VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ MINH LOAN
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN
ĐIỀU TRA CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI
Chuyên ngành: Luật
n s v t t n
Mã s : 60.38.01.04
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, 2017
n s
Công trình được thực hiện tại: Học viện Khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Văn Huyên
Phản biện 1: TS. Nguyễn Văn Hiển
Phản biện 2: TS. Phạm Mạnh Hùng
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
học tại: Học viện Khoa học xã hội vào lúc:
công trình nghiên cứu đã phân tích và làm sáng tỏ được những vấn đề
liên quan.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Về mục đích nghiên cứu: Luận văn phân tích, làm rõ những vấn
đề lý luận về THQCT trong giai đoạn điều tra các tội phạm ma túy.
Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp bảo đảm, nâng cao chất
lượng công tác này tại VKSND huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.
Về nhiệm vụ nghiên cứu: Phân tích những vấn đề lý luận cơ
bản về quyền công tố, THQCT trong giai đoạn điều tra của VKSND.
1
Đặc điểm và các giai đoạn THQCT trong giai đoạn điều tra các tội
phạm ma túy.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý
luận và thực tiễn của việc THQCT trong giai đoạn điều tra các tội
phạm ma túy trên địa bàn huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu việc THQCT trong
giai đoạn điều tra đối với các tội phạm ma túy xảy ra trên địa bàn
huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái trong 05 năm, từ ngày 01/12/ 2011
đến ngày 30/11/2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở
lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin; Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà
nước và pháp luật; các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước
đối với chức năng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra.
Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng những phương pháp nghiên
cứu của Triết học Mác – Lênin và các khoa học chuyên ngành khác,
trong đó đặc biệt chú trọng đến phương pháp phân tích, tổng hợp,
Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy
cứu TNHS đối với người phạm tội trên cơ sở phát hiện tội phạm, bảo
đảm thu thập đầy đủ chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội
từ đó quyết định việc truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ việc buộc
tội đó trước Tòa án.
Đối tượng của quyền công tố: là tội phạm và người phạm tội.
Nội dung của quyền công tố: là sự buộc tội đối với người đã thực
hiện hành vi tội phạm.
Phạm vi quyền công tố:
Về phạm vi không gian: chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự.
Về phạm vi thời gian: quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm được
thực hiện và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Thực hành quyền công tố trong TTHS là hoạt động của VKS
để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, đưa
người phạm tội ra xét xử trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó; đảm
bảo mọi hành vi phạm tội đều được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều
tra, truy tố, xét xử đúng người đúng tội, đúng pháp luật; không để lọt
tội phạm và không làm oan người vô tội.
Điều tra là một giai đoạn TTHS không thể thiếu, trong đó cơ
quan có thẩm quyền áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để
xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội làm cơ sở cho
việc giải quyết vụ án. Nhiệm vụ ở giai đoạn điều tra là thu thập
chứng cứ, chứng minh tội phạm và người phạm tội, làm cơ sở cho
việc truy tố và xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; xác định
3
thiệt hại do tội phạm gây ra;; ... Do giai đoạn điều tra có vị trí, vai trò
quan trọng như vậy nên việc xác định đúng phạm vi THQCT của
VKS trong giai đoạn này là rất cần thiết.
thực hiện hành vi phạm tội về ma túy. Hoạt động này chỉ do VKS tiến
4
hành bởi VKS là cơ quan duy nhất đại diện Nhà nước thực hiện chức
năng THQCT.
- THQCT được tiến hành theo một trình tự thủ tục chặt chẽ do
pháp luật TTHS quy định.
Mục đích của hoạt động THQCT là nhằm truy cứu TNHS đối với
người thực hiện hành vi phạm tội, buộc họ phải gánh chịu những hậu
quả bất lợi do chế tài pháp luật hình sự đặt ra. Do vậy quá trình này phải
đảm bảo tính chặt chẽ, có căn cứ và mang tính công khai.
- Hoạt động THQCT trong giai đoạn điều tra các tội phạm về ma
túy của VKS chủ yếu được tiến hành do truy xét, thu giữ vật chứng, bắt
quả tang khi thực hiện hành vi phạm tội… bởi tính chất đặc thù của loại
tội phạm này nên việc đề ra yêu cầu điều tra cần được chú trọng hơn cả.
