VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG KHẮC THẮNG
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN
ĐIỀU TRA CÁC TỘI PHẠM CỜ BẠC TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số
: 60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. TRẦN ĐÌNH NHÃ
HÀ NỘI, năm 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
trích dẫn nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng. Những kết luận
khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào.
TÊN TÁC GIẢ
Đặng Khắc Thắng
Bảng 2.1:
Đội ngũ Kiểm sát viên hai cấp VKSND thành phố Hải Phòng.
Bảng 2.2:
VKSND yêu cầu CQĐT khởi tố vụ án về tội đánh bạc, tổ chức đánh
bạc hoặc gá bạc.
Bảng 2.3:
VKSND yêu cầu CQĐT thay đổi khởi tố vụ án, bị can từ tội đánh bạc
sang tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc.
Bảng 2.4:
VKSND yêu cầu CQĐT khởi tố bổ sung về tội tổ chức đánh bạc hoặc
gá bạc.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1. BLHS
:Bộ luật hình sự
2. BLTTHS
: Bộ luật tố tụng hình sự
:Viện kiểm sát
11. VKSNDTC
:Viện kiểm sát nhân dân tối cao
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hải Phòng là thành phố cảng, thành phố công nghiệp nằm trong vùng duyên
hải Bắc Bộ, là một trong năm thành phố trực thuộc Trung ương đô thị loại 1 cấp
quốc gia, với dân số gần 2 triệu người, trong đó dân cư thành thị chiếm 46,1%; dân
cư nông thôn chiếm 53,9%. Hải Phòng có vị trí quan trọng cả về kinh tế, xã hội, an
ninh, quốc phòng của vùng Bắc Bộ và cả nước.
Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước
về cải cách tư pháp, ngành Kiểm sát nói chung và Viện kiểm sát nhân dân thành
phố Hải Phòng nói riêng đã thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các Nghị quyết của
Đảng về cải cách tư pháp, phấn đấu hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ: “Viện kiểm sát
nhân dân tập trung làm tốt chức năng công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”. Nghị
quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng
tâm công tác cải cách tư pháp trong thời gian tới đã nêu rõ: Viện kiểm sát các cấp
thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật
trong hoạt động tư pháp. Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố
vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm đảm bảo không bỏ lọt tội phạm và người
phạm tội, không làm oan người vô tội [12]. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày
24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, trong đó có nội dung:
các cơ quan tiến hành tố tụng ở một chừng mực nào đó đã chưa phân biệt, tìm ra
ranh giới giữa tội “đánh bạc” và tội “tổ chức đánh bạc, gá bạc” để từ đó có các biện
pháp điều tra thu thập chứng cứ phù hợp, chứng minh làm rõ hành vi phạm tội và
người thực hiện hành vi phạm tội, áp dụng pháp luật chính xác, công minh. Trong
điều tra các tội về cờ bạc còn bộc lộ nhiều thiếu sót, tồn tại và cả vi phạm tố tụng
dẫn đến nhiều vụ án bị kéo dài thời hạn điều tra, đã khởi tố không đúng tội danh, bỏ
lọt tội phạm và người thực hiện hành vi tội phạm, việc trả hổ sơ giữa các cơ quan
tiến hành tố tụng chiếm tỉ lệ cao. Vì vậy, việc nghiên cứu để hiểu sâu sắc, làm rõ thực
trạng, từ đó đề ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thực hành
quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội phạm về cờ bạc trên địa bàn thành phố
2
Hải Phòng trong thời gian tới là một yêu cầu có tính cấp bách cả về mặt lý luận và
thực tiễn.
Vì những lý do như trên, tác giả đã chọn đề tài: “Thực hành quyền công tố
trong giai đoạn điều tra các tội phạm cờ bạc từ thực tiễn thành phố Hải
Phòng” làm luận văn Thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội phạm cờ bạc từ
thực tiễn thành phố Hải Phòng là một đề tài mang tính chuyên sâu bao quát một giai
đoạn tố tụng về một nhóm tội danh. Dạng đề tài này đã có nhiều tác giả nghiên cứu
và các công trình khoa học liên quan đã được công bố, như: Luận án tiến sĩ Luật
học “Quyền công tố ở Việt Nam” của tác giả Lê Thị Tuyết Hoa (năm 2002); Luận
văn Thạc sĩ Luật học “Một số hoạt động kiểm sát điều tra án kinh tế tại thành phố
Hồ Chí Minh” của tác giả Vũ Thị Xuân Nhị (năm 1998); Luận văn thạc sĩ của tác
giả Cao Thị Oanh-Đại học Luật Hà Nội: “Đấu tranh phòng chống tội cờ bạc trên
địa bàn thành phố Hà Nội”; Luận văn Thạc sĩ Luật học“Tội đánh bạc, tổ chức đánh
bạc trên địa bàn thành phố Hải Phòng: Tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng
theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
- Nghiên cứu thực trạng công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn
điều tra tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc theo pháp luật tố tụng hình sự
Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hải Phòng từ năm 2012 đến năm 2016.
