I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
TH HNG GIANG
KIểM SáT Và THựC HàNH QUYềN CÔNG Tố
TRONG GIAI ĐOạN ĐIềU TRA CáC Vụ áN XÂM PHạM TìNH DụC
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Nam Định)
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2016
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
TH HNG GIANG
KIểM SáT Và THựC HàNH QUYềN CÔNG Tố
TRONG GIAI ĐOạN ĐIềU TRA CáC Vụ áN XÂM PHạM TìNH DụC
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Nam Định)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v T tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: PGS. TS NGUYN NGC CH
H NI - 2016
điều tra và các tội phạm xâm phạm tình dục ............................................6
1.1.1.
Khái niệm kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố
trong giai đoạn điều tra ..................................................................................6
1.1.2.
Khái niệm và những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội phạm tình
dục trong Bộ luật hình sự Việt Nam ............................................................14
1.2.
Khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa, nội dung hoạt động kiểm sát
và thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm
phạm tình dục..............................................................................................18
1.2.1.
Khái niệm, vai trò, ý nghĩa hoạt động kiểm sát và thực hành quyền
công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục ...................18
1.2.2.
Đặc điểm của thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp
trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục ................................21
1.2.3.
Quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động kiểm sát và thực hành
quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm tình dục theo
Bộ Luật tố tụng hình sự 2015.......................................................................48
2.2.
Thực tiễn hoạt động kiểm sát hoạt động tƣ pháp và thực hành
quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm tình dục
trên địa bàn tỉnh Nam Định ......................................................................49
2.2.1.
Đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội, cơ cấu tổ chức, đội ngũ cán bộ của
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định và tình hình tội phạm về xâm
phạm tình dục ở tỉnh Nam Định...................................................................49
2.2.2.
Tình hình hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền
công tố trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm tình dục trên địa bàn
tỉnh Nam Định ..............................................................................................59
2.2.3.
Nhận xét, đánh giá .......................................................................................67
Kết luận Chƣơng 2 ..................................................................................................79
Chƣơng 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG CÔNG
TÁC KIỂM SÁT VÀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG
GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM TÌNH DỤC
3.2.2.
Giải pháp tiếp tục hoàn thiện và triển khai pháp luật tố tụng về thực
hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn
điều tra ..........................................................................................................84
3.2.3.
Nâng cao hiệu quả công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt
động tư pháp trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục ..........89
Kết luận Chƣơng 3 ..................................................................................................98
KẾT LUẬN ..............................................................................................................99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................101
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS:
Bộ luật hình sự
BLTTHS:
Bộ luật tố tụng hình sự
CQĐT:
Cơ quan điều tra
KSHĐTP:
Bảng 2.1: số vụ án hình sự đã xảy ra từ năm 2011- 2015 trên địa
bàn tỉnh Nam Định
Bảng 2.2: Số vụ án và bị can phạm tội xâm phạm tình dục trên
địa bàn tỉnh Nam Định từ năm 2011 – 2015
54
55
Bảng 2.3: Số vụ và người phạm tội bị khởi tố theo từng tội xâm
phạm tình dục trên địa bàn tỉnh Nam Định từ năm
2011 -2015
55
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Viện kiểm sát nhân dân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được
thành lập trên cơ sở Hiến pháp năm 1959 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
năm 1960. Vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam được thể hiện thông qua các nguyên tắc tổ chức hoạt động
của Bộ máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói chung, nguyên tắc
tổ chức, hoạt động của VKSND nói riêng, đóng một vai trò rất quan trọng trong
việc duy trì trật tự pháp luật, bảo vệ chế độ. Xác định được tầm quan trọng nên từ
khi thành lập Ngành đến nay, việc tăng cường trách nhiệm, nâng cao chất lượng
công tố của VKSND trong quá trình điều tra là chủ trương nhất quán, xuyên suốt
cuả Đảng và Nhà nước ta trong suốt hơn 50 năm qua.
Các Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp trong những năm gần đây có
những chủ trương hết sức quan trọng về trách nhiệm công tố của VKS trong giai
tội xâm phạm tình dục nói riêng có diễn biến phức tạp, theo chiều hướng gia tăng về
số lượng và tính chất nghiêm trọng gây ra những hậu quả lớn không những đối với
nạn nhân mà còn cho xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Tuy
nhiên, thực tiễn hoạt động tố tụng giải quyết vụ án đã chỉ ra: Vai trò, quyền hạn,
trách nhiệm của VKS trong hoạt động THQCT và KSĐT còn nhiều hạn chế … dẫn
đến hiện tượng bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, chưa phát hiện, uốn nắn kịp
thời các vi phạm trong hoạt động điều tra đối với loại tội phạm này. Vì vậy, tăng
cường hiệu quả kiểm sát và THQCT trong giai đoạn điều tra của VKSND về loại tội
phạm tình dục trên địa bàn tỉnh Nam Định có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong
giai đoạn hiện nay.