Đối với mỗi vụ án về ma túy cần xác định có hay không có hành
vi phạm tội; Có tính đồng phạm hay không, phạm tội có tổ chức hay
theo đường dây kết nối như thế nào; Hình thức phạm tội ra sao; Xác
định tội danh phạm phải và theo điều khoản nào của BLHS, năng lực
chịu TNHS ra sao, nhân thân người phạm tội như thế nào?
- THQCT đảm bảo quan hệ phối hợp và chế ước giữa VKS và
CQĐT.
Mối quan hệ chế ước của VKS với CQĐT thể hiện qua việc: yêu
cầu CQĐT tiến hành các hoạt động điều tra; yêu cầu thủ trưởng CQĐT
thay đổi; yêu cầu truy nã... Khi THQCT trong giai đoạn điều tra, mối
quan hệ giữa VKS và CQĐT vừa phối hợp vừa chế ước tạo ra sự liên hệ
ràng buộc nhất định nhưng không phải mâu thuẫn, loại trừ nhau. VKS
không làm thay, cũng không hạn chế hoặc cản trở việc điều tra của
CQĐT, cơ quan này tạo điều kiện để cơ quan kia thực hiện có hiệu quả
chứng cứ về hành vi phạm tội của bị can hay mở rộng điều tra vụ án.
Yêu cầu điều tra cũng có thể được đề ra ngay trong quá trình trực tiếp
kiểm sát khám nghiệm hiện trường, xét hỏi, lấy lời khai người làm
chứng. Khi thấy có vấn đề cần điều tra thêm, KSV phải kịp thời bổ sung
yêu cầu điều tra để đảm bảo tính chính xác, kịp thời, không bỏ lọt tội
phạm trong quá trình điều tra.
Thứ hai, yêu cầu Thủ trưởng CQĐT thay đổi Điều tra viên: Khi
phát hiện ĐTV thuộc một trong các trường hợp bị thay đổi hoặc phải từ
chối tiến hành tố tụng, KSV có quyền đề nghị Thủ trưởng CQĐT xem
xét thay đổi ĐTV hoặc đề nghị Viện trưởng VKS cấp mình xem xét để
yêu cầu Thủ trưởng CQĐT thay đổi ĐTV.
Thứ ba, quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn
chặn:
Trong phạm vi thẩm quyền tố tụng của mình, trong giai đoạn điều
tra VKS có thể áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn để kịp
6
thời ngăn chặn tội phạm, hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người đó sẽ gây
khó khăn cho việc điều tra, tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Việc đưa
ra một bất kỳ một quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn nào đều cần
được cân nhắc kỹ lưỡng, đảm bảo tính kịp thời, đúng đắn và đúng với
quy định của pháp luật. Đối với các biện pháp ngăn chặn trực tiếp làm
hạn chế quyền tự do của công dân như bắt khẩn cấp, bắt tạm giam, gia
hạn tạm giữ, gia hạn tạm giam phải được VKS phê chuẩn.
Căn cứ vào yêu cầu giải quyết vụ án, thái độ chấp hành của người
bị áp dụng biện pháp ngăn chặn nếu xét thấy không cần thiết phải áp
dụng nữa thì cơ quan có thẩm quyền có thể hủy bỏ, thay thế bằng biện
pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khắc hoặc nghiêm khắc hơn. Đối với
những vụ án bị đình chỉ thì mọi biện pháp ngăn chặn đương nhiên
hoạt động THQCT trong giai đoạn điều tra mới kết thúc, chấm dứt tố
tụng đối với vụ án.
Đình chỉ vụ án là quyết định chấm dứt việc tiến hành tố tụng đối
với vụ án hoặc với từng bị can. Khi thấy có căn cứ để đình chỉ hoặc đã
hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được tội phạm thì CQĐT ra
quyết định đình chỉ vụ án. Nếu thấy quyết định đình chỉ không có căn cứ
thì VKS hủy bỏ quyết định đình chỉ và yêu cầu CQĐT phục hồi điều tra
hoặc ra quyết định truy tố.