- Khảo sát thực tiễn việc thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối
với các hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị
khởi tố, hoạt động khởi tố, điều tra của Viện kiểm sát hai cấp thành phố Hải Phòng
từ đó khái quát được những ưu điểm và hạn chế, tồn tại, tìm ra nguyên nhân để đưa
ra giải pháp, đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả công tác thực
hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá
bạc trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tương nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận, pháp luật, thực trạng thực hành quyền công
tố trong giai đoạn điều tra đối với các tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc theo
4
pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn hoạt động của Viện kiểm sát hai cấp
thành phố Hải Phòng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: trong khuôn khổ cho phép, luận văn nghiên cứu lý luận
và thực tiễn công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với các
tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc ở thành phố Hải Phòng thể hiện trong
giới hạn về không gian, thời gian và giai đoạn tố tụng.
Giới hạn về không gian và thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn công tác
thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với tội đánh bạc, tổ chức đánh
bạc hoặc gá bạc ở địa bàn thành phố Hải Phòng từ năm 2012 đến năm 2016.
Giới hạn về giai đoạn tố tụng: Luận văn nghiên cứu công tác thực hành quyền
vệ trật tự trị an xã hội, quyền lợi ích hợp pháp của công dân, tăng cường hiệu quả
công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn
điều tra các tội phạm cờ bạc.
Chương 2: Thực trạng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các
tội phạm cờ bạc tại thành phố Hải Phòng.
Chương 3: Các giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố
trong giai đoạn điều tra các tội phạm cờ bạc trong thời gian tới.
6
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC TỘI PHẠM CỜ BẠC
1.1. Các tội phạm cờ bạc theo pháp luật hình sự Việt Nam
1.1.1. Khái niệm tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc
Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999, tại
Khoản 1 Điều 8 định nghĩa về tội phạm như sau: “ Tội phạm là hành vi nguy hiểm
cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm
hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập chủ quyền, thống
nhất, toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn
hóa, quốc phòng, an ninh trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ
chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các
quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật
tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.”
Đáng chú ý là: So với quy định tại Điều 8 BLHS năm 1999, BLHS năm 2015
đánh bạc được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng
tiền hay hiện vật mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc
được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với
quy định trong giấy phép được cấp [29, tr.435].
BLHS số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
12/2017/QH14 (sau đây gọi là BLHS năm 2015), tại Điều 321 quy định về tội đánh
bạc về cơ bản vẫn giữ nguyên cấu thành như quy định tại Điều 248 BLHS năm
1999. Tuy nhiên đã sửa đổi, bổ sung theo hướng nâng số tiền, hiện vật dùng đánh
bạc trị giá từ hai triệu đồng lên năm triệu đồng; bổ sung trường hợp người nào đánh
bạc dưới năm triệu đồng nhưng đã bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc,
tổ chức đánh bạc, gá bạc thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc; bổ sung
thêm tình tiết định khung tăng nặng tại điểm c, Khoản 2, đó là: “Sử dụng mạng
internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội;”.
Về tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, tại Điều 249 BLHS năm 1999 của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định như sau:
8
“1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép với quy mô lớn hoặc
đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này và Điều 248 của Bộ luật
này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi
phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến ba trăm triệu đồng hoặc bị phạt tù từ
một năm đến năm năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai ba
năm đến mười năm:
a, Có tính chất chuyên nghiệp;
b, Thu lợi bất chính lớn, rất lớn hoặc đặc biệt lớn;
c, Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm
phạm pháp luật nghiêm trọng đều là tội phạm. Pháp luật nước ta nghiêm cấm hoạt
động đánh bạc, tổ chức đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào và coi đây là
hành vi xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá
bạc là một tệ nạn xã hội, đây là nguyên nhân dẫn đến nhiều hành vi vi phạm và tội
phạm khác trong xã hội gây mất trật tự trị an trong xã hội, ảnh hưởng rất nhiều tới
đời sống của nhân dân.
Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc là những
biểu hiện của nó ra bên ngoài thế giới khách quan, song do đặc điểm cấu thành tội
phạm của loại tội này nên nhà làm luật quy định hai dấu hiệu trong mặt khách quan
của nó là: Hành vi khách quan (Đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc) và điều kiện
(yếu tố cấu thành tội danh) để xử lý hình sự đối với người thực hiện hành vi đánh
bạc, tổ chức đánh bạc.