Chính vì lý do trên học viên chọn đề tài: “Kiểm sát và thực hành quyền công
tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục (trên cơ sở thực tiễn địa bàn
tỉnh Nam Định)” làm luận văn thạc sỹ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Ở nước ta hiện nay, liên quan đến hoạt động THQCT và KSĐT, tác giả cũng
đã tiếp cận, tham khảo được một số công trình nghiên cứu sau:
- “Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn
điều tra” của Lê Hữu Thể (chủ biên), Nhà xuất bản tư pháp, 2005;
2
- Luận án tiến sĩ Luật học “Quyền công tố ở Việt Nam” của Lê Thị tuyết
Hoa; Hà Nội, năm 2002;
- Luận văn thạc sỹ luật học của các tác giả như: Nguyễn Hải Phong (1999)
“Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự Việt Nam”; Nguyễn Hiệp
Phố (1999), “Địa vị pháp lý của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra hình sự”.
Về vấn đề các tội phạm về xâm phạm tình dục có thể kể đến các công trình
nghiên cứu như sau: Luận văn thạc sỹ luật học (2014) của Nguyễn Minh Hương:
“Các tội xâm hại tình dục trẻ em trong luật hình sự Việt Nam”.
trung nghiên cứu hoạt động kiểm sát và THQCT trong giai đoạn điều tra đối với các
vụ án xâm phạm tình dục.
- Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài xác định phạm vi nghiên cứu là hoạt động kiểm sát và THQCT các
vụ án xâm phạm tình dục trong thời gian từ năm 2011 đến năm 2015 trên địa bàn
tỉnh Nam Định.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận:
Cơ sở lý luận của luận văn là học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm và tư tưởng chỉ đạo của Đảng cộng sản
Việt Nam về đổi mới toàn diện đất nước về cải cách tư pháp nói chung và tổ chức,
hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nói riêng.
- Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, luận văn sử dụng các
phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so
sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống
kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng các vấn đề
tương ứng được nghiên cứu trong luận văn.
5. Những điểm mới đóng góp của luận văn
Luận văn đã khảo cứu chuyên sâu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt
động kiểm sát và THQCT trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục.
Luận văn đánh giá kết quả, phân tích những hạn chế trong hoạt động của
VKSND khi kiểm sát và THQCT trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục,
thông qua đó đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả của VKSND trong hoạt
động THQCT và KSĐT các vụ án xâm phạm tình dục trên địa bàn tỉnh Nam Định.
4
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
điều tra và các tội phạm xâm phạm tình dục
1.1.1. Khái niệm kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố
trong giai đoạn điều tra
1.1.1.1. Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
a. Khái niệm quyền công tố
Để hiểu rõ về thực hành quyền công tố, trước hết cần tìm hiểu: Quyền công
tố là một hoạt động tố tụng vì lợi ích công cộng đối với người phạm tội đã được biết
đến ngay từ những thời đại xa xưa của xã hội loài người. Quyền công tố là một khái
niệm pháp lý gắn liền với bản chất của Nhà nước, là một bộ phận cấu thành và
không thể tách rời khỏi công quyền. Quyền công tố có trong tất cả các kiểu Nhà
nước, nó ra đời, tồn tại và mất đi cùng với Nhà nước và pháp luật. Khi mới có Nhà
nước, quyền công tố chỉ giới hạn trong phạm vi rất hẹp để bảo vệ các lợi ích của
giai cấp thống trị. Cùng với sự phát triển của xã hội, nhận thức về lợi ích công và
lợi ích tư, về trách nhiệm của Nhà nước đối với xã hội và cá nhân ngày càng có
những thay đổi. Lợi ích cá nhân liên quan đến lợi ích công, tác động qua lại với
nhau, chính vì vậy, cần có sự can thiệp của Nhà nước vào đời sống cá nhân. Từ đó
vai trò của công tố càng được đề cao trong xã hội.