Chương 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THQCT
TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY CỦA
VKSND HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI
2.1. Quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố
trong giai đoạn điều tra
2.1.1. Quyền k ởi t v án, k ởi t bị can; yêu cầu Cơ quan
điều tra k ởi t oặc t ay đổi, bổ sun quyết địn k ởi t v án,
k ởi t bị can (Khoản 1 Điều 112 BLTTHS)
VKS có quyền khởi tố VAHS trong hai trường hợp: Một là, sau
khi ra Quyết định hủy bỏ quyết định không khởi tố VAHS; Hai là,
nếu thấy yêu cầu khởi tố VAHS của Hội đồng xét xử VAHS là có
căn cứ.
Về căn cứ để KTVAHS, Điều 100 BLTTHS quy định khả năng
duy nhất cho phép KTVAHS là khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm.
Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định KTVAHS, VKS phải gửi
quyết định đó đến CQĐT để tiến hành điều tra.
Theo quy định của BTTTHS, khi CQĐT ra quyết định KTBC thì
quyết định đó có hiệu lực ngay. Tuy nhiên, hiệu lực của quyết định
KTBC của CQĐT có tiếp tục hay không lại phụ thuộc vào việc VKS có
phê chuẩn quyết định KTBC hay không (khoản 4 Điều 126 BLTTHS)
nhiều tình tiết phức tạp khó thống nhất về tính chất vụ án hoặc để củng
cố tài liệu chứng cứ phục vụ cho việc truy tố thì VKS có thể trực tiếp hỏi
cung bị can theo quy định tại các Điều 131 và Điều 132 BLTTHS.
KSV tiến hành đối chất trong trường hợp có yêu cầu của CQĐT
hoặc thấy việc đối chất của ĐTV chưa làm rõ được mâu thuẫn. Trong
quá trình điều tra, nếu thấy cần thực nghiệm điều tra để kiểm tra mâu
thuẫn giữa lời khai của bị can, của những người tham gia tố tụng khác
9
với thực tế khách quan thì VKS yêu cầu để CQĐT tiến hành thực
nghiệm điều tra.
2.1.3. Quyền yêu cầu T ủ trưởn CQĐT t ay đổi Điều tra
viên
ĐTV có thể bị thay đổi hoặc phải từ chối tiến hành tố tụng khi
thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Điều 44 BLTTHS
Ngoài ra, ĐTV còn bị thay đổi nếu có căn cứ cho rằng họ có thể không
vô tư trong khi làm nhiệm vụ như có căn cứ cho rằng họ đã bị mua
chuộc, bị đe dọa hoặc có những mối quan hệ ràng buộc khác với những
người tham gia tố tụng.
2.1.4. Quyền quyết địn áp d n , t ay đổi oặc ủy bỏ biện
p áp n ăn c ặn
- Tạm giam: Theo điều 88 BLTTHS năm 2003, VKS có quyền ra
lệnh tạm giam trong 02 trường hợp: Người đó phạm tội rất nghiêm trọng
hoặc đặc biệt nghiêm trọng; Người đó phạm tội nghiêm trọng hoặc tội ít
nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ
để cho rằng người đó sẽ trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố hoặc có
thể tiếp tục phạm tội. Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được lệnh
tạm giam và đề nghị xét phê chuẩn, VKS phải xem xét hồ sơ, tài liệu
liên quan đến việc tạm giam. Nếu thấy có đủ căn cứ, cần phải tạm giam
không bỏ trốn.
Căn cứ vào yêu cầu giải quyết vụ án, thái độ chấp hành của người
bị áp dụng mà cơ quan ra quyết định áp dụng có thể thay thế bằng một
biện pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khắc hoặc nghiêm khắc hơn. Đối
với những biện pháp ngăn chặn do VKS phê chuẩn như lệnh tạm giam,
lệnh bắt bị can để tam giam thì việc hủy bỏ hay thay thế biện pháp khác
phải do VKS quyết định (khoản 2 Điều 94 BLTTHS). Hủy bỏ biện pháp
ngăn chặn là việc quyết định không tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn
chặn đối với người đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn; và xảy ra
trong hai trường hợp: 1) Vụ án bị đình chỉ kéo theo các biện pháp ngăn
chặn đang được áp dụng đương nhiên được hủy bỏ; 2) Khi không còn
cần thiết phải áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với họ nữa.