Về tội đánh bạc: Đánh bạc là nhiều người (ít nhất là từ hai người trở lên)
cùng tham gia thực hiện hành vi đánh bạc, dưới các hình thức như: xóc đĩa, tổ tôm,
tú lơ khơ, tam cúc, ba cây, bốn súc sắc, đỏ đen, cờ thế, chọi gà, đánh bạc bằng máy,
trò chơi điện tử, bóng tay, bi a hoặc các hình thức khác; tham gia cá cược trong các
môn thể thao giải trí như đua ngựa, bóng đá và mọi hình thức cá cược ăn tiền khác,
mua bảng đề, ô số đề [57, tr.484] với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật.
Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của
Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì “ Đánh bạc trái phép” là hành vi
10
đánh bạc được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng
tiền hay hiện vật mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc
được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với
quy định trong giấy phép được cấp.
Người thực hiện hành vi đánh bạc chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội
Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và 249
của Bộ luật hình sự thì “quy mô lớn” là một trong các trường hợp sau đây:
- Tổ chức đánh bạc trong cùng một lúc cho từ mười người đánh bạc trở lên
hoặc cho từ hai chiếu bạc trở lên mà số tiền dùng đánh bạc có giá trị từ hai triệu
đồng đến dưới 50 triệu đồng.
- Có nơi tổ chức cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; có lắp đặt trang
thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc; khi đánh bạc có phân công người canh gác,
người phục vụ, có sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện như ô tô, xe
máy, xe đạp, điện thoại… để trợ giúp cho việc đánh bạc;
- Tổng số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trong cùng một lần có giá trị từ
20 triệu đồng trở lên.
Người tổ chức đánh bạc thuộc trường hợp chưa đến mức “quy mô lớn” như
hướng dẫn trên đây, nếu tổng số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ 2 triệu
đồng đến dưới 50 triệu đồng thì tuy họ không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tổ
chức đánh bạc nhưng họ phải chịu trách nhiệm hình sự về đồng phạm tội đánh bạc.
BLHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung quy định cụ thể như sau:
Tại điểm a khoản 1 Điều 322 quy định: “Tổ chức cho 10 người đánh bạc trở
lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000
đồng trở lên hoặc tổ chức 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền,
hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;”.
Điểm b khoản 1 Điều 322 quy định: “Sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu
hoặc quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà
tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc cho 02
chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá
5.000.000 đồng trở lên;”.
12
13
gá bạc, giúp cho công tác thực hành quyền công tố, xử lý tội phạm đánh bạc, tổ
chức đánh bạc hoặc gá bạc được chính xác, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
1.2. Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn
điều tra các tội phạm cờ bạc
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của thực hành quyền công tố trong giai đoạn
điều tra
Khi có hành vi phạm tội xảy ra, việc giải quyết vụ án do các cơ quan tiến
hành tố tụng (CQĐT, VKS và các cơ quan được giao một số nhiệm vụ điều tra)
thực hiện nhằm chứng minh có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện
hành vi phạm tội, tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, áp dụng trách nhiệm
hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội. Các bước, thủ tục trong quá trình
giải quyết vụ án hình sự đó được gọi là thủ tục tố tụng hình sự.
Tố tụng hình sự là quá trình giải quyết vụ án hình sự trong đó các cơ quan
tiến hành tố tụng hình sự, người tiến hành tố tụng hình sự, người tham gia tố tụng
hình sự, các cơ quan Nhà nước khác, tổ chức xã hội và cá nhân tiến hành các hoạt
động theo đúng trình tự do pháp luật quy định, nhằm phát hiện chính xác, nhanh
chóng và xử công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và
không làm oan người vô tội [23, tr.8].
Hoạt động chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, giải
quyết vụ án hình sự là một quá trình liên tục gồm nhiều thủ tục, hoạt động có quan
hệ chặt chẽ với nhau. Dựa vào tính chất, trình tự, thủ tục cũng như chủ thể của hoạt
động, mà quá trình giải quyết vụ án hình sự được chia thành các giai đoạn khác
nhau. Các giai đoạn tố tụng hình sự là những trình tự, thủ tục, các bước của quá
trình giải quyết vụ án hình sự do các chủ thể nhất định tiến hành nhằm thực hiện
những nhiệm vụ cụ thể. Các giai đoạn này có tính kế tiếp nhau, làm cơ sở pháp lý,
tiền đề cho nhau.
BLTTHS năm 2003 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chia quá
thực hiện hành vi phạm tội.
Trong khuôn khổ của Luận văn, tác giả không có điều kiện phân tích, xem
xét tất cả các giai đoạn của Tố tụng hình sự, mà tập trung vào nghiên cứu công tác
thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội phạm về đánh bạc, tổ chức
đánh bạc hoặc gá bạc.