Ở nước ta, về mặt lập pháp, thuật ngữ “Thực hành quyền công tố” được ghi
nhận lần đầu tiên trong Hiến pháp 1980 khi đề cập đến chức năng, nhiệm vụ của
VKSND. Từ đó đến nay, trong khoa học và trong thực tiễn có nhiều ý kiến, quan
điểm khác nhau về khái niệm cũng như các vấn đề có liên quan: Đối tượng, phạm
vi, nội dung, chủ thể thực hành của quyền công tố và theo đó là thực hành quyền
công tố nhưng chưa có quan điểm nào được các cơ quan có thẩm quyền chính thức
6
công nhận và cũng chưa có một văn bản nào của cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn
một cách chính thức các vấn đề này.
Theo Đại từ điển tiếng Việt thì “Công tố” có nghĩa là “điều tra, truy tố, buộc
quyền công tố (hoạt động khởi tố, điều tra không đề cập đến chức năng này) [46,
tr.19]. Về lý luận cũng như trên thực tế, hoạt động THQCT của VKS tại Toà án chỉ
là một bộ phận trong nhiều hoạt động thực hiện chức năng THQCT của VKS.
Quan điểm thứ ba: Quyền công tố là quyền của VKS thay mặt Nhà nước bảo
vệ lợi ích công, do vậy quyền công tố không chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự
mà có trong lĩnh vực tố tụng dân sự, hành chính [35, tr. 84-87]. Quan điểm này đã
mở rộng khái niệm, nội dung, phạm vi quyền công tố, đồng nhất quyền công tố với
quyền năng khác của VKS trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, dân sự, hành
chính… Những người theo quan điểm này cho rằng quyền công tố xuất hiện từ khi
có Nhà nước và pháp luật được thể hiện đầu tiên trong lĩnh vực hình sự, tố tụng
hình sự, cùng với sự phát triển của xã hội, các ngành luật, quyền công tố được mở
rộng sang lĩnh vực tố tụng dân sự và lĩnh vực tư pháp khác nhằm đảm bảo mọi hành
vi vi phạm pháp luật đều bị phát hiện, điều tra, xử lý theo pháp luật, không để lọt tội
phạm. Quan điểm này có thể coi là quan điểm phổ biến trong ngành kiểm sát, đã
được đưa vào giáo trình giảng dạy của trường Đại học kiểm sát Hà Nội và thường
xuyên được nhắc đến trong các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ và các báo cáo tổng
kết thực tiễn của ngành kiểm sát. Theo tôi, quan điểm này quá mở rộng cả khái
niệm, nội dung và phạm vi của quyền công tố, đã đồng nhất quyền công tố với các
quyền năng khác của VKS trong quá trình kiểm sát các hoạt động tư pháp (giải
quyết các vụ án dân sự, hành chính, kinh tế và lao động…)
Quan điểm thứ tư: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho các cơ
quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm
tội [46, tr.10]. Đó là hoạt động tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên và những
người khác được pháp luật quy định có trách nhiệm xác định kẻ phạm tội, cũng như
các căn cứ để kết tội và áp dụng các hình phạt đối với người phạm tội. Theo quan
điểm này thì chủ thể thực hành quyền công tố không chỉ có ở VKS mà còn có ở các
cơ quan tiến hành tố tụng khác (cơ quan điều tra, toà án, thi hành án). Quan điểm này
đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với nguyên tắc tố tụng hình sự, đã xoá nhòa
ranh giới giữa các chức năng buộc tội và chức năng xét xử trong tố tụng hình sự.
tố là quyền của VKS truy tố kẻ phạm tội ra Toà án và thực hiện việc buộc tội tại
phiên toà hình sự sơ thẩm.
9
Như vậy, có thể hiểu:
Quyền công tố: là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền công tố được thực hiện bởi một cơ
quan nhất định (ở nước ta là Viện kiểm sát), có trách nhiệm đảm bảo việc thu thập
đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội, trên cơ sở đó
quyết định việc truy tố bị can ra trước Toà án bằng bản Cáo trạng và bảo vệ sự buộc
tội tại phiên toà. Vì vậy, quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự, với đối
tượng là tội phạm và người phạm tội [12, tr. 40].
Quan điểm này đã thể hiện bản chất của quyền công tố, thứ nhất nó phù hợp
với truyền thống nghiên cứu lịch sử nhà nước và pháp luật về quyền công tố.
“Quyền công tố là quyền của Nhà nước, nhân danh Nhà nước buộc tội đối với
người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự. Quan điểm này cũng phù hợp với quy
định của pháp luật Nhà nước ta qua các thời kỳ khác nhau về quyền công tố như:
Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước ta đều khẳng định VKSND thực hành quyền
công tố…”.
Như vậy, từ những nội dung trình bày trên, tác giả đi đến kết luận: Quyền
công tố ở Việt Nam là quyền của Nhà nước giao cho VKS thực hiện các quyền năng
theo quy định của pháp luật nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm
tội, trên cơ sở bảo đảm việc thu thập đầy đủ chứng cứ để xác định tội phạm và
người phạm tội.