2.1.5. Quyền ủy bỏ các quyết địn k ôn có căn cứ v trái
p áp luật của CQĐT; Yêu cầu CQĐT truy nã bị can.
Trong nhiều trường hợp, VKS thấy các quyết định của CQĐT là
không có căn cứ như: có dấu hiệu tội phạm nhưng CQĐT lại không ra
quyết định không khởi tố vụ án; hoặc quyết định khởi tố bị can không
đúng với người thực hiện hành vi phạm tội, không đúng với tội danh;
các quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn không phù hợp, không đảm
bảo cho quá trình điều tra hoặc lệnh bắt, tạm giam không được thực hiện
11
theo đúng quy định của pháp luật thì VKS có quyền ra quyết định hủy
bỏ các quyết định không có căn cứ đó.
Điều 161 BLTTHS quy định CQĐT phải tiến hành truy nã bị can:
khi bị can bỏ trốn hoặc khi không biết bị can đang ở đâu. VKS sẽ yêu
cầu CQĐT ra lệnh truy nã bị can nếu thuộc một trong hai trường này.
2.1.6. Quyền đ n c ỉ; tạm đ n c ỉ v án.
chạy dọc theo chiều dài của huyện, là cửa ngõ đi vào thị xã Nghĩa Lộ,
huyện Trạm Tấu, Mù Cang Chải, huyện Phù Yên, Bắc Yên tỉnh Sơn
La và tỉnh Lai Châu; cộng thêm đường quốc lộ 37 chạy qua 4 xã tạo
điều kiện thuận lợi cho giao lưu phát triển kinh tế giữa các huyện
trong tỉnh và với các tỉnh Sơn La, Phú Thọ, Lai Châu. Ngoài ra tuyến
đường cao tốc Hà Nội – Lào Cai đi qua địa bàn tỉnh giúp rút ngắn
khoảng cách giữa các tỉnh miền núi phía Bắc cũng như với Thành
phố Hà Nội. Do đó huyện Văn Chấn chịu ảnh hưởng ít nhiều từ các
khu vực xung quanh, trong đó có vấn đề tội phạm nhất là đối với tội
phạm về mà túy, khi mà địa bàn huyện tiếp giáp với huyện Trạm
Tấu, Mù Cang Chải và gần các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Sơn La. Điện
Biên đều là những nơi có địa bàn nóng về tội phạm ma túy.
Quy mô tội phạm về ma túy trên địa bàn huyện tuy không lớn
nhưng xảy ra phổ biến và thường xuyên, có diễn biến ngày càng có
phần phức tạp và tinh vi, nguy hiểm. Có thể rút ra một số đặc điểm
hình sự của tội phạm này trên địa bàn như sau.
Thứ nhất, đặc điểm về nhân thân đối tượng phạm tội: Đối
tượng phạm tội ma túy trên địa bàn huyện Văn Chấn diễn ra ở đủ mọi
lứa tuổi, thành phần xã hội khác nhau, theo số liệu thống kê thì chủ
yếu là trong độ tuổi từ 18 đến 30 chiếm tỷ lệ 48,6% (105/216), trong
độ tuổi từ trên 30 đến 70 tuổi chiếm tỷ lệ 50% (108/216); đối tượng
nghiện chất ma túy, lang thang không có nghề nghiệp ổn định chiếm
tỷ lệ 63% (136/216); đối tượng có tiền án, tiền sự chiếm tỷ lệ 45,4%
(98/216); đối tượng là nữ giới chiếm tỷ lệ 11,1% (24/216); đối tượng
phạm tội là đảng viên chiếm tỷ lệ 3,7% (08/216); đối tượng là người
già cũng xảy ra một vài trường hợp.