15
1.2.1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với
các tội phạm cờ bạc
Trong các tài liệu pháp lý hiện nay của nước ta còn có nhiều quan điểm khác
nhau về khái niệm thực hành quyền công tố, cũng như phạm vi, nội hàm của thực
hành quyền công tố, mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố với kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp. Có quan điểm cho rằng thực hành
quyền công tố gắn với việc thực hiện nhiệm vụ của Công tố viên, được thực hiện
trong mọi giai đoạn tố tụng hình sự bao gồm cả điều tra, truy tố, xét xử và thi hành
án hình sự [24, tr.100]. Quan điểm khác lại cho rằng: lập cáo trạng và luận tội trước
phiên tòa sơ thẩm hình sự là nhiệm vụ chủ yếu của Công tố viên và coi đó là
THQCT, thậm chí có ý kiến cho rằng thực hành quyền công tố chỉ là sự buộc tội
trước phiên tòa sơ thẩm [28, tr.28-38].
Chúng tôi cho rằng QCT là quyền nhân danh, quyền lực công thực hiện việc
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Đây là quyền lực Nhà nước, gắn
liền với bản chất từng kiểu Nhà nước và chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự [34,
tr.54].
Điều 107 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
quy định: Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư
pháp [30, tr. 63 HP 2013]. Thể chế hóa quy định của Hiến pháp năm 2013, Điều 2
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định: Viện kiểm sát nhân dân là
cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng
người phạm tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, bảo đảm việc truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc có
căn cứ và hợp pháp, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá
bạc được phát hiện đều phải được khởi tố, điều tra, xử lý theo pháp luật, không để
lọt người, lọt tội, không làm oan người vô tội. Hoạt động này được thực hiện từ khi
tội phạm xảy ra và trong suốt quá trình điều tra, kết thúc khi việc điều tra kết thúc
hoặc đình chỉ vụ án.
1.2.1.2 Đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với
các tội phạm cờ bạc
Như vậy, chúng ta thấy rằng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều
tra đối với các tội phạm cờ bạc có những đặc điểm như sau:
17
Thứ nhất, thực hành quyền công tố là chức năng hiến định của VKSND trong
việc thực thi quyền lực Nhà nước [27, tr.14]. Thực hiện quyền lực này VKSND truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc.
Thứ hai, VKSND là chủ thể duy nhất được giao nhiệm vụ truy tố đối với
người phạm tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên VKS phải được trao
đầy đủ quyền năng và thực hiện triệt để quyền năng của mình để bảo đảm không bỏ
lọt tội phạm và người phạm tội.
Thứ ba, đối tượng của thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra là tội
phạm đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc; phạm vi của thực hành quyền công
tố trong giai đoạn này bắt đầu từ khi tội phạm xảy ra và trong suốt quá trình điều
tra, kết thúc khi việc điều tra kết thúc hoặc đình chỉ vụ án.
Thứ tư, hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với
tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc mang tính công khai và thực hiện theo
trình tự, thủ tục tố tụng do pháp luật quy định. Đặc điểm này nhằm bảo đảm cho
hoạt động của VKS được thực hiện một cách độc lập và chỉ tuân theo pháp luật,
CQĐT, ĐTV, cán bộ điều tra khi được phân công điều tra vụ án. Hoạt động kiểm
sát điều tra hướng tới sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động điều tra, nhằm cho các
hoạt động điều tra tuân thủ đúng các quy định của BLTTHS, bảo đảm việc điều tra
khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác, nếu phát hiện có hành vi vi phạm, VKS
có quyền kiến nghị yêu cầu các chủ thể vi phạm chấm dứt vi phạm, khôi phục lại
trật tự pháp luật trong hoạt động điều tra vụ án hình sự.
1.2.2. Chủ thể thực hiện quyền công tố và mối quan hệ giữa thực hành
quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra các
tội phạm cờ bạc
a) Chủ thể thực hiện quyền công tố
Theo Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức VKSND năm 2014, BLTTHS năm
2003, thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra nói chung và đối với các tội
phạm đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nói riêng, chủ thể thực hiện đó là
VKSND. VKS thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra nhằm bảo đảm mọi
hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan
19
người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội; Không để người nào bị khởi
tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật
[31, k2Đ3 LTCVKS 2014]
b) Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong giai đoạn điều tra các tội phạm cờ bạc
Trong giai đoạn điều tra vụ án đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, VKS
có hai nhiệm vụ, đó là thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong quá trình điều tra (kiểm sát điều tra).
Đến BLTTHS năm 2015, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong giai đoạn điều tra
được quy định cụ thể, rõ ràng và có phân biệt bằng hai điều luật là Điều 165 và Điều 166.