Với nhận thức quyền công tố như đã nêu trên, theo tôi đối tượng của quyền
công tố chỉ là tội phạm và người phạm tội. Bởi vì, trong bất kỳ xã hội nào cũng vậy,
tội phạm luôn là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm hoặc đe doạ xâm phạm
đến lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích Nhà nước, đến an ninh chung của
giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình
khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự” [46, tr.27].
Phạm vi thực hành quyền công tố:
Để xác định được chính xác phạm vi THQCT, cần xem xét đến phạm vi của
quyền công tố, bởi vì quyền công tố là cơ sở, là nền tảng để THQCT. Ở phần trên
đã làm rõ, cứ có tội phạm xảy ra thì phát sinh quyền công tố. Vậy phạm vi thực
hành quyền công tố bắt đầu từ khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm xảy ra. Việc xác
định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ như: Tin báo, tố giác của cá nhân, cơ
quan, tổ chức; kiến nghị khởi tố của cơ quan, tổ chức; Cơ quan có thẩm quyền tiến
11
hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu vết tội phạm; Người phạm tội tự thú. Phạm vi
thực hành quyền công tố kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật (trừ trường hợp
vụ án đình chỉ). Tùy từng giai đoạn tố tụng hình sự mà VKS thực hiện chức năng
THQCT cho phù hợp với quy định của pháp luật như: THQCT trong việc tiếp nhận,
giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; THQCT trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự; THQCT trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự.
Qua các nội dung đã phân tích ở trên có thể khái niệm: THQCT trong giai
đoạn điều tra là việc VKS sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung
quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, được thực
hiện ngay từ khi khởi tố và kết thúc khi VKS quyết định truy tố bị can ra trước Tòa
án để xét xử hoặc khi vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp luật TTHS.
1.1.1.2. Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra
a) Hoạt động tư pháp.
Cơ quan tư pháp ở nước ta bao gồm: cơ quan điều tra, VKS, Tòa án và cơ
quan thi hành án. Vậy hoạt động tư pháp phải được tiến hành bởi các cơ quan tư
pháp. Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là tất cả mọi hoạt động do cơ quan tư
pháp tiến hành đều là hoạt động tư pháp mà chỉ là hoạt động tư pháp nếu hoạt động
hình sự bắt đầu khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm và chấm dứt khi kết thúc các
hoạt động tố tụng và mục đích của tố tụng hình sự đã đạt được.
c) Kiểm sát điều tra
Như đã phân tích ở trên, kiểm sát điều tra là một bộ phận cấu thành của kiểm
sát hoạt động tư pháp. Phạm vi của kiểm sát điều tra chỉ ở giai đoạn điều tra, nó bắt
đầu từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi VKS xử lý vụ án và bị can (Quyết định truy
tố hoặc đình chỉ điều tra vụ án, bị can).
Theo tôi có thể đưa ra khái niệm: Kiểm sát điều tra các vụ án hình sự là hoạt
động của VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các chủ thể tham gia quan
hệ pháp luật tố tụng hình sự phát sinh trong giai đoạn điều tra, nhằm đảm bảo cho
quá trình điều tra vụ án được thực hiện đúng quy định của pháp luật.
1.1.1.3. Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư
pháp trong giai đoạn điều tra
Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành thì VKSND có chức
13
năng THQCT và KSHĐTP. Những biện pháp mà VKS trực tiếp quyết định và chịu
trách nhiệm thì thuộc nội dung của THQCT, còn các biện pháp mà VKS không trực
tiếp quyết định mà chỉ thực hiện việc kiến nghị, kháng nghị và yêu cầu các cơ quan
tư pháp khác khắc phục các vi phạm trong hoạt động tư pháp thì được hiểu là nội
dung của hoạt động kiểm sát các hoạt động tư pháp [40, tr.14]. Mặt khác, hai chức
năng này có mối quan hệ mật thiết với nhau, chỉ có một số hoạt động mang tính độc
lập tương đối, còn lại phần nhiều chúng đan xen nhau và hỗ trợ qua lại với nhau.
Tùy từng giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố và các
giai đoạn tố tụng, các chức năng này thể hiện ở những mức độ và phạm vi khác
nhau với các nội dung khác nhau nhưng dù ở giai đoạn nào thì chúng cũng thể hiện
mối quan hệ gắn bó hữu cơ, đan xen nhau, tác động qua lại và bổ sung một cách
tích cực cho nhau.