Thứ hai, nguyên nhân phạm tội: thường do lười lao động, thích
tụ tập ăn chơi đua đòi nên dẫn đến xa ngã vào con đường nghiện
chất ma túy, nhất là đối với những trường hợp phạm tội Mua bán trái
phép chất ma túy thì việc đề nghị phê chuẩn lệnh khám xét của
CQĐT là việc làm cần thiết. Vì vậy VKS đảm bảo khẩn trương
nghiên cứu, xem xét thận trọng yêu cầu của CQĐT để quyết định
việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn. Đối với các trường hợp có thu
giữ, tạm giữ tài sản và vật chứng có liên quan đến vụ án, VKS thực
hiện việc nghiên cứu các lệnh, các biên bản khám xét của CQĐT để
kịp thời phát hiện và yêu cầu sửa chữa các vi phạm pháp luật.
- Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn: Trước khi tiến hành ra
lệnh bắt, phê chuẩn hoặc không phê chuẩn VKS luôn chủ động trong
công tác, phối hợp chặt chẽ với CQĐT để nghiên cứu kỹ hồ sơ, trong
trường hợp thật cần thiết trực tiếp gặp hỏi đối tượng để tự xác minh,
củng cố chứng cứ.
14
- Không có trường hợp nào VKS phải yêu cầu thay đổi ĐTV.
Hạn chế thấp nhất việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung; tạm đình chỉ,
đình chỉ không có lý do chính đáng.
Để đạt được những kết quả trên phải kể đến:
Thứ nhất, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến công tác tư
pháp, trong đó đáng chú ý là Nghị quyết 08- NQ/TW ngày
02/01/2002, Nghị quyết 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính
trị. Thực hiện chủ trương cải cách tư pháp của Đảng, Nhà nước ban
hành nhiều văn bản hướng dẫn dưới luật giúp cho việc áp dụng pháp
luật dễ dàng được thực hiện hơn, đặc biệt là BLTTHS năm 2015 đã
được dự thảo và sắp tới sẽ có hiệu lực tiếp tục khẳng định vị trí vai
trò của VKSND trong hệ thống các cơ quan tư pháp. Mặt khác
VKSND Tối cao đã ban hành các Thông tư liên ngành hướng dẫn thi
hành BLHS và BLTTHS (như Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLTVKSTC-BCA-BQP ngày 07/9/2005 về quan hệ phối hợp giữa CQĐT
còn chưa kịp thời, thiếu chủ động, tích cực, chưa tuân thủ đúng quy
định tại Điều 103 BLTTHS và Thông tư liên tịch số 06.
Chưa thực hiện tốt hoạt động THQCT ngay từ đầu, không chủ
động bám án, nắm vững tiến độ điều tra vụ án nên chưa thực hiện tốt
công tác giám sát hoạt động điều tra, chỉ đạo điều tra, định hướng
điều tra. Khi THQCT trong nhiều vụ án, KSV còn thụ động.
Khi phát hiện vi phạm, thiếu sót của CQĐT thì việc kiến nghị,
kháng nghị, yêu cầu của VKS đối với CQĐT về khắc phục những
thiếu sót, vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra còn hạn chế, nể
nang.
Việc áp dụng, thay thế hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn còn
bộc lộ những thiếu sót ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, tiến độ
giải quyết vụ án như để bị can tiếp tục phạm tội mới trong thời gian
được tại ngoại.
N ữn k ó k ăn vướn mắc:
Thứ nhất, về việc định tội danh: Tại mục 3.2 phần I của Thông
tư liên tich số 17 quy định “Trường hợp một người thực hiện nhiều
hành vi phạm tội quy định tại các điều luật khác nhau, từ điều 192
đến 194 BLHS mà các hành vi đó có liên quan chặt chẽ với nhau
(hành vi này là điều kiện thực hiện hoặc là hệ quả tất yếu của hành vi
kia) nếu các tội phạm đó bằng nhau thì người phạm tội bị truy cứu
TNHSvề hành vi tội phạm được thực hiện đầu tiên”. Việc quy định
nêu trên là không phù hợp, lẽ ra phải xử lý về hành vi cuối hoặc hành
vi đang thực hiện mới chính xác.
