động tư pháp" được xuất hiện trong các văn
kiện của Đảng như Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX, Nghị quyết số 08 ngày
02/01/2002 của Bộ chính trị và đặc biệt được quy định tại Điều 107 Hiến pháp
năm 2013 và Luật tổ chức VKSND năm 2014. Tuy nhiên nhà lập pháp nước ta
chưa đưa ra một định nghĩa pháp lý chung nhất của khái niệm "kiểm sát các hoạt
động tư pháp" nên dẫn đến nhiều quan điểm nhận thức khác nhau về khái niệm
này. Một thực tế chúng ta phải thừa nhận rằng trong suốt một thời gian dài
chúng ta chưa quan tâm đúng mực đến lĩnh vực tư pháp, điều đó thể hiện ở việc
trước khi có Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX thuật ngữ quyền tư
pháp ít được sử dụng trong ngôn ngữ chính trị, pháp luật và khoa học. Điều đó
đã không tạo ra được tiền đề cho việc nghiên cứu các vấn đề về tư pháp, trong
đó có vấn đề "kiểm sát các hoạt động tư pháp".10Do vậy, hiện nay xung quanh
khái niệm “kiểm sát các hoạt động tư pháp” đang còn có nhiều quan điểm khác
nhau, tựu chung lại có ba nhóm quan điểm sau:
Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng "Kiểm sát các hoạt động tư pháp chỉ
bao gồm nội dung kiểm sát các hoạt động tố tụng như điều tra, truy tố, xét xử và
thi hành án"11

13Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát ( 2009 ) tập bài giảng đào tạo nghiệp vụ kiểm sát,
tập 3.
nhiên, khác với hoạt động giám sát Nhà nước nói chung về tư pháp, kiểm sát các



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status