áp dụng hình phạt và các chế tài hình sự khác mới thực sự có ý nghĩa trừng trị, giáo
dục và cải tạo, làm cho họ có ý thức và trách nhiệm hơn đối với sức khỏe của người
khác trước khi thực hiện một xử sự cụ thể nào đấy. Mặt khác thì các loại tội phạm
tình dục này do những người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách
nhiệm hình sự thực hiện. Trong khoa học pháp lý hình sự Việt Nam, năng lực trách
nhiệm hình sự được hiểu là khả năng của một người nhận thức cũng như điều khiển
được hành vi của mình khi tham gia các quan hệ xã hội. Còn độ tuổi do luật định
đối với người phạm các tội phạm tình dục được xác định tùy thuộc vào từng tội
phạm xâm phạm tình dục con người cụ thể. Có trường hợp từ 18 tuổi trở lên, có
trường hợp 16 tuổi trở lên, có trường hợp đủ 14 tuổi trở lên. Tùy theo dấu hiệu pháp
lý đặc trưng của các tội phạm tình dục cụ thể mà BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung
năm 2009) quy định các tội phạm tình dục đó là:
- Tội hiếp dâm (Điều 111)
- Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112)
- Tội cưỡng dâm (Điều 113)
- Tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114)
- Tội giao cấu với trẻ em (Điều 115)
- Tội dâm ô với trẻ em (Điều 116)
- Tội mua dâm người chưa thành niên (Điều 256)
Từ sự phân tích về các đặc điểm chủ yếu của nhóm tội phạm tình dục của
15
con người nêu trên, tham khảo quan điểm của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu đã
công bố, có thể nêu khái niệm các tội phạm tình dục như sau:
Các tội phạm tình dục là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định
trong BLHS, do người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện bằng lỗi
cố ý trực tiếp, xâm phạm quyền được bảo vệ về nhân phẩm, danh dự, tự do tình dục
của con người được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận, bảo vệ.
muốn của họ (đối với tội Hiếp dâm – Điều 111, tội Hiếp dâm trẻ em – Điều 112);
hành vi dùng mọi thủ đoạn người khác lệ thuộc vào mình hoặc người đang ở trong
tình trạng quẫn bách để họ phải miễn cưỡng giao cấu với mình (đối với tội Cưỡng
dâm – Điều 113, tội cưỡng dâm trẻ em - Điều 114); hành vi của người đã thành niên
giao cấu với trẻ em (từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi) có sự thuận tình của các em (đối với
tội Giao cấu với trẻ em - Điều 115); hành vi sờ, mó, hôn hít… bộ phận sinh dục trẻ
em và hành vi bắt trẻ em làm những việc đồi bại đối với mình (đối với tội Dâm ô
đối với trẻ em – Điều 116); hành vi mua dâm người chưa thành niên (đối với tội
Mua dâm người chưa thành niên - Điều 256) [40,tr.102-124].
Hậu quả của tội phạm: Các tội phạm tình dục là các tội có cấu thành hình thức,
tức là chỉ cần người phạm tội thực hiện hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội (giao
cấu, dâm ô) là tội phạm được coi là hoàn thành, có nghĩa không cần người phạm tội
thỏa mãn về mặt sinh lý. Tuy nhiên trong thực tiễn hậu quả của các tội phạm này có thể
gây ra là nghiêm trọng như gây đau đớn về mặt thể xác, tinh thần, gây chết người, gây
thương tích, dẫn đến nạn nhân có thai, tự sát hoặc khủng hoảng về tinh thần hay bắt
gặp ở nạn nhân như sự sợ hãi, mặc cảm, xa lánh mọi người [1, tr.45]. Những hậu quả
đó tùy từng tội được coi là tình tiết tăng nặng định khung hoặc tình tiết tặng TNHS
quy định tại Khoản 1 Điều 48 BLHS.
Mặt chủ quan của tội phạm
Các tội phạm tình dục đều được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp, người
phạm tội nhận thức được hành vi nguy hiểm do mình gây ra là xâm phạm đến
quyền bất khả xâm phạm về tình dục của người khác, song vẫn cố ý thực hiện hành
vi phạm tội của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh lý của bản thân mà không cần
quan tâm đến thái độ của người bị hại.
Động cơ phạm tội của các tội này đều xuất phát từ động cơ cá nhân của bản
thân người phạm tội. Đó là sự ham muốn, sự mong muốn thỏa mãn nhu cầu sinh lý.
Động cơ này xuất phát từ trong bản chất con người của mỗi cá nhân và từ đó thúc
đẩy cá nhân đến hành vi phạm tội.
17