Quy định hành vi Mua bán trái phép chất ma túy là hành vi
mua, xin, tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác tại
16
Mục 3.3 phần II Thông tư liên tịch số 17 gây nhiều khó khăn. Có rất
TBXH – Bộ Y tế - Bộ Công an.
Thứ hai, về thời hạn trả kết quả giám định: Có nhiều
trường hợp không thể trả kết quả giám định đúng thời hạn do
17
nguyên nhân khách quan: số lượng mẫu giám định lớn, số vụ
việc cần giám định nhiều,… Do vậy thời hạn trả kết quả giám
định thường quá thời hạn 09 ngày tạm giữ, gia hạn tạm giữ.
Thứ ba, về việc ngành Tòa án nhân dân triển khai thực hiện
Công văn số 234/TANDTC-HS: “Bắt buộc phải giám định hàm
lượng của các chất thu giữ được nghi là ma túy để lấy đó làm căn cứ
kết tội các bị cáo”.
Thực tiễn giải quyết án ma túy cho thấy trọng lượng ma túy thu
giữ được trong nhiều vụ án là rất ít và đã được giám định loại, trọng
lượng trước đây nay không còn đủ lượng để giám định hàm lượng.
Chưa kể có những vụ Cơ quan giám định không hoàn trả lại mẫu
giám định do đã sử dụng hết mẫu.
Nguyên nhân khách quan:
Một là, hệ thống pháp luật có liên quan đến việc xử lý tội phạm
về ma tuý chưa thống nhất, chồng chéo, thiếu đầy đủ và chưa cụ thể
đã dẫn đến nhiều cách hiểu, đánh giá và áp dụng khác nhau.
Hai là, số lượng KSV tại VKSND huyện Văn Chấn còn thấp
(55%) trong khi 45% số lượng biên chế còn lại của đơn vị đều là cán
bộ trẻ mới vào ngành, chưa đủ thời gian công tác để thi tuyển KSV.
Ba là, trang bị, phương tiện, chế độ tiền lương phục vụ cho
hoạt động THQCT còn thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế.
Chính sách đối với cán bộ, nhất là chính sách tiền lương, phụ cấp còn
nhiều bất hợp lý và nhiều khó khăn, chưa tạo động lực phát huy sở trường
của cán bộ.
ma tuý có tính chất phức tạp, phải đảm bảo cho công tác điều tra các
tội phạm ma tuý có hiệu quả, đúng pháp luật.
Bốn là, quá trình THQCT trong giai đoạn điều tra các vụ án ma
tuý cần khẩn trương thẩm định các tài liệu chứng cứ do CQĐT đã thu
thập để kịp thời đề ra những yêu cầu điều tra, định hướng điều tra,
chú trọng thẩm định kết quả giám định cơ quan chuyên môn nếu phát
hiện có mâu thuẫn hoặc chưa đầy đủ thì phải yêu cầu làm rõ.
Năm là, THQCT đối với án ma tuý phải dựa trên những
chủ trương, chính sách của Đảng và quy định của pháp luật.
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực
hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội phạm về
ma túy trên địa bàn huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.
3.2.1. Giải p áp o n t iện p áp luật tạo điều kiện c o côn
tác T QCT của VKS trên địa b n uyện Văn C ấn, tỉn Yên Bái.
Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật hình sự: Đến nay ngoài Thông
tư liên tịch số 17 ngày 24/12/20107 còn nhiều bất cập thì vẫn chưa có
hướng dẫn một cách toàn diện, cụ thể để thống nhất áp dụng đối với
19
loại tội phạm về ma túy. Thực tiễn áp dụng cho thấy quy định trong
BLHS năm 1999 (sửa đổi) phức tạp rất khó vận dụng trên thực tiễn.
Một số tình tiết tuy đã có hướng dẫn nhưng chưa đầy đủ hoặc không
còn phù hợp cần phải được giải thích một cách cụ thể, đầy đủ như:
Khái niệm về chất ma túy và định lượng chất ma túy mà hai
khái niệm này chỉ được nghi nhận tại Thông tư liên tịch số 17 gây
khó khăn cho các cơ quan chức năng trong việc nghiên cứu, xử lý các
tội phạm về ma túy.
BLHS mới được đưa vào thực tiễn áp dụng sẽ còn gặp phải
thu giữ được các chất nghi là ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc
sản xuất trái phép chất ma túy thì đều phải trưng cầu giám định hàm
lượng chất ma túy, tiền chất. Quy định này không đúng với quy định
của BLHS, mâu thuẫn với các nội dung khác được quy định trong
Thông tư liên tịch số 17. Cụ thể:
- Tại mục I Thông tư liên tịch số 17 quy định:
1.1. “Chất ma túy” là các chất gây nghiện, chất hướng
thần được quy định trong các danh mục chất ma túy do Chính
phủ ban hành. Trong đó, cần phân biệt các trường hợp sau:
a) Đối với các chất ma túy ở thể rắn …
b) Đối với xái thuốc phiện …
- Cũng tại tiểu mục 1.4, mục 1, phần I Thông tư liên tịch số 17
quy định ngay cả trong trường hợp giám định chất ma túy đã thu giữ
không phải là ma túy mà người thực hiện ý thức đó là chất ma túy
vẫn bị truy cứu TNHS về tội phạm ma túy.
Do đó, đối với các “Chất ma túy” là các chất gây nghiện, chất
hướng thần được quy định trong các danh mục chất ma túy do Chính
phủ ban hành thì chỉ giám định xác định trọng lượng chất ma túy để
truy tố, xét xử. Đối với tiết a, b nêu trong tiểu mục 1.1, mục 1, phần I
và trong trường hợp cần phân biệt chất gây nghiện, chất hướng thần
với thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần theo tiểu mục 3.5, mục 3,
phần II Thông tư liên tịch số 17 thì mới bắt buộc giám định xác định
hàm lượng để tính trọng lượng chất ma túy.
Bỏ từ “nhằm” trong quy định “Mua bán trái phép chất ma túy
là một trong các hành vi: Mua chất ma túy nhằm bán trái phép… cho
người khác tại tiểu mục 3.3, mục 3 phần II Thông tư liên tịch số 17
để loại trừ trường hợp định tội danh theo ý thức, lời khai của đối
tượng.
Cần sửa đổi điểm a mục 6.2 phần II Thông tư 17 với nội dung
Cần thực hiện tốt công tác kiểm sát hoạt động điều tra tại hiện
trường đối với loại tội phạm này.
Sau khi vụ án được khởi tố, VKS phải kiểm sát tính có căn cứ
và hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án đó.
Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong quá trình tiến hành tố
tụng phải nắm vững các quy định của BLTTHS, đặc biệt là đối với
biện pháp ngăn chặn là tạm giữ, tạm giam hoặc bắt giữ người trong
trường hợp khẩn cấp đối với vụ án ma túy.
Bên cạnh đó thì việc kiểm sát hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp
22
ngăn chặn cũng rất quan trọng và cần thiết. Đặc biệt là đối với những
vụ án về tội phạm ma túy phạm tội có tổ chức hoặc có nhiều bị can,
khi bắt phải giam cách ly để tránh tạo cơ hội cho họ bàn bạc dẫn đến
phải thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cho tội phạm được
thoát tội và có cơ hội bỏ trốn.
Quá trình THQCT, KSV cần khắc phục ngay tình trạng thụ
động ngồi chờ án, mà phải kịp thời nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ
trong hồ sơ vụ án để tác động với CQĐT định hướng điều tra và giải
quyết; trực tiếp tham gia một số hoạt động tố tụng điều tra chủ.
3.2.2.2. Nâng cao năng lực, trình độ cho đội ngũ cán bộ, KSV.
Một, kiện toàn tổ chức, nâng cao ý thức chính trị, đạo đức của
đôị ngũ cán bộ, Kiểm sát viên.
Hai, tăng cường tập huấn, đào tạo và đào tạo lại chuyên môn
nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, KSV.
3.2.2.3. Tăng cường quan hệ phối hợp giữa VKSND với các cơ
quan bảo vệ pháp luật trong hoạt động đấu tranh phòng, chống tội
phạm.
Do tính chất phức tạp của mối quan hệ giữa CQĐT và VKS,